PDA

View Full Version : Ôn thi TN THPT, ĐH, CĐ môn Ngữ Văn



Thiên Bình
17-08-2009, 05:25 PM
Ôn thi TN THPT, ĐH, CĐ môn Ngữ Văn



Tài liệu này mình viết dựa trên quá trình học và tham khảo, đúc kết từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau nhằm giúp các bạn có một hệ thống kiến thức môn Ngữ Văn, dễ dàng nắm bắt bài học ngay từ bây giờ (tránh tình trạng học dồn, học nhồi vào những kì thi dẫn đến kết quả kém). Đối với nhiều bạn đây là môn “nặng kí” và ngán ngẩm nhất vì đòi hỏi quá trình học tập và luyện lâu dài, cộng thêm một chút năng khiếu mới có thể đạt điểm cao. Theo kinh nghiệm cá nhân mình, quá trình tiếp thu kiến thức của một giờ học Ngữ Văn đòi hỏi những bước sau:

- Bạn cần đọc kĩ sách giáo khoa (đối với những bài lí luận văn học), cố gắng nắm bố cục và các ý chính, học thuộc dẫn chứng cần thiết (đối với giảng văn).

- Nghiên cứu kĩ hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa và hình dung câu trả lời trong đầu (bạn có thể sử dụng các loại sách hướng dẫn nếu “bí”) sau đó diễn đạt ra giấy. Khâu diễn đạt rất cần thiết vì nó giúp bạn rèn luyện kĩ năng diễn đạt ý. (Khi viết ra bạn sẽ thấy nó hay, dở hay chưa đúng ở chỗ nào về ngữ pháp, dấu câu… Giống như ngoại ngữ vậy, bạn phải đọc từ đó ra thành tiếng mới biết mình phát âm đúng hay sai, không nên chỉ “tưởng tượng” ra cách đọc)

- Sách bài tập: hầu hết mọi người để không để ý đến quyển sách này, nếu bạn nghiên cứu kĩ thì nó sẽ là một công cụ lợi hại để học Ngữ Văn đấy! Những bài tập trong này có tính hệ thống hóa và đào sâu kiến thức. Tính chính xác của nó cũng cao hơn rất nhiều so với những tài liệu tham khảo khác.

- Thao khảo các tư liệu khác qua sách báo, Internet,… (nếu có nhiều thời gian).

Nội dung của tài liệu này sẽ bám sát Cấu trúc đề thi TN, ĐH, CĐ của BGD&ĐT. Trước hết mình sẽ tóm lược chương trình Ngữ Văn 12. Xin lưu ý rằng đây không phải là đề cương luyện thi mà chỉ là những gợi ý về trọng tâm ôn tập. Những bài văn, đoạn văn, tư liệu tham khảo, đề kiểm tra bạn có thể sử dụng vì mục đích cá nhân hoặc in ấn, không sử dụng vì mục đích thu lợi nhuận. Tính chính xác của những thông tin trong tư liệu này sẽ do tác giả chịu trách nhiệm.

Tác giả rất mong nhận được sự ủng hộ, đóng góp của mọi người để tư liệu này hoàn thiện và chính xác hơn.

Tư liệu tham khảo mình thường sử dụng để tổng hợp nên tài liệu này:

- SGK, SGV, SBT Ngữ Văn 12 (hai tập) (Cơ Bản & Nâng Cao), NXB GD.

- Luyện tập thi TN THPT Ngữ Văn, Nguyễn Xuân Lạc, NXB GD.

- Ôn luyện kiến thức theo cấu trúc đề thi năm 2009 Ngữ Văn, NXB GD.

Các tư liệu khác sẽ được ghi chú trong tài liệu này nếu có trích dẫn.

Thiên Bình
17-08-2009, 05:29 PM
KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM

TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX

(Chương trình Cơ Bản)

@ Bài này rất dài nhưng là cơ sở để tiếp cận những tác phẩm khác trong SGK. Nếu bạn nắm được tác phẩm mình đang học nằm ở giai đoạn nào, đặc điểm của văn học giai đoạn ấy thì có thể hình dung được một vài đặc điểm nổi bật về nội dung, nghệ thuật cũng như tư tưởng và các giá trị mà tác phẩm hướng tới….

Ví dụ 1: Tùy bút Người lái đò Sông Đà nằm trong tập Sông Đà của Nguyễn Tuân (lưu ý: Sông Đà viết hoa cả hai chữ cái đầu là dụng ý của tác giả, không phải là sai chính tả) sáng tác trong giai đoạn 1955-1964. Văn xuôi trong giai đoạn này hướng đến nhiều vấn đề, phạm vi của hiện thực đời sống, nổi bật là:

- Đề tài kháng chiến chống Pháp.

- Hiện thực cuộc sống trước CMT8.

- Công cuộc xây dựng CNXH ß-------- NLĐSĐ nằm ở đề tài này.

Điều này giúp ta liên hệ được phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân có sự đổi mới (ca ngợi quê hương đất nước,… thay vì phong cách “ngông” của ông trước CMT8).

Ví dụ 2: Truyện ngắn Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành viết trong giai đoạn 1965-1975, phản ánh cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam, đề cao tinh thần yêu nước, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng…

@ Bài văn học sử này còn giúp ta biết được hoàn cảnh ra đời của tác phẩm có tầm quan trọng như thế nào đối với tác phẩm của nhà văn. Điều này góp phần giải thích vì sao thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị, cảm hứng thơ vận động theo từng biến động lịch sử đất nước.

Cần lưu ý khái niệm hoàn cảnh ra đời. Ở đây có sự phân biệt: hoàn cảnh chung và hoàn cảnh riêng. Hoàn cảnh chung (bối cảnh lịch sử xã hội) ít tác động trực tiếp tới tác phẩm như hoàn cảnh riêng của tác giả. Điều này giải thích vì sao cùng đặt trong một hoàn cảnh chung nhưng phong cách thơ của Tố Hữu lại khác nhiều so với thơ Huy Cận, Xuân Diệu. Hơn nữa, hoàn cảnh riêng chưa hẳn chi phối trực tiếp nội dung tác phẩm mà phải qua bối cảnh cụ thể (hoàn cảnh cấu tứ, hoàn cảnh cảm hứng của nhà văn).

Phân tích một tác phẩm văn học cần chỉ ra được hoàn cảnh nói trên mới hiểu được nội dung và hình thức cụ thể của mỗi tác phẩm.

@ Từ tất cả những điều trên, mong bạn đừng cho rằng đây là một bài học khô khan và chẳng có ích gì cho việc học những tác phẩm khác.

Trọng tâm bài học

- Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ CMT8 1945 đến 1975.

- Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến năm 1975.

- Những đổi mới bước đầu của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX. (Phần này giúp bạn bước đầu tiếp cận các tác phẩm mới như Ai đã đặt tên cho dòng sông? Hay Đàn ghi ta của Lorca…).

Yêu cầu

Bám sát SGK, nhớ một vài tác phẩm của từng giai đoạn, đặc điểm của giai đoạn đó

Tóm tắt SGK

1. Khái quát văn học Việt Nam từ CMT8 1945 đến 1975.

a) Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa. (3 ý)

- Đường lối văn nghệ của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng…
- Hai cuộc kháng chiến…
- Kinh tế, văn hóa…

b) Quá trình phát triển và thành tựu chủ yếu.

- Chặng đường 1945-1954:

+ Một số tác phẩm 1945-1946…
+ Cuối 1946…
+ Truyện ngắn…
+ Thơ ca…
+ Kịch…

- Chặng đường 1955-1964:

+ Văn xuôi…
+ Thơ ca…
+ Kịch…

- Chặng đường 1965-1975:
+ Chủ đề bao trùm…
+ Văn xuôi: chủ đề chung; 2 ý nhỏ: miền Nam… miền Bắc…
+ Thơ…
+ Kịch…

- Văn học vùng địch tạm chiếm (đọc hiểu, không cần nắm chi tiết)

c) Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945-1975. (Quan trọng!)

- Văn học chủ yếu vận động theo hướng CM hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.
- Văn học hướng về tính đại chúng
- Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

2. Khái quát văn học Việt Nam 1975-hết thế kỉ XX. (Phần này hoàn toàn mới so với SGK những năm trước)

a) Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa.

- Chiến thắng mùa xuân 1975.
- Từ 1986…

b) Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu.

- Thơ
- Văn xuôi
- Kịch nói
- Một số nhận định chung

Kiến thức mở rộng

1. Về hoàn cảnh chiến tranh và một giai đoạn văn học đặc biệt.

- Giai đoạn văn học từ CMT8 1945 đến 1975 diễn ra trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Ba mươi năm của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt. Trong chiến tranh, vấn đề hàng đầu đặt ra cho toàn dân tộc cũng như từng cho từng cá nhân là lợi ích sống còn của cộng đồng, là vận mệnh chính trị của dân tộc: độc lập, tự do hay nô lệ, ngục tù. Trong hoàn cảnh ấy, mọi phương diện khác của đời sống đều là thứ yếu, nếu cần phải dẹp đi, phải hi sinh hết, kể cả tính mạng của mình.

(Điều này giải thích vì sao bài thơ Tây Tiến từng được xem là mộng rớt tiểu tư sản hay yêng hùng tiểu tư sản, sau này trong thời bình nhìn lại, người ta mới công nhận rằng bài thơ đã hoàn chỉnh hơn diện mạo của một thế hệ ra quân cứu nước với tinh thần nhất khứ bất phục hoàn. Một số bài thơ khác như Màu tím hoa sim (Hữu Loan)… cũng từng bị “tẩy chay” vì đi “chệch luồng” tư tưởng…)

Trong hoàn cảnh ấy, tất nhiên nhiệm vụ hàng đầu của văn học nghệ thuật phải tập trung phục vụ chính trị, tuyên truyền, cổ vũ chiến đấu. Trong 30 năm ấy, thơ Tố Hữu được coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng, vì thơ ông là thơ trữ tình chính trị xuất sắc nhất. Hồi ấy, ngôn ngữ chính trị không hề khô khan mà đầy chất thơ. Tình cảm đẹp nhất là tình yêu Tổ quốc, tình đồng chí, đồng bào, tình quân dân, tình cảm đối với lãnh tụ. Con người đẹp nhất là anh bộ đội, chị dân quân, là thanh niên xung phong và các lực lượng phục vụ chiến trường. Văn học phản ánh con người trước hết ở phương diện con người công dân, ở phẩm chất chính trị. Các tình cảm trong quan hệ cá nhân (như tình yêu, tình vợ chồng, tình anh em, tình mẹ con, tình bạn,…) phải được nâng lên thành tình đồng chí, tình bạn chiến đấu mới được coi là cao đẹp, là tình cảm của con người mới.

- Hồi ấy, con người sống trong gian khổ nhưng rất lạc quan, tin tưởng. Lòng yêu nước là một truyền thống tinh thần vĩ đại nhất của dân tộc ta. Vì thế, hi sinh cho Tổ quốc là một hành vi hoàn toàn tự nguyện, thậm chí là một niềm vui. Người ta sẵn sàng phá nhà, đốt nhà để đi kháng chiến, đường ra trận là con đường vui: Những buổi vui sao cả nước lên đường (Chính Hữu). Hồi đó, niềm tin ở chiến thắng, ở tương lại XHCN là tuyệt đối. Đó là cơ sở của một chủ nghĩa lãng mạn CM chi phối mạnh mẽ cảm hứng sáng tác của văn nghệ sĩ. Nhiều nhà lí luận hối ấy tin rằng đời sống cách mạng không có bi kịch. Văn thơ nói chuyện tiêu cực nội bộ, nói nỗi buồn, cái đau, nói nhiều đến tổn thất trong chiến đấu bị coi là lạc điệu, là thứ văn chương không lành mạnh. Điều này rất phù hợp với yêu cầu của văn học thời ấy: cần luôn luôn thắp sáng niềm tin để động viên chiến đấu.

- Trong chiến tranh, tất nhiên nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ hi sinh. Cho nên văn chương phải tránh nói nhiều đến chuyện hưởng thụ, hưởng lạc, chuyện hạnh phúc cá nhân. Đề tài tình yêu cũng cần hạn chế và tình yêu phải gắn với nhiệm vụ chiến đấu. Anh ôm chặt em và ôm cả khẩu súng trường bên vai em – Chia tay trong đêm Hà Nội (Nguyễn Đình Thi).

- Trong chiến tranh, yêu cầu về mặt nhận thức của con người cũng đơn giản: phải dứt khoát phân biệt địch – ta, bạn – thù. Văn học thiên về hướng ngoại hơn là hướng nội: hướng về quần chúng cách mạng, về những tấm gương anh hùng để ngợi ca, hướng về kẻ địch để đề cao cảnh giác và mài sắc căm thù.

- Trong chiến tranh, lực lượng quyết định nhất là công nông binh. Vì thế công nông binh cũng là đối tượng phục vụ của văn học và viết cho công nông binh phải giản dị, dễ hiểu – quan niệm về tính đại chúng của văn hóa – văn học hồi đó là như thế.

- Văn học với yêu cầu nói trên tất yếu dẫn đến khuynh hướng sử thi hóa, lãng mạn hóa. Cảm hứng sử thi phát triển mạnh mẽ từ cao trào cả nước chống đế quốc Mĩ (1965-1975). Đây là những năm tháng được gọi là ra ngõ gặp anh hùng. Đề tài sử thi gắn với những vấn đề liên quan đến vận mệnh của cộng đồng, nhân vật sử thi là những con người đại diện cho cộng đồng, kết tinh những phẩm chất cao quý của cộng đồng, số phận gắn với số phận của cộng đồng, nghĩa là sống chết vì cộng đồng. Nhà văn ca ngợi những nhân vật này với thái độ sùng kính, lời lẽ trang nghiêm, ngôn từ tráng lệ (Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Sống như anh của Trần Đình Vân, Hòn Đất của Anh Đức, Người con gái Việt Nam của Tố Hữu, Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, Đất quê ta mênh mông của Bùi Minh Quốc; các trường ca của Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo,…)

2. Từ sau 1975, nhất là từ sau 1986, tiểu thuyết Việt Nam nhạt dần chất sử thi và tăng dần chất tiểu thuyết, có nghĩa là nội dung chính bây giờ là cuộc sống con người được quan sát chủ yếu ở góc độ đời tư, là cuộc đời hiện tại đang diễn ra với tất cả tính chất bề bộn, phức tạp của nó, là những nhân vật được nhìn nhận như những con người bình thường gần gũi quanh ta mà nhà văn có thể mô tả bằng một giọng văn thân mật, thậm chí suồng sã,…

Câu hỏi mở rộng (SBT Ngữ Văn Nâng Cao)

1. Vì sao trong giai đoạn văn học 1945-1975, thơ trữ tình chính trị lại trở thành dòng chính của thơ ca Việt Nam, trong đó thơ Tố Hữu nổi lên như lá cờ đầu?

2. Vì sao trong giai đoạn văn học 1965-1975, khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãn mạn trong văn học Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết?

3. Những chuyển biến trong ý thức của nhà văn sau 1975 về mối quan hệ giữa nhà văn với hiện thực, với công chúng và với bản thân mình.

4. Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 và giai đoạn từ 1975-hết thế kỉ XX khác nhau như thế nào?

mr.tun
17-08-2009, 05:32 PM
trùi ạh , qua thi hết rùi mới post có muôn quá hem nè
^^
hihi

nhoc_won
17-08-2009, 06:24 PM
cảm ơn các anh rất nhiều. Mong có các môn khác nữa để tụi em tham khảo

Thiên Bình
17-08-2009, 07:24 PM
NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH



@ Bài học này khá dài, nặng tính lí thuyết nhưng khả năng ra thi rất lớn. Bạn đọc kĩ SGK, tóm tắt ý chính rồi cố gắng nắm thật chắc bài học (dù không cố thì phần này cũng nằm trong kế hoạch khảo bài thường xuyên của thầy cô bộ môn thôi). Một số điểm cần lưu ý như sau:

1. Về quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh.

HCM đã phát biểu rất rõ quan điểm sáng tác văn học của Người: trước khi đặt bút viết phải trả lời hai câu hỏi: Viết cho ai? (đối tượng) và Viết để làm gì? (mục đích), từ đó mới xác định: Viết cái gì (nội dung) và Viết thế nào? (hình thức).

Ở HCM, quan điểm sáng tác này hết sức nhất quán và chính nó giải thích vì sao Người đã tạo nên một sự nghiệp văn học hết sức phong phú, đa dạng.

Sáng tác thơ văn đối với HCM trước hết là hành vi cách mạng, nhằm mục đích đấu tranh giành độc lập, tự do cho đất nước. Có thấy như thế mới hiểu được vì sao có lúc Người đã làm những bài ca, bài vè, nội dung sơ sài, hình thức dễ dãi (Võ Nguyên Giáp gọi là “ép vần”). Đấy là trường hợp Người hướng về những đối tượng trình độ văn hóa thấp nên phải sáng tác dưới hình thức nôm na, mộc mạc. Nhưng làm thơ để động viên những nhân sĩ trí thức thì Người lại buộc phải làm nghệ thuật thật sự, tuy vẫn nhằm mục đích chính trị (những bài thơ tặng cụ Bùi Bằng Đoàn, cụ Đinh Chương Dương, cụ Võ Liêm Sơn chẳng hạn).

2. Về phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh.

Phong cách nghệ thuật của HCM hết sức phong phú, đa dạng. Nhưng phong cách một nhà văn, dù phong phú, đa dạng thế nào vẫn có chỗ thống nhất. Chỗ thống nhất của phong cách nghệ thuật HCM là ở tính chất tuyên truyền, vận động CM một cách thiết thực nhằm vào những đối tượng và mục đích cụ thể (Viết cho ai? Viết để làm gì?). Trên cơ sở tính thống nhất ấy, phong cách nghệ thuật của HCM biểu hiện rất phong phú trong quá trình sáng tác và tùy theo việc sử dụng các thể loại khác nhau (thơ, truyện, kí, văn chính luận…). Bao quát toàn bộ các sáng tác của Người, có thể nhận ra ba nét phong cách cơ bản sau đây:

- Ngắn gọn, trong sáng, giản dị, thể hiện ở đề tài, ở khuôn khổ tác phẩm, ở ngôn từ, giọng điệu, ở bản chất nhân vật trần thuật (truyện, kí) hay cái tôi trữ tình (thơ).

- Sáng tạo linh hoạt, hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng các hình thức thể loại và ngôn ngữ, các thủ pháp, bút pháp khác nhau nhằm mục đích thiết thực của mỗi tác phẩm. HCM bao giờ cũng đặt cuộc sống lên trên văn chương nên không bị câu thúc bởi những quy phạm cứng nhắc của nghệ thuật.

- Tư tưởng, tình cảm, hình tượng nghệ thuật luôn luôn vận động một cách tự nhiên hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai. Hướng vận động này hết sức nhất quán từ văn chính luận đến văn nghệ thuật, hầu như không có ngoại lệ.

GỢI Ý LUYỆN TẬP (SGK CƠ BẢN)

1.
@ Bút pháp cổ điển:
- Cách miêu tả khung cảnh thiên nhiên: được nhìn từ xa, được khắc họa bằng những nét chấm phá, không nhằm ghi lại hình xác mà chỉ cốt truyền được linh hồn của tạo vật.
- Phong thái ung dung của nhân vật trữ tình.
@ Bút pháp, tinh thần hiện đại:
- Thiên nhiên không tĩnh lặng mà vận động một cách khỏe khoắn, hướng tới sự sống, ánh sáng và tương lai.
- Nhân vật trữ tình không phải là ẩn sĩ mà là chiến sĩ, luôn ở trong tư thế làm chủ hoàn cảnh, không bị chìm đi mà nổi bật hẳn lên giữa bức tranh thiên nhiên.
- Nhiều chi tiết, hình ảnh sinh hoạt đời thường được đưa vào bài thơ một cách tự nhiên, sống động.

2. Gợi ý: Bài học về sự rèn luyện của con người, lấy tai ương rèn luyện tinh thần:

Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công.
(Nghe tiếng giã gạo)

Thiên Bình
19-08-2009, 05:20 PM
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP


@ Đây là một bài học khó, rất ít khi ra thi dưới dạng phân tích nhưng có thể ra thi dưới dạng lí thuyết.

@ Bài học này cung cấp những nhận thức quan trọng về một tác phẩm có vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc, trong tiến trình vận động của nền văn học, đồng thời là kết tinh vẻ đẹp tư tưởng và tâm hồn của HCM, một trong những con người ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm không chỉ là áng hùng văn khai sinh ra một nước VN mới, mở đầu cho kỉ nguyên độc lập, tự do trong thời hiện đại mà còn mang ý nghĩa mở đầu cho một nền văn học mới – nền văn học CM mang khát vọng đấu tranh cho lí tưởng nhân đạo và tiến bộ.

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Tiểu dẫn (Quan trọng!)

@ Trong phần này cần nắm được các ý sau:

- TNĐL là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn, đồng thời là áng văn chính luận bất hủ.
- TNĐL được công bố trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, hướng vào những đối tượng cụ thể. Nội dung, cách viết của tác giả nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.

@ Ngoài ra cần biết những đặc điểm sau của tác phẩm:

- Giá trị lịch sử: Xét ở góc độ lịch sử, có thể coi TNĐL là lời tuyên bố của một dân tộc đã đứng lên đấu tranh xóa bỏ chế độ phong kiến, thực dân, thoát khỏi thân phận thuộc địa để hòa nhập vào cộng đồng nhân loại với tư cách một nước độc lập, dân chủ, tự do.

- Giá trị tư tưởng: Xét trong mối quan hệ với các trào lưu tư tưởng lớn của nhân loại ở thế kỉ XX, có thể co TNĐL là tác phẩm kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do.

Cả hai phẩm chất này của tác phẩm cần phải được coi như một đóng góp riêng của tác giả và cũng là của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp, vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX.

- Giá trị nghệ thuật: Xét ở bình diện văn chương, TNĐL là một bài văn chính luận mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn.

Nội dung bài học

1. Chủ đề: TNĐL được chủ tịch HCM đọc ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới. Tư tưởng lớn xuyên suốt bản TN là chân lí bất di bất dịch của thời đại: Tất cả mọi người, tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Nhân dân VN đã đấu tranh để giành quyền tự do, độc lập, đã trở thành một nước tự do độc lập và quyết giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Các nội dung dưới đây nằm trong hệ thống câu hỏi trong SGK, bạn tự trả lời, nếu có thắc mắc gì có thể hỏi tại đây.

2. Hệ thống lập luận:

- Phần mở đầu, tác giả nêu nguyên lí mang tính phổ quát: Tất cả mọi người và các dân tộc đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đây là luận điểm nền tảng, coi độc lập, tự do, bình đẳng là những thành tựu to lớn của tư tưởng nhân loại, đồng thời là lí tưởng theo đuổi hết sức cao đẹp của nhiều dân tộc.

- Phần thứ hai: Qua thực tế lịch sử hơn 80 năm thực dân Pháp xâm lược và đô hộ nước ta, tác giả chứng minh nguyên lí trên đã bị thực dân Pháp phản bội, chà đạp trắng trợn như thế nào. Mặt khác, bản tuyên ngôn cũng khẳng định và minh chứng đầy thuyết phục rằng chính Việt Minh và nhân dân VN đã bền bỉ đấu tranh để giành lại quyền tự do, độc lập của mình.

- Phần kết: Tuyên bố về quyền được hưởng tự do, độc lập của dân tộc.

3. Đối tượng và mục đích của bản TNĐL:

- Quốc dân đồng bào.

- Các nước trên thế giới, chủ yếu là phe Đồng minh, trong đó có cả Anh, Mĩ đặc biệt là Pháp.

Bản TN đã tố cáo mạnh mẽ tội ác của thực dân Pháp, cương quyết bác bỏ những luận điệu xảo trá và bịp bợm của chúng trong âm mưu tái chiếm nước ta.

4. Việc trích dẫn lời văn của hai bản TNĐL của Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp.

- Ý nghĩa đối với hệ thống lí lẽ của bản TNĐL.
- Ý nghĩa của luận điểm “suy rộng ra” của HCM từ bản TNĐL của Mĩ đối với phong trào giải phóng dân tộc.
- Sự trích dẫn như thế tỏ ra “vừa kiên quyết vừa khôn khéo” như thế nào trong thái độ đối với đế quốc Mĩ và thực dân Pháp?

5. Cuộc tranh luận ngầm với luận điệu của thực dân Pháp.

- Luận điệu của thực dân Pháp nhằm chuẩn bị chiếm lại VN là gì và bản TNĐL đã bác bỏ luận điệu ấy như thế nào?
- Ngoài ra bản TNĐL còn lên án tội ác dã man và tư cách đê tiện của thực dân Pháp.
- Tất cả những lí lẽ và bằng chứng trên đều dẫn đến kết luận không ai phủ nhận được: “Nước VN có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tư do, độc lập.”

6. Ý nghĩa của phần tuyên bố độc lập (2 ý nghĩa)

7. Giá trị nghệ thuật:

- TNĐL là một áng văn chính luận mẫu mực:
+ Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép (bằng một hệ thống luận điểm, luận cứ xác thực, rõ ràng; những bằng chứng không ai có thể chối cãi được).
+ Ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc; giọng điệu hùng biện đầy sức thuyết phục.
- TNĐL còn là một áng văn tâm huyết xúc động lòng người, mang chất văn và hơi thở của cuộc sống CM của nhân dân ta; chất văn đó có được là do tình cảm nồng nàn của người viết xuất phát từ tấm lòng thiết tha yêu nước, thương dân và khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc.

Yêu cầu

- Hiểu được hệ thống lập luận, các giá trị và ý nghĩa của TNĐL.

- Vẻ đẹp tư tưởng và tâm hồn tác giả qua bản TNĐL.

bink
09-06-2010, 09:39 PM
anh học trường nào dậy?? hay làm thầy giáo hjhj

eclipse
09-06-2010, 10:11 PM
a ui
làm cách nào Văn thi dh khoảng 3 - 4d j thui

Ventomarme
10-06-2010, 02:48 PM
anh ui...up chương trình 11 áh... chương trình 12 tụi em ôn thi tốt nghiệp cũng rành rồi. Còn chương trình lớp 11 thôi ạ.

Thiên Bình
10-06-2010, 05:18 PM
tình hình là topic ế, nên sẽ ko có chương trình nào hết ^^

kyniembuon_giomay
10-06-2010, 06:53 PM
văn thì chủ yếu là kỷ năng cảm nhận và phân tích thôi!!