PDA

View Full Version : Tuyển tập 2 của Sanya



Sanya
02-10-2005, 04:55 PM
Biết lắng nghe



DUY THỊNH




TTO - Tôi cho rằng phương cách cơ bản và hữu hiệu nhất để liên kết chúng ta với người khác là biết lắng nghe. Có lẽ điều quan trọng nhất mà chúng ta có thể trao tặng cho mọi người chính là sự quan tâm, và đặc biệt hơn nữa khi nó xuất phát từ chính con tim. Khi người khác đang nói, không nhất thiết phải làm bất cứ điều gì cho họ nhưng chỉ cần đón nhận họ. Và lắng nghe điều họ nói, quan tâm đến điều ấy.
Dành thời gian để quan tâm đến những chuyện người khác đang nói còn quan trọng hơn cả việc hiểu họ muốn nói gì. Hầu hết mọi người trong chúng ta thường không nhận thức được hết giá trị của bản thân mình cũng như tình thương mà mình có, để có thể hiểu hết những điều trên đây.
Tôi cũng như thế, phải mất một khoảng thời gian khá dài tôi mới có thể tin vào sức mạnh của một câu xin lỗi đơn giản: "Tôi rất tiếc", khi một ai đó bị tổn thương, và đến bây giờ tôi mới hiểu hết ý nghĩa của nó.
Một trong số những bệnh nhân của tôi tâm sự với tôi rằng: khi bà ta cố gắng kể lại hoàn cảnh của mình cho người khác nghe, họ thường ngắt lời và nói với bà rằng những chuyện tương tự cũng đã có lần xảy ra với chính bản thân họ. Thế là nỗi đau của bà trở thành câu chuyện của người khác. Cuối cùng thì bà ta thôi không còn muốn tâm sự với ai nữa. Thật quá cô độc phải không bạn?
Chúng ta kết giao được với nhau nhờ biết lắng nghe. Khi ta ngắt lời ai đó đang nói để cho họ biết mình hiểu, ta đang biến mình thành trung tâm của cuộc nói chuyện. Khi chúng ta lắng nghe, người khác biết ta đang quan tâm đến họ. Rất nhiều bệnh nhân ung thư có thể chia sẻ kinh nghiệm được khuây khỏa khi có ai đó lắng nghe họ.
Tôi đã học được bài học để đáp lại những ai đang khóc bằng việc lắng nghe. Ngày xưa tôi từng dang tay giúp đỡ những con người yếu đuối, cho đến khi tôi nhận ra rằng đồng cảm với những con người mỏng manh đó có lẽ là một các khác hữu hiệu hơn để giúp họ thóat khỏi những cảm nghiệm về nỗi buồn và sự đau khổ. Bây giờ tôi chỉ lắng nghe. Họ khóc khi cần phải khóc, và họ biết tôi vẫn ở đó với họ.
Điều đơn giản này không dễ tiếp nhận chút nào. Nó hẳn là ngược lại với những gì tôi đã được dạy thời trẻ. Tôi đã nghĩ người ta chỉ lắng nghe khi quá nhút nhát để nói hoặc khi không biết câu trả lời. Một sự im lặng trìu mến thường mạnh mẽ hơn rất nhiều trong việc chữa lành và nối kết mọi người so với những lời lẽ tốt đẹp mà ta có.
DUY THỊNH (Từ Internet).:wink:

Sanya
02-10-2005, 04:57 PM
Ý Thượng đế


BÙI NGUYỄN QUÝ ANH




TTO - Tôi cầu xin Thượng đế cho tôi không còn chịu mọi đau khổ.
Ngài nói, không. Đó không phải là ta mà tự ngươi phải biết cách tránh những phiền khổ ấy.
Tôi cầu xin Ngài cho đứa con tật nguyền của tôi được toàn vẹn.
Ngài nói, không. Tinh thần của bé là tinh nguyên, thân thể chỉ là bề ngoài.
Tôi hỏi xin Ngài ban cho tôi thêm lòng kiên nhẫn.
Ngài nói, không. Lòng kiên nhẫn được hình thành từ sự chịu đựng mọi gian khổ, không thể ban phát. Nó là để học và rút tỉa.
Vậy hạnh phúc, thưa Ngài, tôi hỏi xin.
Ngài nói, không. Hạnh phúc hay không là tùy vào ngươi.
Thưa Ngài, hãy cho tôi mọi thứ giúp tôi tận hưởng cuộc đời.
Ngài nói, không. Ta đã ban cho ngươi sự sống để ngươi có được mọi thứ.
Tôi hỏi Ngài sao cho tôi có được lòng yêu thương như tình yêu Ngài dành cho tôi.
Thượng đế phán: Cuối cùng ngươi đã hiểu được ý ta.
BÙI NGUYỄN QUÝ ANH (Theo Godslittleacre.net)

Sanya
02-10-2005, 04:58 PM
TTO - Les Brown và người em sinh đôi được Mamie Brown, một nhân viên phụ bếp và hầu gái nuôi dưỡng. Họ sinh ra trong một gia đình nghèo khó.
Lớn lên, Les trở thành nhân viên vệ sinh của thành phố tại Miami Beach. Nhưng anh ước mơ trở thành một DJ. Anh đã làm một đài phát thanh tưởng tượng trong căn phòng nhỏ bé của mình với cái nền nhà bằng nhựa dẻo rách nát. Chiếc lược chải tóc được dùng làm micro khi anh tập bình luận, giới thiệu băng đĩa với những thính giả vô hình.
Một ngày nọ Les mạnh dạn tiến thẳng đến đài phát thanh của địa phương trong bữa ăn trưa khi đang xén cỏ trong thành phố. Anh vào phòng của giám đốc đài phát thanh và nói rằng anh muốn trở thành một DJ.
Đôi mắt của ông giám đốc nhìn vào chàng trai trẻ lôi thôi, nhếch nhác với chiếc mũ rơm và chất vấn: “Anh có kiến thức cơ bản nào về phát thanh không?”. Les trả lời: “Thưa ông, không!”. “Được rồi, anh chàng ạ, tôi nghĩ rằng bây giờ chỗ tôi không có việc cho anh đâu”.
Les lịch sự cảm ơn rồi bước ra ngoài. Ngài giám đốc đài phát thanh đã đánh giá quá thấp quyết tâm của Les Brown đối với mục đích của mình. Bạn biết không, Les có một mục tiêu xa hơn là đơn thuần trở thành một DJ. Anh muốn mua một ngôi nhà tốt hơn cho mẹ nuôi của mình, người mà anh yêu vô cùng. Công việc DJ chỉ là một bước trong kế hoạch của anh thôi.
Mamie Brown từng dạy Les theo đuổi những ước mơ của anh, vì thế anh cảm thấy chắc rằng anh sẽ được nhận vào làm tại đài phát thanh chứ không phải như lời ông giám đốc đã nói.
Và thế là Les quay trở lại đài phát thanh mỗi ngày trong suốt một tuần, hỏi rằng đã có việc làm nào chưa. Cuối cùng ông giám đốc đài phát thanh nhận anh vào làm một chân sai vặt không trả công. Đầu tiên, anh mang cà phê hay bữa trưa và chiều cho các DJ là những người không thể rời khỏi dài. Dần sự nhiệt tình của anh đối với công việc của họ khiến cho các DJ tin cậy và cho anh ngồi chung những chiếc Cadilacs của họ đến thăm những người nổi tiếng như Temptation, Diana Ross và Supremes.
Les làm bất cứ việc gì mà người ta yêu cầu anh ta, và nhiều hơn nữa. Khi thường đến chơi với các DJ, anh đã tự học cách di chuyển tay trên bàn điều khiển. Anh ở trong phòng điều khiển và miệt mài tập luyện những gì biết được cho đến khi được yêu cầu ra ngoài. Sau đó, khi trở về phòng ngủ lúc đêm xuống, anh tập luyện và chuẩn bị cho cơ hội mà anh biết là sẽ tự xuất hiện.
Vào một chiều thứ bảy khi Les đang ở đài phát thanh, một DJ tên Rock đã uống rượu khi đang phát sóng. Les là người duy nhất trong đài, và anh biết rằng Rock đang tự đưa mình vào rắc rối. Les nán lại thật gần đó. Anh đi qua đi lại trước cửa sổ của phòng Rock. Trong khi lảng vảng như vậy, anh nói với mình: “Uống đi, Rock, uống nữa đi”.
Les đói bụng, và anh cũng sẵn sàng. Anh sẽ chạy ra phố mua thêm rượu nếu Rock yêu cầu. Khi chuông điện thoại reo vang, Les phóng đến nó. Đó là giám đốc đài phát thanh, như anh đã đoán trước. “Les,tôi là Klein đây”. “Vâng, tôi biết”, Les đáp. “Les này, tôi không nghĩ rằng Rock có thể hoàn tất chương trình của cậu ấy”. “Thưa ông, tôi biết ạ”. “Anh có thể gọi một trong các DJ khác đến và làm nốt không?”. “Vâng, thưa ngài. Tôi sẽ gọi”.
Nhưng khi Les cầm điện thoại, anh tự bảo: "Bây giờ, ông ta phải nghĩ rằng mình điên đây"
Les gọi điện thoại đi, nhưng nó không đi đến bất kỳ DJ khác nào. Anh gọi cho mẹ anh trước, sau đó là bạn gái anh: "Mọi người hãy ra cổng vòm trước và mở đài lên đi vì tôi sẽ được phát trên đài đấy”, anh nói.
Anh chờ khoảng 15 phút trước khi gọi cho giám đốc đài phát thanh. "Thưa ông Klein, tôi không thể tìm được người nào khác", Les bảo. Khi đó, ông Klein hỏi: "Chàng trai ạ, anh có biết điều khiển không?". “Thưa ông, biết ạ”, Les trả lời.
Les lao vào phòng, nhẹ nhàng chuyển Rock sang một bên ngồi vào mâm xoay đĩa hát. Anh đã sẵn sàng. Và anh đang đói. Anh bật nhẹ công tắc trên micro và nói: "Hãy nhìn đây! Đây là tôi, Les Brown, ba chữ P-Les Brown, Platter Playing Poppa của các bạn. Trước tôi không có ai và sau tôi không có ai cả. Do đó, tôi sẽ là một và chỉ một. Trẻ tuổi, độc thân và thích sự pha trộn. Thành thật, có thiện ý, chất lượng bảo đảm sẽ mang đến cho các bạn sự hài lòng và nhiều hành động khác. Hãy nhìn xem, các bạn, tôi là người đáng mến của các bạn đây".
Bởi vì đã chuẩn bị từ trước, Les đã thành công. Anh đã gây ấn tượng mạnh với khán giả và tổng giám đốc của mình. Sau buổi khởi đầu tốt đẹp đó, Les đã tiếp tục công việc thành công trên đài phát thanh, chính trị, diễn thuyết với công chúng và truyền hình.
QUỐC DŨNG (Theo Chicken Soup)

Sanya
02-10-2005, 05:00 PM
TT - Một ngày kia, đám yêu tinh họp nhau lại để tìm cách phá hoại cuộc sống của loài người. Yêu tinh đầu đàn lên tiếng: “Với loài người, hạnh phúc là thứ quí giá nhất. Vậy chúng ta hãy đánh cắp thứ quí giá nhất của họ và giấu ở nơi mà họ không thể tìm thấy được. Các ngươi thấy sao?”.
Một yêu tinh lên tiếng: “Hãy đem hạnh phúc giấu trên đỉnh núi cao nhất trên Trái đất này, chắc con người sẽ không thể tìm ra”.
Yêu tinh đầu đàn lắc đầu: “Rồi một ngày họ cũng sẽ tìm cách chinh phục đỉnh núi cao nhất ấy”.
“Vậy hãy giấu hạnh phúc dưới đáy đại dương sâu thẳm...” - một yêu tinh khác nói.
“Rồi một ngày họ cũng thám hiểm đến đáy đại dương sâu thẳm nhờ những phương tiện hiện đại”, yêu tinh đầu đàn lại lắc đầu.
“Mang giấu ở một hành tinh khác vậy”, một tiểu yêu tinh đề nghị.
“Con người đang tìm cách khám phá vũ trụ và các hành tinh khác”, yêu tinh đầu đàn ngao ngán.
“Có một sự thật: con người hay tìm kiếm hạnh phúc khắp mọi nơi; nhìn thấy hạnh phúc nơi người khác nhưng thường không nhìn thấy hạnh phúc chính ở bản thân mình. Vậy ta hãy giấu hạnh phúc trong mỗi con người, chắc chắn họ sẽ không thể nào tìm thấy được...”, một nữ yêu tinh chậm rãi nói.
Cả đám yêu tinh reo lên sung sướng và quyết định làm theo lời đề nghị trên.
Liệu hạnh phúc của con người có bị đám yêu tinh kia giấu mất? Câu trả lời tùy thuộc chính bản thân chúng ta trong quá trình tìm kiếm hạnh phúc cho mình...
VÂN ANH

Sanya
02-10-2005, 05:04 PM
Khi chuông điện thoại đổ thì Nam đang ngồi đọc sách. Nam lưỡng lự một chút rồi nhấc điện thoại. Không có nhiều người biết số điện thoại di động của anh, cho nên đây hẳn là một người bạn, và hẳn phải có việc.
- Có phải Nam đấy không?
- Tôi, Nam đây, xin lỗi, chị là ai thế?
- Có lẽ anh không nhớ tôi đâu; tôi là bạn của Toko, chúng ta gặp nhau một lần trong International House hồi tôi đến thăm Toko ở đó. Lần đó anh cho tôi số điện thoại. Tôi học toán bên Trường DePaul.
Nam cố nhớ lại và loáng thoáng tưởng tượng ra khuôn mặt của cô gái. Nửa năm trước, anh ở trong khu ký túc có tên International House của Đại học Chicago và chơi thân với một nhóm bạn người Nhật. Có Toko, Katamy, Haru, và một vài người nữa - những người bạn Nhật chăm chỉ, nghiêm khắc và trọng danh dự. Trong phòng học kiêm thư viện của International House, hầu như tối nào anh và mấy người bạn Nhật cũng là những người ở lại cuối cùng. Họ thường đánh một ván cờ trước khi đi về phòng - thường vào khoảng 3 giờ sáng. Rồi Nam thuê nhà riêng và chuyển ra ở bên ngoài. Anh ít gặp lại những người bạn Nhật. Chương trình nghiên cứu sinh của anh khá nặng và càng về cuối thì càng mất nhiều thời gian.
- Dĩ nhiên là tôi nhớ. Tôi chỉ không nhớ tên. Xin lỗi, chị tên là gì nhỉ? - Nam hỏi.
- Aika.
- À, phải rồi Aika. Chị khỏe không?
- Tôi cũng bình thường; còn anh thế nào?
- Tôi cũng vậy thôi... Chị gọi tôi có việc gì chăng?
- À không... thực ra vấn đề là thế này, hôm nay tôi ở nhà một mình, ngày hôm nay nữa là tròn bốn tuần tôi ở nhà một mình, tôi chỉ muốn gọi điện nói chuyện với một ai đó; các bạn bè thân của tôi đều đi nghỉ Thanksgiving hết rồi. Không biết tôi có làm phiền anh không?
- Cũng không hẳn... tôi cũng chỉ đang đọc sách thôi...
- Anh có phiền không nếu chúng ta nói chuyện một lát?
- Không đâu, dĩ nhiên là không rồi...
- Cảm ơn anh...
- Vậy là chị không đi đâu nghỉ Thanksgiving?
- Không... tôi chẳng muốn đi đâu cả... đi đâu thì cũng vậy thôi...
- Chị còn học mấy năm nữa?
- Tôi còn khoảng hơn 1 năm, nhưng không chắc tôi có học hết không.
- Nghĩa là sao?
- Là có thể tôi sẽ bỏ học...
- Bỏ học ư? Nhưng chị chỉ còn hơn 1 năm, sắp xong rồi, sao chị không học nốt.
- Ai cũng nói vậy; nhưng tôi không chắc.
- Lấy được bằng tiến sĩ sẽ có lợi cho chị sau này; đằng nào thì chị cũng đã học sắp xong rồi.
- Bây giờ, một ngày ở trường cũng dài bằng một thế kỷ. Tôi đã chán ngấy trường học rồi. Ở lại thêm một năm sẽ là một cực hình quá sức của tôi.
- Tồi tệ đến vậy sao?
- Còn hơn cả tồi tệ... tôi không thể nào chịu nổi nữa rồi - giọng Aika nén chặt lại.
Nam cảm thấy bồn chồn, như thể anh chính là người gây ra tình cảnh của Aika. Nếu có một phụ nữ ngồi trước mặt anh và khóc, có thể anh sẽ đưa một cái mùi xoa, hoặc nếu quá lúng túng thì anh sẽ bỏ đi. Còn một người qua điện thoại, anh biết làm gì. Nói những lời an ủi thì Nam không thể. Đơn giản là anh không quen, cho dù anh biết đích xác cảm giác mà Aika vừa nói...
- Giáng sinh này chị có về Nhật thăm nhà không? - Nam hỏi, cố lái câu chuyện sang một hướng khác.
- Có thể tôi sẽ về, có thể không; còn tùy xem tình hình thế nào.
- Bao lâu rồi chị chưa về nhà?
- Hai năm rồi.
- Nhà chị có nhiều anh chị em không?
- Tôi là con một, ba mẹ tôi đều đã già... Anh đến Kyoto bao giờ chưa?
- Tôi chưa. Tôi mới đến Tokyo thôi.
- Kyoto rất đẹp. Cố đô cũ của Nhật. Mọi thứ yên ả hơn nhiều so với ở đây. Ít nhất là nơi tôi sống, mọi thứ đều yên ả và nhẹ nhàng.
- Chị nên về nhà...
- Nhưng về nhà không giải quyết được vấn đề của tôi.
Vấn đề của tôi. Đằng sau cánh cửa này không biết là thế giới nào; nhưng chắc là không vui vẻ gì. Nam im lặng.
- Anh đã bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ toán chưa? - Aika hỏi, giọng dịu xuống.
Nam im lặng.
- Không, tôi không nghĩ đến việc đó. Tôi cũng có lúc chán học, nhưng ai cũng có lúc chán học cả. Chị đừng lo, rồi mọi chuyện sẽ qua và chị sẽ lại thấy yêu thích toán như trước thôi. Chị hãy đi đâu đó nghỉ, rồi sẽ khá hơn.
- Nhưng nếu đây không phải là vấn đề thời điểm, không phải sự mệt mỏi bình thường, mà là tôi đã chọn sai, thì sao?
- Không phải đâu, chị biết rõ sự lựa chọn của chị. Ai cũng có lúc cảm thấy thế này. Rồi sẽ qua thôi. Chị chịu khó tập thể thao, hoặc đi chơi xa. Hãy về nhà một thời gian, rồi chị sẽ lại bình tĩnh trở lại.
- Không, anh không hiểu rồi...
- Chắc chị bị stress rồi, hãy tập thể thao hoặc đi đâu đó nghỉ một thời gian; rồi chị sẽ trở lại bình thường.
- Anh không hiểu rồi!!!
- Không hiểu ư? Không hiểu ư? Một cơn giận bất chợt dâng lên bóp nghẹt lấy anh, gần như làm anh tắc thở và đau thắt trong lồng ngực. Anh có thể giết chết một ai đó vào ngay lúc này. Chọc dao vào cổ cho tóe máu ra, rồi thảnh thơi ngoảnh đi - ví dụ thế chẳng hạn. Anh có thể giết chết ai đó. Nam cảm thấy như máu trào ra trong họng anh, tanh lợm.
- Aika, xin lỗi chị, có lẽ tôi phải đi ăn tối một lát... - Nam nói, cố gắng ghìm giọng xuống.
- Tôi xin lỗi. Có lẽ tôi cũng nên kiếm cái gì ăn tối. Tôi có thể gọi lại cho anh sau không? Thú thật là tôi buồn chán quá; tôi muốn nói chuyện với một ai đó; chuyện gì cũng được, bất cứ chuyện gì anh thích...
- Chắc chắn rồi, chị cứ gọi lại. Nam không đói nhưng anh vẫn quyết định đi bộ ra phố ăn tối. Anh để đầu trần. Trời rét căm căm và tuyết đóng thành một lớp băng mỏng trên lối đi. Anh phải men theo rìa cỏ mỏng ở bên mép đường để khỏi ngã. Đi một lúc, Nam nhận ra các cửa hàng đều đóng cửa vào đêm lễ; chỉ còn có McDonald, KFC và các hàng fastfood là mở cửa.
Nam quyết định đi vào McDonald mua một cái bánh mì kẹp. Ở cửa ra vào, anh thấy một người đàn ông da đen đứng co ro cầm một cái cốc nhựa xin tiền. Nhiều người khổ hơn mình nhiều (chắc vậy). Anh bỏ vào cốc 50 xu. Người đàn ông cảm ơn và nhanh nhẹn mở rộng cửa cho anh vào. Trong lúc ngồi ăn, Nam băn khoăn không biết Aika ăn gì vào buổi tối.
Đến một lúc nào đó, trong khi nhai, Nam nhận ra mình đang nghĩ đến một thành phố khác. Anh tưởng tượng ra một ngôi đền cổ ở Kyoto, sân đền lát đá xanh, phủ đầy rêu phong. Bao quanh đền là những rặng hoa anh đào đang nở rộ. Và dưới bóng một cây anh đào đỏ chói, Aika đang ngồi chậm rãi gắp thức ăn từ trong những cái hộp gỗ sơn mài nho nhỏ màu đỏ và đen - loại vẫn thấy bán ở khu phổ cổ Hà Nội cho khách du lịch Tây. Aika không hề ngẩng lên khi ăn; trong lúc đó, những cánh hoa anh đào cứ rơi xuống như mưa ở xung quanh chỗ Aika ngồi, thành một quầng tròn đỏ, tươi rói như máu ứa, như mực son Tàu.
Anh khẽ lắc đầu để tẩy cái vệt son đỏ ra khỏi não.
Gần 9 giờ tối, chuông điện thoại lại đổ. Nam nhìn số và nhận ra số điện thoại của Aika. Tim anh nặng trĩu. Anh lưỡng lự rồi quyết định để kệ cho chuông điện thoại đổ dài. Không thấy Aika để tin nhắn.
Mười một giờ đêm, Nam nằm trên giường đọc sách. Chuông điện thoại lại đổ, xâm chiếm cả căn phòng. Anh nhìn số. Tim anh đập thình thịch. Vẫn là Aika.
Nam biết rõ anh không thể.
Sau đó, khi căn phòng đã trở lại im ắng, Nam bấm nút vặn nhỏ chuông đi, để nếu có ai đó gọi lại thì anh sẽ không nghe thấy.
Sáng hôm sau, khi Nam tỉnh dậy, trên màn hình điện thoại không báo cuộc gọi nhỡ nào.
Nam thở ra, cúi nhìn hai lòng bàn tay mình. Anh thấy chúng như tay của một người lạ.
*
Nửa năm trôi qua. Có một chiều cuối mùa xuân, Nam đang thả bộ trên đường từ trường về nhà thì gặp Toko. Họ không gặp nhau đã lâu kể từ khi Toko tốt nghiệp và rời khỏi trường mùa đông trước đó. Hai người tay bắt mặt mừng. Họ rủ nhau tạt vào Starbucks uống một tách cà phê và nói chuyện. Câu chuyện được hơn 1 tiếng thì nhạt dần. Bên ngoài đèn đường bắt đầu được thắp lên. Nam nói hững hờ để giữ câu chuyện trong lúc họ đứng dậy mặc áo choàng chuẩn bị ra về:
- Cách đây lâu rồi, Aika có gọi điện cho tôi. Không biết cô ấy dạo này ra sao. Đã tốt nghiệp và về Kyoto chưa nhỉ?
Toko đang đi dở găng tay, ngừng hẳn lại nhìn Nam:
- Aika ở bên DePaul à? Anh không biết gì sao?
- Biết gì?
- Cô ấy chết được nửa năm rồi. Cô ấy tự tử vào đúng đêm Thanksgiving năm ngoái. Cô ấy chích dao vào bụng rồi cứ để máu chảy ra đến chết. Theo kiểu samurai ngày xưa. Thế mà nửa năm rồi...
Nam đưa hai tay lên, ngọ nguậy những ngón tay cho dẻo, rồi cẩn thận đi găng tay. Toko đã đi xong găng và đội mũ. Họ chào nhau ở ngoài cửa, rồi bước về hai ngả dưới làn mưa bụi lắc rắc của mùa xuân. Nam ngoái nhìn theo Toko, tự hỏi nửa năm nữa hay bao giờ thì anh sẽ lại nhìn thấy Toko.
Báo Người Lao Động

Sanya
02-10-2005, 05:06 PM
Ở nơi này mùa xuân đi qua rất chậm. Trên những thảm cỏ ướt tháng hai, từng bầy con gái nhảy múa và xe sợi, gom lại những chùm hoa đỏ rực rỡ để chờ ngày mang về nhà chồng. Tôi ngồi nhìn con suối vắt qua trước nhà, nhìn những trái mơ non lông trắng mượt trên những tàn cây trước cửa, thấy lòng nhẹ thoảng như một vệt gió.
Mẹ tôi ngồi khâu lại cái túi nhỏ xíu, cho mấy đồng bạc trắng vào trong và bảo, mang về dưới thành phố, đi đường xa thì nhét vào túi áo túi quần, kẻo cảm lạnh. Tôi bảo, đến khi con lấy vợ, mẹ có làm túi bạc cho vợ con không? Mẹ tôi nhìn tôi, còn tùy con dâu đã. Tôi bảo, chắc chắn là đẹp rồi. Mẹ tôi bảo, đẹp chẳng để làm gì. Đàn bà thành phố như yêu tinh.
Tôi nhìn đám con gái tóc dài xuống suối lạnh. Nắng bắt đầu tràn qua những ngọn đồi, bốc khói những đám sương ướt. Mẹ tôi nhìn theo, chép miệng, con gái xóm mình đẹp, nhưng toàn lấy mấy thằng nát rượu, phí thân.
Tôi bảo, nếu con lấy một trong những đứa con gái dưới suối, mẹ ưng đứa nào? Mắt mẹ tôi sáng ngời: Con Phần. Nó đẹp nhất xóm. Mà đảm đang. Tôi lại bảo, mẹ có chắc là nó sẽ chịu ở nhà với mẹ không? Con xuống thành phố, chắc là sẽ có nhân tình, nhưng sẽ không bao giờ bỏ vợ. Mẹ tôi bảo, thằng mất dạy, làm đàn bà nhục vì có những thằng đàn ông tham dục. Tôi cười. Nắng lên cao, vời vợi những đỉnh đồi trước mặt. Đám con gái thôi xe sợi, líu ríu đi qua ngõ nhà. Mẹ tôi gọi: Phần. Phần vào nhà, chân trắng, lông mày cạo thành vệt như sợi chỉ, đẹp cổ điển. Tôi bất giác cười, nghĩ đến những cô nàng thoáng qua tại các trung tâm ngoại ngữ ban đêm, mắt mày xăm đậm kỹ lưỡng. Họ có vẻ đẹp sắc sảo của họ. Họ không bao giờ là Phần được. Tôi bảo, Phần mấy tuổi. Phần cười, em hai mươi. Hai mươi mà chưa lấy chồng sao? Phần lại cười, chẳng nói. Mẹ tôi ngừng khâu, nhìn Phần cười, làm con dâu tao đi cho xong, mày đẹp người. Đám con gái cười rinh rích. Tôi cũng cười. Tôi không thích Phần.
Cái thung lũng này như một miền đất hứa, cứ vài năm lại nảy thêm một nóc nhà mới, chẳng biết từ đâu về và tuyệt nhiên không ai có ý định bỏ đi. Mỗi nhà một dân tộc, một tiếng nói khác nhau. Nhưng đều êm đềm cả. Những người đàn ông đi biền biệt. Năm thì mười họa mới về. Những người đàn bà thì chờ đợi.
Mẹ tôi sống quanh năm trong mấy nếp nhà sàn không muộn phiền. Mẹ bảo, tôi là con trời nên đi đâu cũng được, mẹ cũng chẳng lo lắng, chẳng ngại sợ những mưu chước của người đời. Tôi nhớ những ngày nhỏ, mùa đông thường rất dài. Ngày đó mẹ vẫn thường bảo, một buổi tối trời mưa dông sấm sét, mẹ đi lên núi Tả Van lấy lá thuốc về đắp chân cho bà ngoại. Đi ngang gốc cây dẻ sồi lớn, bỗng có tiếng nổ đinh tai. Mẹ ngất lịm đi. Sáng sớm tỉnh dậy, mẹ thấy mình đang ngập chìm trong bùn đất và cây dẻ sồi ngã vật ngang con suối, thân hình nó vạm vỡ như người đàn ông cường tráng nhất làng. Mẹ lấy tay khoét những vuông bùn quanh mình để tự giải cứu. Khi bước lên khỏi đám bùn ấy mẹ thấy thân mình nặng trĩu, như vừa trải qua một cuộc giày vò kinh khủng, chính mẹ cũng không hiểu vì sao. Cái cảm giác như vừa bị ngã ngựa, vừa đau rát phía cửa mình, vừa bần thần hoan lạc. Trên đám bùn rộng chảy tràn con suối, có những vết chân vừa to vừa dài đi hun hút lên phía thượng nguồn. Mẹ định thần lại, mẹ ngồi trên thân cây dẻ sồi. Mẹ bảo, mỗi khi trời nổi cuộc ngông cuồng, sau mây mưa vần vũ là một thiên thần xuất hiện. Chân thiên thần vừa to vừa dài, người đến rồi đi không ai biết mặt. Nhưng đó là một khuôn mặt đẹp, đẹp hơn hoàng tử, đẹp hơn cả ông Hẳng Bồ Câu suốt ngày tập khí công trên đỉnh núi Tả Van...
Những ngày sau, cuộc sống của mẹ cứ bấn loạn lên vì những thay đổi bất thường, những thay đổi khiến bà ngoại cũng không ngờ tới. Mẹ mới tuổi hai mươi, mẹ chẳng biết gì nhiều. Khi thiên hạ đồn ầm lên, đến tai bà ngoại thì cũng là lúc tôi gào khóc đòi nợ cuộc đời. Bà ngoại lịm đi, không nói được gì và cũng chẳng muốn nói gì. Rồi bà kiệt dần. Hồn bà bay khỏi mái nhà tranh khi mẹ đưa tôi ra suối gội sạch đám cứt trâu trên đầu đúng ngày đầy tháng.
Suốt những ngày ấu thơ, tôi vẫn thường huênh hoang với đám bạn, tôi là con của thiên thần, sinh ra từ gốc cây dẻ sồi và tôi khỏe mạnh cũng bởi được thừa hưởng sức lực cường tráng từ mạch nguồn bí ẩn đó. Và cho đến tận năm mười bảy tuổi, tôi vẫn thích tin vào những câu chuyện của mẹ, câu chuyện bí ẩn về thân phận tôi trong cuộc đời này. Mẹ tôi bảo tôi, mấy hôm nữa đi rồi chừng nào về? Mày có ưng con Phần để tao qua bảo với nhà người ta. Tôi cười, tôi không thích Phần. Mẹ cũng chẳng ngăn cản tôi đi đâu. Mẹ sinh cho trời đất một đứa con ngang bướng. Và mẹ để tôi đi, say mê đi và rồi âm thầm trả giá. Lúc nào chán mỏi thì lại về với mẹ...
...Mười bảy tuổi. Tôi lộc ngộc như con gà chọi, mắt thao láo, mặt đỏ gấc nhìn cái mái tóc dài như một búi quả mây. Chị mười tám, bỏ trốn khỏi nhà chồng đã được năm năm. Thực lòng tôi không biết chị đến nhà tôi từ đâu, chỉ nghe mẹ kể nhà chị ở bản người Mông, bố chị là ông già bán than củi khô mỗi chợ phiên. Tôi không đánh dấu ngày chị về ở chung một gian bếp với mẹ tôi, chỉ thấy đã thành thân thuộc. Để về sau nhớ lại, tôi nhớ mãi cái sợi chỉ nhỏ mảnh căng trên đôi mắt chị, đẹp miệt mài.
Mãi về sau tôi mới biết những bão dông của chị trong đêm tối tuổi mười ba. Chị nhớ rất rõ, đêm đó là hội trùm chăn, đám con gái như những búp xuân mưng mẩy mong ngóng được bắt trộm đem về làm vợ. Chị chẳng mong như vậy. Anh trai chị hùng hục lôi chị từ phòng trọ của trường nội trú lên lưng ngựa, bắt chị về nhà. Mẹ chị tự tay khâu váy đẹp, bắt chị mặc để đợi được bắt đi. Mẹ chị bảo, đàn bà học nhiều chỉ để cãi nhau. Cái đêm hôm ấy, trong bóng đuốc lấp loáng sáng, người ta đi chơi, người ta uống rượu rộn ràng. Mưa gió gọi nguồn bất chợt kéo nhau về. Mưa ầm ào, mưa rộn rã. Chị vân vê cuốn sổ tay mà thầy giáo chủ nhiệm dạy văn đẹp trai trao tặng. Cuốn sổ tay có vẽ bông hoa đỏ rực, màu hoa như màu môi. Thế rồi bất ngờ chị bị bịt kín chăn, bị vác trên vai, xuôi dốc rồi ngược dốc. Chị quẫy đạp. Chị quăng mình trong đám cỏ rậm. Chị nhìn thằng trai say rượu đang cầm khúc cây định bổ xuống thân mình. Chị hoảng sợ, cầm hòn đá quăng ngược trở lại. Thằng trai say rượu ôm mặt, khóc tu tu như một đứa trẻ con. Chị chạy ngược suối, chị tìm về đây và gục xuống cầu thang của mẹ tôi. Mười ba tuổi chị đã một đời làm vợ. Về sau bố chị cũng ghé tìm. Nhưng chị tránh mặt. Mẹ tôi cũng cho chị tránh mặt. Bố chị biết, nhưng chỉ thở dài. Ông âm thầm một đời, lên núi đốt than để kiếm tiền đền con gái cho người ta.
Tôi nhìn chị quay tóc bên vại nước. Chị mười tám, người chị như con cá trắm. Chị thích vẽ những bông hoa màu môi đỏ rực, nghĩ nhiều đến những tháng ngày ngắn ngủi ở thị trấn với người thầy giáo đẹp trai. Tôi biết điều đó khi theo chị lên núi bẻ ngô. Chị luôn mang theo cuốn sổ bên mình. Tôi lén xem, tất cả các trang viết đều đã nhòe ướt, chắc có lẽ bởi nước mắt, nhưng sao bông hoa màu môi vẫn đỏ rực không thôi. Chị nhìn tôi với cái mặt ngơ ngáo màu gà chọi mà cười. Thế mà tôi vẫn cứ nhìn. Chị cột tóc lên cao, cái cổ trắng ngần, bầu ngực phập phồng thở. Rồi chị đi lên núi hái chè. Tôi ngồi trên thềm nhà, nhìn ra những cây mơ trụi lá ngoài vườn, nghĩ xa xôi mà không sao dứt khỏi trái lê màu trắng phập phồng phía trong ngực áo chị. Đêm đó tôi thao thức. Ngày hôm sau vẫn thao thức. Có cái gì đó đau tức, như muốn trào ra, vỡ ra từ phía dưới thân mình. Đêm ấy tôi giã từ mười bảy năm non trẻ.
Mười tám tuổi. Tôi đếm kỹ tất cả số bạc trắng được cất giữ suốt từ ngày bà ngoại mười tám tuổi cho đến khi cây tùng thông trên mộ bà đã cao quá hai đầu người. Chúng khá nhiều và nặng. Mẹ tôi bảo, đem về thành phố mà ăn học thành tài.
Cái đêm cuối cùng tôi ở lại nhà trước khi về thành phố. Tôi thực tâm không nhớ đêm đó có trăng hay không, nhưng hình như mới quá rằm. Chị bảo tôi, mai Toàn đi rồi, có thấy buồn, có thấy nhớ nhà không? Tôi chẳng buồn nói với chị nữa. Tôi chẳng buồn. Chỉ thấy nhớ cái mái nhà này, mảnh vườn này, nhớ mẹ và nhớ chị. Tôi đi lên núi chào ông bà ngoại. Núi đầy sương và cây lá thẫm sậm như những khối thạch đen óng mượt. Chị chạy theo tôi, bước chân chị thình thịch. Chúng tôi cùng chào ông bà ngoại và ngồi lại. Trong mùi cỏ già đơm hạt, mùi hoa dẻ xôn xao từ những suối khe, mùi những trái bồ kết rụng xào xạc trong đêm ngai ngái. Chị tựa vào vai tôi, tóc thơm mùi hoa dại, mắt khép như một vầng trăng kín. Chị bảo, ngày mai phía trước Toàn là cả một cuộc đời. Còn tôi mãi vẫn chỉ có bông hoa màu môi làm bạn. Tôi sẽ là một thứ ma khô. Tôi không nhìn chị, chỉ nhìn vào khoảng bóng tối trước mắt, nghe tiếng thầm thì của những bóng hoa rớt về đêm. Tôi nhìn mãi vào đó để rồi bất ngờ nhận ra những chiếc cúc áo của mình đã được cởi hết. Tay chị nhẹ lướt xuôi xuống. Những miền cỏ xanh mùa xuân dậy thì. Và những bí mật. Tôi ngã vật ra đám cỏ. Cái đôi tay, như thiên thần dịu nhẹ, nhịp nhàng. Phía trên người tôi là một bầu máu nóng ngập tràn. Tôi đi nhẹ nhàng trong giấc mơ không ngày tháng. Si mê, cuồng dại. Những vòng quay bất tận. Trên cỏ. Bất chợt như vần vũ. Bất chợt gió. Bất chợt mưa. Và lóe chớp. Giấc mơ trong thân thể tôi như dòng nước suối khe chảy vào vùng bất tận. Mình tôi giật mạnh, sức tôi trôi đi cùng với giấc mơ của người đàn ông mười tám tuổi. Tôi nằm vật ra, mặt ngửa lên trời. Trong mưa gió vẫn có một vì sao cháy trên bầu trời. Mưa tràn lên thân thể tôi và chị. Mát lịm. Chị hôn lên những hạt mưa. Rồi bất thần bỏ chạy. Một mình tôi nằm lại. Nằm tới khi trời sáng, mưa tạnh. Tôi mơ thấy vết chân mình to như vết chân thiên thần. Tôi khóc...
...Tôi thường gắn những kỳ nghỉ Tết và nghỉ phép luôn thể, về chơi với mẹ. Đêm cuối ở nhà với mẹ, tôi định hỏi chuyện về chị nhưng lại thôi. Đám con trai kéo đến, rủ đi đánh bữa rượu, mai thì biền biệt suốt cả năm mới về. Mẹ tôi bảo, mai tàu xe xa, đừng nên uống nhiều. Bạn bảo, uống chút nữa, cho say cho mê, không mai mốt lại quên đường về nhà. Uống rượu với thịt trâu khô, rượu thật đậm đà. Rồi đi trêu gái. Đi xa quá. Mà đường về chếnh choáng. Tôi đi liêng biêng trên những triền dốc cao. Mỗi thằng con trai lại tìm được một cái bếp đàn bà rồi chui vào ngủ lại. Còn tôi, tôi bị thành thị làm phai mùi mồ hôi, chẳng đứa con gái nào theo nữa. Tôi đi, một mình cũng đi. Có tiếng sáo thổi bài ca gì, thật chẳng nhớ. Và tiếng sáo ngưng. Và trên trán tôi là bàn tay con gái. Anh Toàn đã say rồi, ngồi đây lạnh là mai không đi về thành phố được đâu. Tiếng của Phần. Tôi như lịm đi. Phần bảo, mai anh về thành phố, chắc chẳng nhớ em đâu. Nhưng em thì nhớ anh. Tôi bảo, đàn ông ra thành phố dễ hư hỏng, Phần tin làm gì. Em sẽ ở lại với mẹ, lúc nào thích thì anh về cũng được. Tôi nhìn nước mắt Phần. Nước mắt đẹp. Nhưng tôi bỏ chạy. Phần ngồi phịch xuống cỏ, khóc dấm dứt. Suốt đêm đó quẩn trong thung lũng là tiếng sáo réo rắt. Mờ sáng hôm sau, tôi lách qua phên giậu của mẹ. Tôi đi...
Tôi đi như tháng giêng mười tám tuổi...
Tháng 5 – 2005
Truyện ngắn của Dương Bình Nguyên

Sanya
02-10-2005, 05:07 PM
Dương Bình Nguyên, sinh năm 1979 tại Thái Nguyên. Tốt nghiệp Học viện An ninh năm 2001, hiện đang là phóng viên Ban Thời sự, Báo Công an Nhân dân. Đã in 3 tập truyện ngắn: Làng nhan sắc - NXB Văn nghệ TPHCM - 2001; Về lại thiên đường - NXB CAND - 2003; Hoa ẩn hương - NXB Hội Nhà văn - 2005. Một số giải thưởng, trong đó có giải A truyện ngắn hay Báo Người Lao Động Cuối tuần 2003...

Sanya
02-10-2005, 05:09 PM
Truyện ngắn của Pierre Bellemare (Đào Duy Hòa dịch)
Thứ sáu, ngày 3 tháng 3 năm 1944. Đồng hồ trên tường chỉ gần 12 giờ khuya. Angelo Caponegro bồn chồn đứng ngồi không yên. Từ ba tháng nay, anh được bổ nhiệm làm trưởng ga tàu hỏa Balvano nằm giữa Naples và Rome. Vài tuần qua, anh bù đầu với công việc...
Nước Ý đang trải qua thời kỳ hết sức đen tối. Từ mặt trận phía Nam, quân đồng minh đang tiến dần lên phía Bắc với những trận đánh nảy lửa. Được sự hỗ trợ của quân phát xít Đức, miền Bắc nước Ý vẫn nằm trong tay nhà độc tài Mussolini. Những tháng đầu năm 1944, nước Ý bị chia cắt manh mún, oằn oại trong cuộc chiến tàn khốc.
Như các trưởng ga ở những vùng có chiến tranh, Angelo Caponegro làm việc dưới áp lực và tinh thần trách nhiệm cao. Bằng mọi cách phải bảo đảm an toàn cho các chuyến tàu chở dân tị nạn ra khỏi vùng giao chiến mà không bị phi cơ Đức oanh tạc. Qua khung cửa kính, Angelo thấy khoảng trên chục hành khách đang chờ đi chuyến tàu số hiệu 8017 sẽ đến ga Balvano lúc 0 giờ 10 phút. Angelo đang trông chờ tàu đến. Đây là chuyến tàu cuối cùng trong ngày.
Tiếng còi hú một hồi dài trong đêm vắng. Angelo bước ra sân ga. Chuyến tàu mang số hiệu 8017 mà trạm cuối là Rome đang chạy vào ga, nhả ra phía sau một vệt khói dài, đen kịt. Tàu giảm dần tốc độ rồi dừng hẳn giữa sân ga. Khách chờ bước vội lên tàu. Hầu như mọi hành khách trên tàu đều mệt mỏi ngủ gà ngủ gật. Tất cả đều đi đến ga cuối: Rome.
Angelo đi lên phía đầu tàu để trao đổi với lái tàu. Do nguồn dân tị nạn tăng đột biến nên phải nối thêm 5 toa tàu và tăng cường thêm một đầu kéo... Angelo hỏi lái tàu:
- Mọi việc êm xuôi chứ?
Người nhễ nhại mồ hôi, lái tàu nghiêng mình ra ngoài cửa sổ đáp:
- Đến đây thì mọi thứ đều suôn sẻ. Nhưng sắp tới sẽ khó khăn đấy. Qua ga Balvano tàu phải leo dốc đèo. Phải dự trữ đủ lượng than cho đầu kéo.
Angelo trấn an lái tàu:
- Tôi sẽ cung cấp đủ than cho hai đầu kéo.
Than được chuyển ngay lên tàu. Trong lúc đó nguyên đoàn tàu dài nằm im: Tất cả hành khách đều ngủ vì mệt sau những ngày dài phải đối phó với hiểm họa chiến tranh...
Việc tiếp tế nhiên liệu cho tàu mất hết 40 phút. Lúc 0 giờ 50 con tàu sẵn sàng chuyển bánh. Sau hồi còi dài, con tàu rùng mình chuyển động. Angelo đứng nhìn theo cho đến khi hai bóng đèn đỏ nơi đuôi tàu mất hút trong màn đêm. Anh quay vào phòng làm việc sắp xếp lại sổ sách và ngồi chờ cú điện thoại của Luigi, trưởng ga kế tiếp, thông báo chuyến tàu 8017 đến ga an toàn, trước khi lên giường ngủ. Đoạn đường từ Balvano đến ga Bella Muro dài khoảng trên 20 km. Thông thường tàu chỉ mất 15 phút hoặc tối đa là 20 phút nếu có tăng cường thêm toa.
Dưới ánh sáng mờ tỏa ra từ bóng đèn trong phòng, Angelo bật lửa châm một điếu thuốc, mắt lim dim mơ tưởng sắp được ngả lưng đánh một giấc sau ngày làm việc căng thẳng. Anh mơ về ngày chiến tranh kết thúc, hòa bình lập lại trên đất nước... 1 giờ 5 phút. Giờ này chuyến tàu 8017 phải đến ga Bella Muro. Angelo nhìn vào chiếc điện thoại móc trên tường, bồn chồn chờ tiếng chuông reo và giọng nói quen thuộc của Luigi thông báo tàu đến nơi... Nhưng chiếc điện thoại vẫn im thin thít. Anh châm điếu thuốc thứ hai. Đồng hồ chỉ 1 giờ 25. Ba mươi lăm phút đã trôi qua từ khi tàu xuất ga. Bỗng chuông điện thoại reo vang. Angelo nhấc máy và nhận ra ngay giọng nói của Luigi, trưởng ga Bella Muro. Nhưng sao hôm nay giọng nói của Luigi không bình thường mà pha lẫn bực dọc:
- Chuyện gì xảy ra với tàu 8017 thế? Chán chết đi được khi phải dài cả cổ ngồi chờ, tớ buồn ngủ quá đi thôi!
Đến lượt Angelo giật mình:
- Cậu nói sao? Nó đã rời khỏi Balvano được hơn 40 phút rồi còn gì!
Bất chợt Angelo tỉnh táo hẳn, sự mệt mỏi tan biến nhường chỗ cho cảm giác lo lắng pha lẫn tò mò. Phải chăng đấy là linh tính báo trước điều gì không may xảy đến với tàu 8017? Angelo cảm thấy có điều gì đó không bình thường đang diễn ra. Hẳn là tàu 8017 không bị dội bom bởi anh không nghe tiếng phi cơ hay tiếng bom nổ. Không lý gì tàu 8017 lại không leo nổi dốc vì nó được tăng cường thêm một đầu kéo. Có thể tàu leo dốc hơi chậm nhưng lẽ ra nó phải tới Bella Muro từ lâu rồi chứ...
Để quên bớt âu lo. Angelo xem lịch tàu đến và rời ga của ngày hôm sau. Nhưng càng đọc nỗi lo âu càng lớn dần. Những con số chỉ giờ tàu đến và đi không còn đúng theo lịch như trước đây nữa. Từ nhiều tuần qua, lịch tàu chạy chỉ mang tính tượng trưng. Chiến tranh là như thế. Tàu đến rồi đi bất cứ lúc nào có thể để tránh phi cơ Đức. Lắm khi các trưởng ga chỉ được thông báo giờ tàu đến và đi vào phút cuối...
Hai giờ khuya. Chắc chắn là có chuyện trầm trọng xảy ra với tàu 8017. Angelo gọi cho Luigi nhiều lần nhưng lần nào cũng chỉ nhận được câu trả lời “Nó vẫn bặt vô âm tín”.
Giờ thì Angelo không thể ngồi chờ được nữa. Anh quyết định gọi báo cho trạm sửa chữa đầu máy nắm tình hình và yêu cầu gởi ngay đến Balvano một toa đầu máy để cùng phối hợp đi khảo sát tuyến Balvano - Bella Muro. Đầu máy đến Balvano lúc 2 giờ 40 phút. Từ ga Bella Muro, Luigi cho biết vẫn chưa thấy bóng dáng tàu 8017!
Đầu máy đi khảo sát di chuyển với tốc độ khá chậm để đề phòng bất trắc... Tàu 8017 có thể đã trật đường ray... Trong tình huống tranh tối tranh sáng như thế này, cẩn thận là trên hết. Ở những cây số đầu tiên, không việc gì lạ ở hai bên vệ đường. Hai thanh ray của tuyến đường sắt chạy song song, thẳng tắp. Toa đầu máy đến đường hầm đầu tiên. Angelo bỗng hét to:
- Dừng ngay!
Tàu 8017 đang nằm bất động ở phía trước. Con tàu đã vào trong đường hầm, chỉ toa cuối cùng là còn nằm bên ngoài. Angelo và lái tàu nhảy vội xuống đất. Họ chạy đến tàu 8017. Đèn trong các toa tàu vẫn chiếu sáng nhưng tuyệt đối không nghe thấy một âm thanh hay tiếng động nào. Cả hai đầu máy kéo đều bặt tiếng. Sự im lặng đến rợn người ngự trị cả không gian tĩnh mịch của đêm tối. Tay cầm đèn, Angelo bước tới toa cuối của đoàn tàu. Trong ánh sáng mờ mờ, anh nhận ra vài bóng người trên đường ray. Anh rọi đèn vào... và khựng lại. Trước mắt anh là một phụ nữ gương mặt thất thần, bên cạnh là một cậu bé. Xa hơn một tí là hai ngươi đàn ông vẻ lừ đừ, mệt mỏi... Điều làm cho Angelo kinh ngạc là tóc người phụ nữ có màu xám trong khi gương mặt cô ta hãy còn trẻ, chỉ độ trên 20 tuổi. Cậu bé khoảng 6 - 7 tuổi nhưng mái tóc cũng phủ một màu xám! Angelo cất giọng hỏi:
- Chuyện gì đã xảy ra thế này?
Câu trả lời là tiếng khóc nức nở của người phụ nữ và cậu bé. Hai người đàn ông cũng tức tưởi khóc. Đi về phía họ, Angelo phát hiện mái tóc của cả hai cũng bao phủ một màu xám! Anh muốn hỏi thăm nhưng đành thôi vì họ đang ở trong tình trạng căng thẳng khó trả lời.
Angelo cắn răng cầm lòng trước cảnh thương tâm. Anh bước tiếp về phía miệng đường hầm. Mỗi bước đi thể hiện sự gan dạ phi thường đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm của một trưởng ga. Phải tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra với tàu 8017.
Anh vừa qua khỏi toa tàu cuối của đoàn tàu. Hiện anh đang đứng dưới vòm của miệng đường hầm. Khung cảnh hoàn toàn bao trùm bởi sự im lặng rờn rợn. Anh bước lên toa tàu kế tiếp, mở cửa và bước vào buồng đầu tiên. Có 8 hành khách ngồi trên hai dãy băng dài gồm phụ nữ, đàn ông và trẻ con. Trên sàn tàu là đống hành lý hỗn độn gồm đủ loại vật dụng mà người tị nạn thường mang theo. Mọi người có vẻ như đang say ngủ. Angelo đưa tay vỗ nhẹ vai người gần nhất. Ông ta lật ngang và lăn đùng xuống sàn tàu kéo theo tấm thân gầy còm của người phụ nữ ngồi kế bên.
Năm phút sau, Angelo bước ra khỏi đường hầm, gương mặt thất sắc, tái xanh như tàu lá. Anh nói với lái tàu:
- Tất cả đều hồn lìa khỏi xác. Trên 500 sinh mạng con người!
Angelo làm bản báo cáo lên chính quyền các cấp. Tuy nhiên, do tình hình chiến tranh nên sự việc được giữ bí mật. Mãi về sau, ủy ban điều tra mới công bố nội bộ nguyên nhân của vụ "tai nạn" được xem là sự kiện hy hữu nhất trong lịch sử đường sắt mà cho đến bây giờ ít người biết đến.
Kết luận của ủy ban điều tra vụ tai nạn khá là hợp lý: Trong đường hầm có một đoạn dốc cao, có thể nói là cao nhất trên cả tuyến. Hai đầu máy không đủ sức kéo nên cả đoàn tàu đứng khựng lại. Than được đốt tối đa và lái tàu nhấn hết ga hòng vượt qua đoạn dốc. Chất lượng than lúc bấy giờ rất xấu. Khi đốt, nó thải ra lượng lớn ôxýt cacbon. Loại khí rất độc hại này nhanh chóng lan tỏa trong đường hầm. Hành khách và nhân viên đoàn tàu hít phải khí độc và tử vong.
Trong đêm 3 rạng sáng 4-3-1944, có tất cả 521 nạn nhân chết trong vụ tai nạn. Chỉ 4 người còn sống sót nhờ ngồi ở toa cuối cùng nằm bên ngoài đường hầm lúc xảy ra sự việc. Tuy nhiên, họ cũng bị nhiễm độc khá trầm trọng. Tóc họ chuyển sang màu xám. Khí ôxýt cacbon đã làm tổn thương não bộ không thể nào hồi phục.
Riêng đối với Angelo Caponegro, là một đêm kinh hoàng mà anh không bao giờ quên trong đời.
KTNN
Báo Người Lao Động

Sanya
29-11-2005, 10:06 AM
Một cậu bé viết thư cho ông già Noel.

"Kính thưa ông già Noel!
Cha mẹ cháu rất nghèo và cháu biết rằng hai người sẽ không có khả năng tặng quà cho cháu vào ngày lễ Giáng sinh năm nay. Nhưng cháu không đòi hỏi gì nhiều, cháu chỉ mong có được một chiếc mũ, một chiếc khăn quàng và đôi găng tay để cùng các bạn đùa vui trong tuyết. Cháu biết ông già Noel rất tốt và cháu xin cảm ơn ông trước".

Cậu bé ghi "Kính gửi ông già Noel" ngoài phong bì, bỏ lá thư vào và mang đi gửi.

Cô nhân viên bưu điện phân phối thư, nhìn thấy bức thư ngộ nghĩnh, bèn mở ra xem. Cô rất cảm động, bèn bàn bạc với các đồng nghiệp của mình và quyết định cùng nhau góp tiền mua quà tặng cậu bé. Nhưng các nhân viên bưu điện cũng không được khá giả cho lắm. Họ chỉ góp được số tiền vừa đủ mua một chiếc mũ và một chiếc khăn quàng. Sau đó họ dùng giấy thật đẹp để gói hai món quà lại và gửi đến địa chỉ của cậu bé với dòng chữ: "Ông già Noel gửi cho cháu".

Vài tuần sau, cô nhân viên bưu điện lại gặp một bức thư tương tự như hôm trước: "Kính thưa ông già Noel, cháu cảm ơn ông đã gửi cho cháu chiếc mũ và khăn quàng. Nhưng vì không có găng tay nên cháu không thể cùng các bạn chơi trong tuyết được. Dầu vậy cháu không giận ông đâu, vì đây không phải lỗi của ông. Chắc chắn là các nhân viên bưu điện đã chôm của cháu".

Joyeux Noel et Bonne Année!

Sanya
29-11-2005, 10:18 AM
Lịch Sử về ông già noel

Trong khi mọi người đều cho rằng Santa Claus chỉ là chuyện thần thoại thì thực chất Santa Claus lại xuất phát từ truyền thuyết về một nhân vật có thật sống ở thế kỷ thứ 4 tên là Ni-kô-la. Ông là con một trong một gia đình theo đạo Cơ Ðốc giàu có. Ni-kô-la sinh ra vào khoảng những năm 280 tại Patara, một cảng nhỏ của thị trấn Lycia ở Thổ Nhĩ Kỳ. Khi còn nhỏ cậu bé đã được mẹ dạy rất nhiều về kinh thánh nhưng không may, cha mẹ qua đời do bệnh dịch, bỏ lại cậu cùng toàn bộ gia tài.

Ni-kô-la được nhiều người biết đến vì biết thương người nghèo và dành cả đời mình để phục vụ Chúa. Một lần, gặp ba cô gái trẻ không có người cầu hôn vì cha họ quá nghèo, ông liền lấy ba túi vàng và bỏ vào phòng ba cô gái nọ. Nhờ đó mà họ lấy được chồng và sống rất hạnh phúc. Mặc dù vậy, những người La Mã lại luôn khinh miệt ông, Họ bắt giam và tra tấn ông trong ngục tối. Khi Công-xtăng-tin trở thành hoàng đế La Mã thì ông đã trả tự do cho thánh Ni-kô-la . Cũng từ đó Công-xtăng-tin trở thành con chiên của đạo Cơ Ðốc. Ông triệu tập hội nghị Ni-a-xê-a và thánh Ni-kô-la được mời làm đại biểu của hội nghị. Thánh Ni-kô-la được đặc biệt ca tụng vì tình yêu của ông dành cho trẻ em. Người ta đồn rằng các món quà bất ngờ đều do thánh Ni-kô-la mang đến và cũng chính ngài là người luôn mang quà đến cho trẻ em vào các dịp Nô-en.


Bên cạnh đó, thánh Ni-kô-la còn là người bảo vệ cho các thuỷ thủ đảo Xi-xin-li của nước Hy Lạp và nước Nga. ở đất nước Hà Lan, truyền thuyết về thánh Ni-kô-la luôn sống mãi trong lòng mỗi người dân. Vào thế kỉ thứ 16, ở Hà Lan trẻ em thường đặt những chiếc giầy gỗ của mình bên cạnh lò sưởi với hy vọng là chúng sẽ được thánh Ni-kô-la thết đãi no nê. Người Hà Lan phát âm từ St. Nicholas (thánh Ni-kô-la) thành Sint Nicholaas, sau đó nói chệch thành Sinterklaas và cuối cùng được những người theo giáo phái Anh đọc thành Santa Claus.


Hầu hết các truyền thuyết về thánh Ni-kô-la đều bắt nguồn từ Hoa Kỳ. Người Hà Lan khi đến khắp các vùng đất trên thế giới đã mang theo các truyền thuyết về thánhNi-kô-la Họ xây dựng nhà thờ đầu tiên ở New York và lấy tên thánh đặt cho nhà thờ. Năm 1822, Clement Clarke Moore đã viết truyện "Ðêm trước Giáng Sinh" (The Night Before Chrismas) để kể cho trẻ em trong gia đình nghe vào đêm Noel. Câu chuyện có lẽ chỉ được lưu truyền trong gia đình nhà Moore nếu như không có một người bạn của gia đình gửi bản thảo câu chuyện đó tới toà báo.


Nhà sản xuất phim hoạt hình thế kỷ 19, Thomas Nast đã hiện đại hoá hình ảnh ông già Nô-en. Trong phim hoạt hình của mình về Giáng Sinh, ông đã tạo dựng nên hình ảnh ông già Noel vui tính, râu tóc trắng xoá, má đỏ hồng, mặc bộ đồ đỏ trắng, đi khắp ngõ phố mang quà đến cho trẻ em. Trong phim của Thomas Nast, ông già Nô-en dành cả năm để đọc thư trẻ em khắp nơi trên thế giới gửi đến, và sản xuất đồ chơi theo ý muốn của các em. Những hình ảnh này, ngày nay đã gắn liền với truyền thuyết về ông già Noel.




Vị thánh già Ni kô La vui nhộn

Hiểu được rằng bạn đang nóng lòng

Ðừng bao giờ nói bạn là linh hồn đơn lẻ

Tôi sẽ nói cho bạn biết là

Ðêm Nô-en sẽ đến ngay với bạn

Bây giờ bạn là Ông già tuyết thân mến,

Hãy ước cái mà bạn sẽ mang tới cho tôi.

Kể cho tôi nếu bạn có thể.

Phải chăng anh bạn muốn đôi giầy trượt tuyết

Susie muốn một xe đẩy,

Mary muốn một quyển sách.

Cô ấy nghĩ rằng búp bê thật đáng ghét.

Với tôi, với mong ước nhỏ bé của mình

Nó không là mơ ước cao sang

Chọn cho tôi ông già Nô-en thân mến

Người mà bạn cho là tuyệt vời nhất

Với những đứa trẻ của tôi

Những đứa trẻ của tôi thật tuyệt

Vậy hãy chọn điều gì thật thú vị cho chúng

Hãy nghĩ đến cái gì đó đặc biệt và thú vị

Hãy nhìn lại những điều bạn đã làm

Chia cho chúng những đồ chơi của bạn

Và đêm Nô-en sẽ dành cho bạn

Sanya
29-11-2005, 10:22 AM
Dù bạn là một con chiên ngoan đạo hay một kẻ ngoại đạo thì với bạn chắc chắn tặng quà vẫn là một trong những gì thú vị nhất của lễ Nô-en. Những món quà biểu lộ tình yêu của chúng ta với gia đình và bè bạn. Thậm chí với một số người, những món quà Giáng Sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc hơn nhiều. Ðó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa, món quà mà Thượng đế đã ban tặng cho con người.
Khi Chúa Jê-su cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba vị vua đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình với Chúa. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó là vàng, trầm hương và chất nhựa thơm. Vàng tượng trưng cho vương quốc của ngài, trầm hương tượng trưng cho linh hồn của ngài và chất nhựa thơm biểu hiện hình ảnh ngài bị đóng đinh trên cây thánh giá.
Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa hài đồng. Những người chăn cừu tặng ngài hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.
Một câu chuyện kể rằng có một cậu bé nghèo đến mức không có gì cả ngoài một chiếc trống nhỏ. Mong muốn được gặp chúa Jê-su, cậu đã đến Bethlehem với chiếc trống của mình. Khi cậu nhìn thấy Chúa Hài đồng và tất cả những ánh sáng và sự vui vẻ bao quanh ngài, cậu bé nhỏ chợt nhận ra rằng cuối cùng mình cũng có một món quà. Cậu có thể chơi trống. Thế là cậu bé bắt đầu chơi một điệu nhạc êm dịu nghe giống như âm thanh của một cơn mưa mùa xuân, Chúa Hài đồng quay cái đầu bé nhỏ của ngài ra và mỉm cười với cậu bé. Món quà của cậu bé nhỏ không có giá trị vật chất nào cả nhưng lại được tạo ra từ tình yêu thiết tha đối với Chúa.
Giống như nhiều phong tục khác trong lễ Giáng sinh, tặng quà bắt nguồn từ truyền thống cổ xưa trước lễ Giáng sinh. Trong suốt những ngày hội thần Satuya, một lễ hội mùa dưới thời La Mã cổ, người ta thắp nên những ngọn nến nhỏ và đưa ra những hình vẽ tượng trưng. Vào lễ đón năm mới, người ta trao đổi với nhau những món quà tinh xảo hơn. Những người theo giáo hội La Mã tin rằng những món quà ngọt ngào sẽ đem đến một năm mới tốt đẹp, vì thế hoa quả, mật ong và bánh vẫn là những món quà được ưa chuộng. Những nhánh cây xanh bất tử được trao tặng như là một sự cầu chúc sức khoẻ. Những tín đồ La Mã giàu có tặng nhau những đồng tiền vàng để chúc nhau may mắn. Mọi người đều tặng quà, trẻ con tặng quà thầy giáo, nô lệ tặng quà cho ông chủ và dân chúng tặng quà cho hoàng đế của họ.
Dù ba vị vua và những người khác tặng quà cho Chúa hài đồng nhưng tặng quà vẫn chưa trở thành một phần của lễ Giáng Sinh mãi tới tận vài thế kỷ sau ngày sinh của Chúa. Bởi vì những người thiên chúa giáo đầu tiên không muốn tín ngưỡng của họ đi kèm với những lễ hội ngoại giáo.
Thời trung cổ, tặng quà đã trở thành một phần của truyền thống Thiên chúa giáo. Các vị quốc vương Anh, giống như những hoàng đế La Mã yêu cầu thần dân của mình phải dâng tặng cho họ những món quà vào dịp lễ Giáng Sinh. Những người dân thường cũng trao đổi quà, nhưng chỉ có những người giàu có mới tặng nhau những món quà tinh xảo. Dân nghèo tặng nhau những món trang sức rẻ tiền và đem đến niềm vui cho nhau bằng những câu hát, những bữa tiệc và những trò chơi. Ngày tặng quà của Anh (Boxing Day), 26/12 hàng năm, có nguồn gốc từ thời trung cổ khi mà các vị linh mục sử dụng toàn bộ tiền trong hòm quyên góp của nhà thờ để mua những món quà tặng cho dân nghèo. Những người giàu thưởng thức những bữa yến tiệc giáng sinh, sau đó họ gói những thức ăn thừa vào hộp và đem về cho những người hầu của mình. Ngày nay ở Anh, úc và Canada, ngày tặng quà vẫn là thời gian để tặng quà cho những thương nhân, người phục vụ và cho bạn bè.
Trên những đồn điền cổ của Nam Mỹ, một trò chơi có tên gọi “Quà Giáng sinh” trở nên phổ biến với những người nô lệ và nhanh chóng được yêu thích trên toàn bộ đồn điền. Khi hai người gặp nhau trong ngày lễ Giáng sinh, cả hai cùng kêu to “Quà Giáng sinh”, người nào hô trước sẽ nhận được một món quà nhỏ từ người kia.

Sanya
29-11-2005, 10:23 AM
ở Châu Mỹ đương đại, người ta thường đặt những món quà dưới cây thông Nô-en và mở chúng vào ngày lễ Giáng sinh. Trẻ em treo những đôi tất của chúng gần lò sưởi để nhận quà. Tại những bữa tiệc Giáng sinh, đôi khi người ta có một cái túi lớn hoặc một cái giỏ đựng đầy quà. Mọi người nhận quà từ cái túi hoặc giỏ ấy mà không biết ai đã tặng mình món quà ấy.
ở những nước khác trên thế giới, có những phong tục tặng quà tương tự ngoài phong tục trao đổi quà truyền thống trong gia đình.
ở miền Bắc nước Ðức và các nước Scandinavi có một phong tục cổ xưa. Trong đêm Giáng sinh, cửa ra vào của ngôi nhà mở rộng, người ta ném vào nhà những món quà lớn được gói cầu kỳ, mỗi gói quà cho một thành viên trong gia đình. Khi một gói quà được mở ra, người ta sẽ thấy nó chứa một gói quà khác ở bên trong. Gói quà thứ hai nhỏ hơn là dành cho một thành viên khác của gia đình. Một người tiếp theo sẽ mở nó, cứ như vậy gói quà càng ngày càng nhỏ lại cho tới khi người được tặng cuối cùng nhận lấy món quà nhỏ bé đó
ở Thuỵ Ðiển, mỗi gói quà chỉ dành cho một người duy nhất. Nó thường là một món quà đắt và nhỏ được gói trong rất nhiều lớp giấy. Có những câu chuyện kể rằng một cô gái trẻ đã nhận được một gói quà khổng lồ chứa chàng trai đến cầu hôn cô. Những món quà luôn đem lại sự ngạc nhiên.
Người Hà Lan có rất nhiều trò chơi khác nhau liên quan đến việc tặng quà. Chẳng hạn như trò chơi có tên gọi “Cuộc săn”. Một mẩu giấy được gắn vào trong một cái bắp cải và được gói lại như một món quà. Mâủ giấy này chứa những chỉ dẫn để tìm kiếm món quà thực sự được giấu ở một nơi nào đó trong ngôi nhà, nhà bếp chẳng hạn. Trong nhà bếp, một mẩu giấy khác chứa những chỉ dẫn tiếp theo, nó dẫn đến một mẩu giấy khác nữa, sau vài vòng lượn trong ngôi nhà, cuối cùng người tìm kiếm cũng sẽ tìm ra được món quà của họ. Một phong tục được ưa chuộng ở Hà Lan là mỗi thành viên trong gia đình sẽ nhận được một chữ cái bằng Sô cô la, chữ cái này chính là chữ cái đầu tiên trong tên của họ. Những chiếc bánh nướng là những món quà phổ biến ở bất cứ nơi nào diễn ra lễ Giáng sinh. ở nhiều nước, người ta có phong tục nướng một chiếc bánh Giáng sinh có chứa một món quà hoặc một phần thưởng nhỏ. Chẳng hạn ở Peru, một chiếc bánh đặc biệt sẽ được nướng cho lễ Giáng sinh, mỗi lát bánh chứa một món quà rất nhỏ. nhiều nước, người ta có phong tục nướng một chiếc bánh Giáng sinh có chứa một món quà hoặc một phần thưởng nhỏ. Chẳng hạn ở Peru, một chiếc bánh đặc biệt sẽ được nướng cho lễ Giáng sinh, mỗi lát bánh chứa một món quà rất nhỏ. ở Hy Lạp, một đồng xu sẽ được đặt vào trong chiếc bánh Giáng sinh, người ta nói rằng bất cứ ai nhận được đồng xu này sẽ may mắn trong cả năm. Một phong tục cổ của người Canada gốc Pháp là nướng một cái bánh có chứa một hạt đậu. Người nhận được sẽ trở thành vua hoặc nữ hoàng của bữa tiệc đêm đó. Những tấm thiệp Giáng sinh là những món quà đơn giản nhưng đầy ý nghĩa, đem đến những lời chúc tốt đẹp từ bạn bè và người thân.
Một câu chuyện kể lại rằng ngày xửa ngày xưa, khi mà thánh Nicholas còn sống, có một nhà quý tộc. Ông có một bà vợ xinh đẹp và ba cô con gái nhỏ đáng yêu, tiền của trong gia đình ông chẳng bao giờ cạn. Một ngày kia, người mẹ của gia đình, người đàn bà dịu dàng với đôi mắt nâu bị bệnh hiểm nghèo. Nhà quý tộc gần như phát điên. Ông cho gọi lang y của thị trấn, một người đàn bà rất già và rất thông thái, người biết tất cả những loại thảo mộc và những phép thuật. Bà đã dùng mọi phương thuốc, đọc mọi lời cầu nguyện, mọi câu thần chú mà bà biết nhưng bà không thể làm gì để cứu lấy tính mạng của vợ nhà quý tộc. Cuối cùng ông mời các linh mục đến nhưng lúc đó người vợ tội nghiệp của ông đã vĩnh viễn ra đi. Người đàn ông rơi vào nỗi tuyệt vọng. Ông đã mất hết lý trí. Ông ném tất cả tiền vào những dự án ngu xuẩn và những phát minh vô dụng. Ông nhanh chóng rơi vào cảnh nghèo đói, phải rời khỏi lâu đài và đưa các con đến sống trong một túp lều tranh. Cùng với thời gian, những cô con gái của ông đã trưởng thành, cái nghèo vẫn đeo đuổi họ nhưng họ vẫn luôn vui vẻ và khoẻ mạnh. Họ học cách tự nấu nướng, lau nhà, gieo hạt và chăm sóc lẫn nhau. Cả ba cô gái đều rất xinh đẹp. Lần lượt họ đều yêu và muốn lấy chồng. Nhưng họ không thể cưới vì cha họ quá nghèo. Ông không có của hồi môn để tặng cho gia đình chồng của các con gái. Ông hoàn toàn chẳng có gì để cho con gái làm của hồi môn. Ông cảm thấy mình có lỗi với những đứa con và trở nên u sầu hơn. Khi đó, thánh Nicholas tình cờ sống ở cùng thị trấn với họ. Vị thánh tốt bụng này đã dành cả cuộc đời mình để làm việc thiện và luôn luôn đi tìm những người cần sự giúp đỡ của ngài. Một đêm nọ, ngài cưỡi con ngựa trắng quanh thị trấn và ghé vào ngôi nhà của người đàn ông nọ và ba cô con gái của ông. Ngài cưỡi ngựa đến túp lều tranh và nhìn vào nhà qua một khe hở trên tường. Cũng đêm đó, các cô con gái của người đàn ông vắt quần áo của họ bằng tay và phơi chúng trước lò sưởi. Có ba đôi tất được phơi ở ngay dưới ống khói. Lòng thương cảm dậy lên trong thánh Nicholas. Ngài lấy ra ba túi quà nhỏ chứa những đồng tiền vàng từ trong cái bao nhỏ của mình. Lần lượt ngài ném những chiếc túi xuống qua ống khói và chúng rơi vào trong những chiếc tất của ba cô gái. Người đàn ông lo lắng về tương lai của những cô con gái ngủ thiếp đi và vẫn bị đánh thức. Ông nghe thấy tiếng khua lục cục của con ngựa trắng khi vị thánh rời đi. Ông cất tiếng gọi ngài nhưng vị thánh đã biến mất trong màn đêm tối. Khi những cô gái thức dậy vào buổi sáng, họ phát hiện ra trong tất của mình chứa đầy những đồng tiền vàng và khi họ đi đến hỏi cha mình, họ thấy ông đang ngủ thật an bình với một nụ cười trên khuôn mặt. Thánh Nicholas đã xua đi tất cả những nỗi ưu phiền trong ông và nhờ lòng tốt của ngài, ba cô con gái đã có thể lấy được những chàng trai mà họ yêu và người đàn ông hạnh phúc vì được trở thành ông ngoại.
Ngày nay trẻ em trên thế giới đều treo tất hoặc đặt những đôi giầy của chúng để ông già Nô-en hay một người nào đó đặt quà vào đấy. Truyền thống này có ở nhiều nước như Anh, Canada, New Zealand, ú úc và Mỹ.
ở nhiều nước châu Âu cũng vậy, trẻ em treo tất của chúng nhưng ghim chặt chúng vào đêm 5/12, đêm trước ngày lễ Nô-en. Trẻ em Pháp đặt những đôi giầy của chúng trước lò sưởi, một truyền thống quay lại những ngày mà trẻ em Pháp đi những đôi giầy của nông dân làm bằng gỗ gọi là “Sabot”. Mặc dù chẳng còn mấy người đi giầy đế gỗ nhưng các cửa hàng bán đường và bột vẫn tạo ra những chiếc “Sabot” từ sô cô la và đặt đường phèn vào đó. ở Hà Lan, trẻ em nhét đầy cỏ khô và một củ cà rốt vào giầy của chúng để tặng cho chú ngựa trắng của ông già Nô-en. Trong đêm Giáng sinh, ông già Nô-en sẽ trượt xuống qua ống khói, lấy cỏ cho ngựa ăn và đặt vào mỗi chiếc giầy của bọn trẻ một món quà. Trẻ con Hungari còn cẩn thận đánh bóng giầy của chúng trước khi đặt chúng gần ngưỡng cửa ra vào hoặc cửa sổ để chờ ông già Nô-en đến tặng quà. Bọn trẻ sẽ nhận được quà vào sáng hôm sau. Thậm chí có những đứa trẻ còn nhận được một bó cành cây như là một sự nhắc nhở về cách cư xử của chúng trong năm tới. Các nước khác cũng có những truyền thống tương tự. Trẻ con đặt những đôi giầy của chúng vào 5/1, đêm trước ngày lễ Giáng sinh. Trẻ em ý đặt những đôi giầy của chúng cho Befana, một bà phủ thuỷ tốt bụng. ở Porta Rico, trẻ em thu gom cỏ xanh và hoa vào ngày này của tháng 1. Trước khi đi ngủ, chúng sẽ đặt cỏ và hoa vào những cái hộp nhỏ đặt ở dưới giường để đêm đó, ba ông vua sẽ nhét đầy quà vào những cái hộp và những con lạc đà của họ sẽ có một cái gì đó để ăn. Khi bọn trẻ thức dậy vào buổi sáng những chiếc hộp đã đầy ắp quà tặng.
Dù xuất hiện dưới hình thức nào thì ông già Nô-en vẫn mang đến hoa quả, đường và những món đồ chơi nhỏ cho trẻ em trên toàn thế giới.

Sanya
29-11-2005, 10:23 AM
Khi những vòng hoa được treo từ cửa của các cửa hàng, các ngôi nhà, khi những chồi nhựa ruồi non làm duyên cho những bức tường và cửa sổ, và khi những cây trạng nguyên làm sáng bừng cả công sở, chúng ta biết mùa Giáng Sinh đã đến thật rồi.
Những vòng hoa tạo nên những món đồ trang trí tuyệt vời và những món quà đáng yêu. Chúng rất dễ để kết hợp với nhau và bằng trí tưởng tượng của mình bạn có thể sử dụng bất cứ nguyên liệu nào để tạo nên chúng. Theo truyền thống thì những vòng hoa mãi xanh tươi được làm từ cây vân sam, cây độc cần, lông thú cầm máu, cây thuỷ tùng, cây tuyết tùng và thông. Một số vòng hoa độc đáo hơn được làm từ tương ớt đỏ sấy khô, lúa mì, cỏ dại, rêu và địa y thiên nhiên, trái cây tươi, hoa, thảo mộc, gia vị và thậm chí cả những đồ dùng thiết yếu trong gia đình như giấy màu hoặc những mảnh vải vụn.
Vòng hoa và cây cỏ là một phần quan trọng trong các lễ hội Giáng sinh, với vô số những nguyên liệu sẵn có, chúng ta có thể tạo ra hàng trăm mẫu vòng hoa khác nhau. Nhưng dù hàng nghìn năm đã trôi qua thì vòng hoa và cây cỏ mùa đông vẫn mang một ý nghĩa đặc biệt.
Một vòng hoa rất đặc biệt đó là vòng hoa Giáng sinh của Bắc Âu được làm từ những nhánh cây xanh tươi. Nó cắm bốn cây nến, mỗi cây tượng trưng cho một ngày chủ nhật của lễ Giáng sinh. Những cành cây mãi xanh tươi được trang trí bằng những quả thông, ruy băng, chồi nhựa ruồi non, cành tầm gửi và tuyết nhân tạo. Nhiều gia đình Thuỵ Sĩ có những giá cắm nến Giáng sinh truyền thống bằng đồng thau, năm nào chúng cũng được đặt trên vòng hoa. Một vòng hoa Giáng sinh với những ngọn nến được thắp lên sẽ tạo nên một thứ ánh sáng tuyệt đẹp khi nó được treo phía trên những chiếc bàn của đêm hội. Mãi đến bây giờ người ta cũng chưa tìm ra được nguồn gốc thực sự của vòng hoa Giáng sinh nhưng một số người tin rằng nó bắt nguồn từ vương viện ánh sáng mà các cô gái trẻ Thuỵ Ðiển đội trong ngày lễ thánh Saint Lucia. Trong chuyện thần thoại, Saint Lucia là một cô gái trẻ, một tín đồ thiên chúa giáo thời kỳ trước khi đạo Cơ đốc được chấp nhận rộng rãi, cô đã dành trọn tài sản của mình để tặng cho người nghèo. Nơi nào có nạn nghèo đói là cô có ở đó với một túi đầy thực phẩm để cứu đói. Chẳng bao lâu sau, cô đã bị hành hình bởi niềm tin Cơ đốc giáo của mình. Vương miện ánh sáng đã trở thành biểu tượng cho vầng hào quang của cô. Theo truyền thống, vương miện Saint Lucia được làm từ những nhánh cây xanh bất tử và cắm trên đó bốn ngọn nến giống như vòng hoa Giáng sinh.
Về cây cỏ Giáng sinh, có một điều gì đó khá lạ kỳ về những cây cối luôn sum xuê và xanh tốt trong suốt mùa đông lạnh giá. Ngày nay, người ta vẫn trang trí ngôi nhà của mình với những chồi nhựa ruồi, những nhánh cây thường xuân và cây tầm gửi. Những người châu Âu cổ đại coi tâm gửi là một loại cây linh thiêng. Các linh mục Druid dùng nó làm vật tế trời. Người Celtic tin rằng nó có khả năng chữa bệnh kỳ diệu. Trên thực tế cái tên “Tầm gửi” theo ngôn ngữ Celtic có nghĩa là “Có khả năng chữa bách bệnh”. Tầm gửi có thể chữa bệnh, làm vô hiệu hoá thuốc độc, làm cho con người và động vật sinh sôi, bảo vệ các ngôi nhà khỏi những bóng ma và mang đến những điều tốt lành.
Vào thế kỷ 18, Tầm gửi rất được tôn thờ ở Anh, không phải bởi khả năng chữa bệnh mà bởi một điều thần diệu khác. Nó được đặt trên một quả “Bóng hôn” (kissing ball), một vật trang trí đặc biệt trong các bữa tiệc Giáng sinh. Quả bóng này có hình tròn và được trang trí bằng những nhánh cây xanh bất tử, ruy băng và những đồ trang trí khác. Những lá số tử vi nhỏ xíu sẽ được đặt ở bên trong. Một nhánh tầm gửi được gắn chặt vào điểm thấp nhất của quả bóng. Quả bóng được treo trên trần nhà và những người dự tiệc sẽ lần lượt hôn vào bên dưới quả bóng. Một cái hôn vào nhánh tầm gửi có thể mang ý nghĩa của một sự lãng mạn hay một tình bạn bên vững và lòng thánh thiện.

Sanya
29-11-2005, 10:24 AM
Lịch Sử ngày Giáng sinh

Truyện kể đằng sau phong tục tặng quà
Tặng quà là một trong những phong tục tuyệt vời nhất trong ngày Giáng sinh. Các món quà xinh xắn chúng ta có thể thể hiện tình yêu của mình đối với gia đình và bè bạn. Ðối với một số người quà Giáng sinh còn mang một ý nghĩa tôn giáo sâu đậm. Những món quà giúp cho mọi người nhớ lại ngày sinh của Chúa, là quà tặng của Chúa cho loài người.
Khi Chúa chào đời tại Bethlehem, ba vị vua đã thờ phụng Chúa ngay trên nôi. Ba vị vua này tặng Chúa vàng bạc châu báu, hương trầm và chất nhựa thơm. Những món quà này thể hiện lòng tôn kính của họ đối với Chúa. Vàng là biểu tượng cho vương quốc của Chúa, hương trầm tượng trưng cho sự hiện hình của Chúa và chất nhựa thơm biểu thị cho Chúa bị đóng đinh trên thánh giá.
Ba vị vua có rất nhiều của cải, nhưng thậm chí cả những người nghèo cũng dâng lên Chúa tất cả những gì họ có để bày tỏ lòng tôn kính đối với cậu bé thần thánh. Những người chăn cừu mang tặng Chúa trái cây và các đồ chơi xinh xắn do chính tay họ làm.
Có một câu truyện kể về một cậu bé nghèo khó, cậu nghèo lắm chẳng có lấy một thứ gì ngoài một chiếc trống nhỏ. Nhưng thật tuyệt vời bởi vì cậu bé có ước mơ được gặp vị Chúa Giê-su bé bỏng, và vì thế cậu bé đã lên đường đến Bethlehem với hai bàn tay trắng và chiếc trống nhỏ bên mình. Khi cậu bé đến bên vị Chúa nhỏ tất cả ánh sáng và niềm vui vây quanh cậu và cậu bé nhận ra cậu chẳng có món quà nào dành cho Chúa. Cậu chỉ có thể chơi trống mà thôi. Và thế là cậu bé đã chơi một giai điệu nhẹ nhàng, như tiếng mưa xuân, và vị Chúa bé bỏng quay mặt lại, mỉm cười với cậu. Món quà của cậu bé nghèo, không mang giá trị vật chất, được dâng lên bằng tình yêu trong sáng tuyệt vời.
Cũng giống như nhiều phong tục ngày Giáng sinh khác, tặng quà cũng có nguồn gốc lịch sử từ trước khi phong tục về Chúa được phổ biến. Trong buổi lễ thờ cúng Thần Nông ngày hội mùa màng của người La Mã cổ, một ngày hội mùa màng, người ta đã mang đến các ngọn nến nhỏ và các vật làm bằng đất sét. Vào ngày đầu năm mới của người La Mã, mọi người tặng nhau nhiều món quà rất đẹp. Người La Mã tin rằng những món quà đẹp sẽ mang tới một năm mới tốt lành. Người ta thường tặng nhau hoa quả, mật ong, và bánh. Các cành cây được mọi người tặng nhau để tượng trưng cho sức mạnh và sức khoẻ dồi dào. Những người La Mã giàu có tặng nhau các đồng tiền vàng để chúc may mắn. Mọi người đều tặng quà, trẻ con tặng quà cho thầy giáo, người nô lệ tặng quà cho chủ nô và người dân tặng quà cho hoàng đế. Mặc dù ba vị vua và những người khác đã tặng quà cho Chúa Giê-su bé bỏng, nhưng tặng quà đã không trở thành lẽ nghi bắt buộc trong lễ Giáng sinh cho đến vài thế kỷ sau khi Chúa ra đời. Các vị Chúa không muốn tôn giáo của mình giống với các lễ hội ngoại đạo, các vị Chúa đã từ chối tặng quà như là một tục lệ ngoại đạo.
Vào thời Trung Cổ, tặng quà đã trở thành một phong tục trong ngày lễ Giáng sinh. Các vị vua nước Anh, cũng giống như các vị vua La Mã, đã yêu cầu thần dân của mình tặng quà. Các thường dân cũng trao đổi các món quà nhưng các món quà tặng đẹp và đắt tiền thì chỉ được trao đổi giữa các người giàu với nhau. Những người nghèo khó trao đổi các đồ vật rẻ tiền và giải trí với nhau bằng các trò chơi và liên hoan văn nghệ. Ngày 26 tháng 12 (Boxing day) là ngày tặng quà ở Anh có nguồn gốc từ thời Trung Cổ. Các vị thầy tu có nhiệm vụ phải lấy hết đồ bố thí trong hộp đựng ở nhà thờ và phân phát quà cho người nghèo. Những người giàu vui thú với những bữa yến tiệc Giáng sinh lớn, và khi bữa tiệc kết thúc, họ gói những thức ăn thừa lại và mang cho đầy tớ người làm trong nhà. Ngày nay ở nước Anh, úc và Canada, Boxing day là thời gian tặng quà cho người giao hàng, người giúp việc và bạn bè.
Tại các đồn điền cũ ở vùng Nam Mỹ, có một trò chơi gọi là "quà tặng Giáng sinh" đã được những người nô lệ thực hiện và sau đó sớm trở nên phổ biến trên khắp đồn điền. Khi hai người nô lệ gặp nhau vào ngày Giáng sinh, họ đều hô to: "Quà tặng Giáng sinh !" Người đầu tiên nói to câu đó sẽ nhận được một món quà nhỏ từ người kia.
Ngày nay tại vùng Bắc Mỹ, mọi người thường đặt các món quà dưới gốc cây và mở chúng ra vào ngày Giáng sinh. Trẻ con treo những đôi tất của mình trên lò sưởi để nhận được quà Giáng sinh. Trong bữa tiệc Giáng sinh, mọi người cũng có thể có "grab bag" một cái túi lớn hoặc một cái rổ chứa đầy quà tặng. Mọi người lấy quà từ những cái túi đó mà không cần biết ai là người tặng quà.
ở các nước khác trên thế giới, có những trò chơi tặng quà tương tự, phát triển từ truyền thống tặng quà trong gia đình. ở phía bắc nước Ðức và các nước Scan-đi-na-vơ có một tục lệ rất cổ xưa. Vào đêm Giáng sinh các cánh cửa vào nhà đều được mở, và một cái túi lớn được ném vào trong nhà dành cho một thành viên trong gia đình. Khi cái túi lớn được mở ra, mọi người sẽ thấy có một cái túi nhỏ hơn ở bên trong cái túi lớn. Chiếc túi nhỏ hơn này là để dành tặng cho một thành viên khác trong gia đình. Một người tiếp theo mở cái túi đó và sẽ thấy cái túi nhỏ hơn dành cho một thành viên nữa trong gia đình. Các cái túi nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa dần dần được mở ra cho tới khi món quà tặng thật sự xuất hiện ở trong cái túi nhỏ nhất.
ở Thụy Ðiển, mỗi cái túi chỉ dành tặng cho một người. Các món quà nhỏ bé đắt tiền được gói trong hết lớp giấy này đến lớp giấy khác. Người ta kể rằng có một cô gái trẻ đã nhận được túi quà khổng lồ mà bên trong túi là người đàn ông đang cầu hôn cô, được gói cẩn thận trông như một túi quà thực sự. Các món quà luôn luôn gây bất ngờ !
Người Hà Lan yêu thích rất nhiều trò chơi tặng quà. Trò chơi được ưa thích là săn tìm. Một tờ giấy ghi chú được nhét vào trong một cái bắp cải và cái bắp cải được gói lại như một món quà. Tờ giấy ghi chú hướng dẫn mọi người tìm đến nơi nào đó giấu quà trong nhà, chẳng hạn như ở trong bếp. Một tờ giấy ghi chú khác ở trong bếp đưa thêm một số thông tin và dẫn tới các tờ giấy ghi chú khác nữa. Cuối cùng, sau khi đã tìm kiếm khắp quanh nhà, mọi người sẽ tìm được món quà của họ. Một phong tục được người Hà Lan ưa thích là mỗi thành viên trong gia đình nhận được một thanh sô cô la có hình chữ cái đầu tiên tên của người nhận quà.
Các món bánh là món quà phổ biến vào ngày lễ Giáng sinh. ở nhiều nước còn có phong tục bỏ các món quà hoặc giải thưởng vào trong ruột bánh mỳ hoặc các loại bánh khác. ở Peru, một loại bánh đặc biệt đã được làm riêng cho ngày lễ hiển linh. Mỗi lát bánh đều chứa một món quà nhỏ. ở Hy Lạp, một đồng xu được bỏ vào trong chiếc bánh mỳ Giáng sinh và mọi người nói rằng ai có được đồng xu kia sẽ được may mắn trong suốt năm mới. Một phong tục cổ của người Canada nói tiếng Pháp là bỏ một hạt đậu thường và một hạt đậu Hà Lan vào trong chiếc bánh. Người nào tìm được sẽ trở thành vua và hoàng hậu của buổi liên hoan. Các tấm thiệp Giáng sinh có hình thức đơn giản nhưng là một món quà đầy ý nghĩa vào ngày Giáng sinh. Còn gì đẹp hơn một món quà được trang trí lộng lẫy cùng với một tấm thiệp đẹp tuyệt vời mang những lời chúc tốt đẹp gửi đến bạn bè và họ hàng.

Sanya
29-11-2005, 10:25 AM
Lịch sử cây Giáng sinh

Ðối với các gia đình sống ở Bắc Mỹ, Ðức, các nước Châu Âu và trên thế giới thì cây Giáng Sinh là biểu tượng của mùa Giáng Sinh và tinh thần bất diệt. Hình ảnh rực rỡ của cây thông qua ô cửa sổ gợi nhớ những kỷ niệm êm đềm và đem đến cho cuộc sống chúng ta hương vị nhẹ nhàng của núi rừng.
Từ xa xưa trước khi trở thành một phần của lễ Giáng Sinh cây xanh đã là biểu tượng của niềm vui và hy vọng. Ðối với các tín ngưỡng cổ xưa khác, cây xanh cũng luôn đóng một vai trò quan trọng.
Người Ai Cập rất quý trọng và tôn thờ cây xanh. Khi mùa đông đến, họ mang những lá cọ xanh vào nhà biểu thị cho sự sống bất diệt.
Người La Mã cổ chào đón mùa đông bằng lễ hội có tên gọi là "Saturnalia" để tỏ lòng tôn kính với Saturnus, một vị Thần Nông. Mọi người trang hoàng cây xanh bằng nhiều đồ trang trí và bánh kẹo. Họ trang hoàng nhà cửa bằng các loại cây, đèn và quà tặng. Họ tặng nhau những đồng xu để chúc cho sự thịnh vượng, bánh ngọt chúc cho hạnh phúc và những cây đèn để soi sáng cuộc đời mỗi con người.
ở nhiều vùng tín ngưỡng khác nhau, cây xanh được coi là ngôi nhà của các vị thánh thần và các linh hồn.
Những người Viking sống ở phía bắc Châu Âu lại cho rằng cây xanh báo hiệu mùa đông ảm đạm và lạnh lẽo sẽ qua và nhường chỗ cho mùa xuân đến.
Cách đây một thế kỷ, tại Anh và Pháp, những vị mục sư được gọi là "Druids" đã dùng cây xanh trong những nghi thức mùa đông huyền bí. Họ treo cây nhựa ruồi và cây tầm gửi, tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng lên cửa, để xua đuổi những linh hồn ma quỷ. Họ cũng trang trí cây sồi bằng hoa quả và nến để tỏ lòng tôn kính các vị thần đã mang đến mùa màng và ánh sáng.
Cuối thời Trung cổ, người Ðức và người Scan-đi-na-vơ đặt cây xanh vào trong nhà hoặc ngoài cửa để thể hiện niềm hi vọng của họ vào mùa xuân sắp tới.
Không ai biết chính xác phong tục cây Giáng Sinh được bắt đầu như thế nào, nhưng có không ít truyền thuyết về nó.
Truyền thuyết về thánh Boniface, một thầy tu người Anh, người đã sáng lập ra nhà thờ đạo Cơ Ðốc ở Pháp và Ðức kể rằng, một hôm trên đường hành hương ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ để tế thần. Ðể dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, Boniface đã hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả đấm!. Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế.
Tương truyền, một lần thánh Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao sáng lấp lánh qua kẽ lá. Ngài thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Ðể tái tạo ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn ánh sao ngài đã treo nến lên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng, vào một đêm Noel đã rất lâu rồi có một người tiều phu nghèo khổ đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi vì đói. Mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Vào buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hoá ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiều phu tốt bụng.
Nguồn gốc thực của cây Giáng sinh có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời Trung Cổ, những vở kịch về đạo đứcđược biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài kinh thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eve ở vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hàng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo những quả táo giả lên cành cây.
Phong tục cây Giáng sinh trở nên phổ biến ở Ðức vào thế kỷ 16. Người theo đạo Cơ đốc mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng sinh. ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Giáng sinh đã trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.

Sanya
29-11-2005, 10:26 AM
Theo một truyền thuyết của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng sinh vào một đêm Noel lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến. Những người lính phe Liên Bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành thông Giáng sinh, đã bỏ nơi canh gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
Vào giữa thế kỷ 19, Hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi phong tục cây Giáng sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng Hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windson bằng nến cùng với rất nhiều loại kẹo, hoa quả và bánh mỳ gừng. Khi cây Giáng sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
Cây Giáng sinh lần đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ đều coi cây Giáng sinh là một điều kỳ cục thì những người Ðức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng sinh vào các buổi biểu diễn nhằm tăng tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851 một mục sư người Ðức đặt một cây Giáng sinh trước nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
Tuy nhiên vào những năm 1890 nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Ðức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng sinh trở nên phổ biến tại Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ, cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn một mét rưỡi, chỉ khoảng 4 hoặc 5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.
Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng sinh, và 20 năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỷ 20, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Ðồ trang trí truyền thống của người Ca-na-đa và người Mỹ gốc Ðức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
Mỗi năm khi ngày Giáng sinh tới, một cây Giáng sinh lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam BritishColumbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Giáng sinh đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Giáng sinh rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Canada cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng sinh tuyệt vời từ tháp Hoà Bình Carillon vang đến.
Hàng thủy tùng Ailen mười sáu cây toả sáng lung linh trước quảng trường Union của Prancisco.Tại trung tâm Rockefeller ở NewYork, một cây Giáng sinh khổng lồ luôn lấp lánh bên cửa ra vào trước sân trượt băng. Tại thủ phủ Wasington, chính tổng thống đã thắp sáng cây vân sam trên bãi cỏ trước cửa nhà Trắng, 50 quả bóng bay lớn nhiều màu sắc được trang hoàng trên cây tượng trưng cho 50 bang. Một cây thông Nauy cao lớn đã tôn thêm vẻ duyên dáng cho quảng trường Trafalgar ở London. Ðối với dân trong các thành phố thì lễ trang hoàng cây thông Nô-en báo hiệu một mùa Giáng sinh đã đến.
Từ năm 1947, những người ở Oslo hàng năm thường tặng một cây vân sam Na-uy cho những công dân của London, đôi với mọi người ở những thành phố này cũng như những thành phố khác thì lễ thắp đèn cho cây đánh giấu sự bắt đầu của một lễ Giáng sinh.
Thị trường kinh doanh cây Giáng Sinh xuất hiện vào năm 1851, lúc đó một nông dân ở Catskill chở 2 xe bò cây tới NewYork và đã bán không còn một cây nào. Những cánh đồng cây Giáng sinh phát triển nhanh trong mùa đông giá lạnh. Những người làm vườn không bán cây của họ để làm cảnh, họ chỉ cung cấp cây cho ngày lễ Giáng sinh. Những cây được chăm sóc, cắt tỉa dáng cân đối được ưa chuộng hơn những cây tự nhiên. Có 6 loại cây chính chiếm đến 90% thị trường cây Giáng sinh ở Canada và Mỹ. Ðứng đầu là cây thông Xcốt-len, chiếm khoảng 40% thị trường, sau đó là cây thông Douglas, chiếm khoảng 35%. Các loại thông quý hiếm khác cũng được ưa chuộng như thông trắng, thông thơm và cây vân sam trắng.
Giữa thế kỷ 20, những cây thông nhân tạo đã bắt đầu xuất hiện, mặc dù khi mới xuất hiện dáng vẻ của chúng chưa được tự nhiên, nhưng ngày nay những cây Giáng sinh nhân tạo trông không khác gì những cây thông tự nhiên. Thậm chí, người ta còn làm giả một số loài cây như cây A-pa-la-chi hoặc thông Pon-dơ-rô-sa. Cũng vào thời gian này, người ta đã làm giả một số loài cây khác với dụng ý sáng tạo ra những cây Noel với chất liệu mới. Ví dụ như những cây được làm bằng nhôm toả sáng ánh bạc hay cây lấp lánh sắc màu dưới ánh sáng.Những cây nhân tạo, có thể dùng để trang trí lâu hơn và cho đến ngày nay chúng ta có thể nhìn thấy cây Giáng sinh nhân tạo ở khắp nơi.
Bất kể hình dáng thế nào, tự nhiên hay nhân tạo và được trang hoàng thế nào thì một cây Giáng sinh vẫn là một cây Giáng sinh! Nó làm cho chúng ta gắn liền với thiên nhiên, đồng thời nhắc nhở chúng ta về tổ tiên của chúng ta vì họ cũng có niềm say mê trước vẻ đẹp của loài thông. Hơn tất cả cây thông Giáng sinh còn làm cho con người trên trái đất xích lại gần nhau hơn, liên kết các thế hệ với nhau bởi vì tất cả đều có chung một niềm say mê và sự ngưỡng mộ trước vẻ đẹp huyền bí gắn liền với ý nghĩa cao đẹp mà con người đã từng ước vọng ở nó.

Sanya
29-11-2005, 10:28 AM
nguồn gốc Ngọn nến thắp cây giáng sinh

Có bao giờ bạn tự hỏi nến thắp trên cây Giáng Sinh có nguồn gốc từ đâu? Liệu có phải nó đến từ nước Mỹ?
Theo tạp chí "Country Living" cho hay. Nến thắp trên cây Giáng Sinh mang những nét riêng của mỗi nước, Khi những người lính Hessian đóng quân ở Trenton vào năm 1776, họ đã giới thiệu cây Giáng Sinh và cách trang trí cây Giáng Sinh bằng những cây nến. Phong tục này được duy trì cho đến năm 1895 khi mà Ralph Morris, một người làm công cho công ty điện thoại ở New England, trang hoàng cho cây Giáng Sinh bằng đèn điện, được sản xuất để sử dụng cho tổng đài.
ở úc, hầu hết mọi người đều dùng nến để trang trí cho cây Giáng Sinh trong nhà, còn những đèn điện dùng để trang trí cho cây Giáng Sinh ở cửa ra vào. ở khu vực Bavarian của Ðức cũng có phong tục như vậy.
Dennis Langthjem trong lần nói chuyện với Christmas.com cho biết "ở Ðan Mạch chúng tôi đi vòng quanh cây Giáng Sinh để thắp nến trang trí cho cây vào đêm Nôen, nhưng sau khi làm dấu xong, chúng tôi lại bật đèn điện trang trí cho cây Giáng Sinh".
Ngày nay tại các cửa hàng của Mỹ, đều bán nến và những kẹp nến dùng để trang trí cho cây Giáng Sinh, điều này có vẻ như mọi người đang dần quay trở lại với thời kỳ mà người ta dùng nến để trang trí cho cây Giáng Sinh.

Sanya
29-11-2005, 10:29 AM
Ông Già Noel

Tháng 9 năm 1897, một bé gái 8 tuổi tên là Virginia đã viết cho tờ báo Công Giáo Hoa Kỳ để hỏi về ông già Noel. Câu hỏi của cô bé là: Ông già Noel có thật không?

Vài ngày sau, trên một quan điểm của tờ báo, người ta đọc được câu trả lời của ông chủ nhiệm kiêm chủ bút như sau:"Virginia yêu dấu của bác. Ðiều trước tiên bác muốn nói với cháu là: các bạn của cháu thật là sai lầm khi bảo rằng không có ông già Noel. Các bạn của cháu bị tiêm nhiễm bởi trào lưu hoài nghi. Họ nghĩ rằng chỉ có thể tin được những gì họ thấy tận mắt. Họ nghĩ rằng không gì có thể có được nếu trí khôn nhỏ bé của họ không hiểu được.

Virginia yêu dấu, tất cả mọi trí khôn của loài người, dù là của trẻ em, dù là của người lớn, tất cả đều nhỏ bé. Trong cái vũ trụ bao la này, con người chỉ là một con kiến nhỏ bé.

Virginia ạ, ông già Noel có thực. Ông có thực cũng như tình yêu và lòng quảng đại nhờ đó cuộc sống của cháu trở thành vui tươi và xinh đẹp. Bé ơi, nếu không có ông già Noel thì thế giới của chúng ta sẽ như thế nào? Không có những tâm hồn ngây thơ trong trắng của những trẻ thơ như cháu thì thế giới của chúng ta sẽ như thế nào? Không có một niềm tin của trẻ thơ như cháu thì không có một áng văn, một dòng thơ nào có thể làm cho cuộc sống của chúng ta đáng sống nữa. Không có một niềm tin của trẻ thơ thì ánh sáng vĩnh cửu đang lấp đầy thế giới cũng sẽ tắt dần.

Virginia, nếu cháu không còn tin ở ông già Noel nữa, thì cháu cũng chẳng còn tin ở chuyện thần tiên nữa. Có thể cháu sẽ yêu cầu bố cho người ngồi canh ở lò sưởi, ở cuối giường để bắt cho được ông già Noel... Nhưng dù cháu không bắt được ông già Noel đi nữa, điều đó ý nghĩa gì? Chưa có ai thấy ông già Noel, nhưng cũng không ai chứng minh được là không có ông già Noel. Những điều có thực nhất trong thế giới của chúng ta đó là những điều mà trẻ con và ngay cả người lớn cũng chưa từng thấy.

Cháu đã bao giờ thấy các nàng tiên nhảy múa trên thảm cỏ chưa? Dĩ nhiên là chưa. Nhưng có ai chứng thực được các nàng tiên không có không? Không ai có thể có khái niệm hay tưởng tượng được bao điều kỳ diệu chưa thấy hoặc không thể thấy được trong thế giới của chúng ta.

Chỉ có Ðức Tin, chỉ có tình yêu mới có thể vén mở được bức màn bí mật của thế giới chúng ta.

Nhờ ơn Chúa, ông già Noel vẫn sống và tiếp tục sống, cháu Virginia ạ. Ông già Noel sẽ tiếp tục làm cho tâm hồn trẻ thơ được tràn đầy hoan lạc".

Lá thư gửi cho cô bé Virginia trên đây đưa chúng ta vào trung tâm điểm của ngày Giáng Sinh: Giáng Sinh là lễ của nhi đồng, bởi vì nhân vật chính của ngày lễ là một Em Bé. Một Em Bé cũng như muôn nghìn em bé sinh ra trên cõi đời này. Em Bé đó chính là niềm vui và hy vọng cho tất cả mọi người.

Cùng với Em Bé đó, tất cả các em bé đều mang lại niềm vui cho mọi người trong mùa Giáng Sinh. Bầu khí Giáng Sinh là bầu khí của nhi đồng. Từ hoa đèn, âm nhạc cho đến quà cáp, tất cả đều hướng về các em nhi đồng... Người cho đã vui mà người nhận còn vui hơn: chính các em bé là những người đã dạy cho người lớn biết vui với niềm vui ban phát. Bao lâu con người còn có thể mở cửa tâm hồn, bao lâu con người còn có thể mở rộng bàn tay để ban phát, để chia sẻ thì bấy lâu ông già Noel của hy vọng, của quảng đại, của hân hoan vẫn còn sống mãi trong tâm trí của trẻ em và không biết bao nhiêu người sầu khổ.

Giáng Sinh là ngày của nhi đồng do đó cũng là lễ của hòa bình. Một em bé sinh ra là một hy vọng mới chớm nở. Hy vọng là tên mới của hòa bình. Còn hy vọng là còn muốn xây dựng. Xây dựng trên mầm sống đã đành mà còn xây dựng trên những đổ vỡ, mất mát.
Qua Hài Nhi Giêsu, tất cả các em bé trên thế giới đang nhắn gửi đến từng người trong chúng ta niềm hy vọng vào thiện chí của con người. Hòa bình là hoa quả của hy vọng. Còn tin nơi con người, chúng ta còn có thể xây dựng hòa bình.

Hy Vọng giả Thuyết này vững tin hơn !
Còn nhiều truyền thuyết nữa

Sanya
29-11-2005, 10:37 AM
SAN Chúc Táo Xanh, Các Anh, Các Em, Các Chú, Các Cậu, Các Bác... một mùa Giáng Sinh An Lanh, Tốt Đẹp, Hạnh PHúc Và Tràn đầy Sức Sống Nhe hihihihihi

Note : Cảnh báo ai ở Hải Ngoại hạn chế đến nơi đông người ăn lễ vì có nguy cơ bị khủng bố cao :whistling

tranminh
30-11-2005, 12:16 AM
sanya phun tin đồn nhảm nha, đưa tin như thế ai dám đi đâu? đi về VN hén?

Sanya
30-11-2005, 12:31 PM
em k phun tin đồn nhãm, mà em cảnh báo tui mà huhuhu, người ta lo lắng sợ anh Huy, anh Tiếng Mưa Đêm, anh Minh .... ở Hải Ngoại đi ngắm cái gì gì đó nhỡ bom đặt thì toi mất tiu các anh => buốn lắm.

tranminh
30-11-2005, 11:13 PM
thằng bé này miệng lưỡi hết sức

tieng-mua-dem
01-12-2005, 01:36 AM
Ặc ặc.

Sanya nói mắm nói tôm. Ghê quá ah. SAS ơi! Ku box ơi! Rim ơi! Phiêu ơi. đốt phong long dùm TMD coi. hic hic hic.

Sanya
01-12-2005, 01:20 PM
Á huhuhu em lo lắng dùm bf của các anh vì sợ các anh gặo nguy hiểm chứ bộ, không chịu thì thôi em : phì phì phì nói lại : Chúc các anh hải ngoại hưởng một đêm Giáng sinh và mừng năm mới tốt đẹp, an lành và hạnh phúc nhé hihihi ngoại trừ anh Tiếng Mưa Đêm ra => ghét hứ.

Sanya
06-02-2006, 12:27 AM
Bức tranh cuối cùng


Căn phòng vẽ của anh hồi ấy chỉ có mình anh ra vào. Mỗi lần bước ra, anh lại khóa chặt cửa. Sở dĩ như thế là vì anh ngấm ngầm giận tôi. Suốt đời tôi sống nhẫn nhịn, vâng lời chồng, cưng con, chiều lòng được cả họ. Vậy mà hôm ấy, tôi đã đánh thằng Hân gãy một cây roi dâu. Tôi vừa đánh con vừa khóc như điên dại.

"Có gì nghiêm trọng vậy?". Khi trở về, nhìn những dấu roi trên tay thằng con, anh hỏi. Sau vườn nhà có một bọng đất sét, thằng Hân đã lấy nặn thành tượng một người nữ lõa lồ, giữa hai bắp vế đầy vun nó còn cẩn thận nhét vào một nắm tóc rối. Tôi mắng con “Mất dạy!”. Hân mếu máo: “Con thấy sao thì làm lại y như vậy mà. Sau lưng nhà mình có mấy cô chiều nào cũng xuống bến sông tắm”. Tôi nghẹn lời. Nó mới mười ba tuổi. Nhìn những mảnh tượng vỡ, anh bảo: “Con rất có hoa tay. Nó còn nhỏ, biết gì là tốt xấu. Sao mình nặng tay như vậy”.

“Động trời như thế mà anh còn xem là nhẹ?”. Tôi không hiểu vẻ mặt tôi lúc đó thế nào mà anh quay người, bỏ vào phòng vẽ đóng sập cửa. Tính anh vẫn vậy giống như sấm sét, khi bùng lên thì không sao dập tắt nổi.

Thực ra đã lâu rồi, hai vợ chồng rất ít nói với nhau. Tối đến, trước khi ngủ, tôi niệm kinh trước bàn Phật, những lời nguyện cứ kéo dài ra, khi tôi vào phòng thì anh đã ngủ. Hồi mới cưới, anh thường trêu tôi, bảo tôi trông giống cô bé không thuộc bài phải lên bục giảng. Sau này, mỗi lần cố thức đợi tôi, anh không còn nụ cười âu yếm chế giễu ấy nữa. Vẻ chịu đựng của tôi cuối cùng đã làm anh tự ái. Sau chuyện cái tượng của thằng Hân, anh rút về bên phòng vẽ, ngủ luôn bên đó. Sau đó, chúng tôi đã trở lại hòa thuận, nhưng anh cũng không quay về nữa. Tôi một mình, nước mắt nhiều đêm chảy ướt gối. Tôi không hiểu điều gì xảy ra. Tôi yêu chồng, một lòng tận tụy với chồng. Vậy mà mỗi lúc anh gần tôi, một nỗi ghê sợ tự thâm tâm làm tôi chùn lại, như con ốc thu mình vào vỏ cứng...

Hai vợ chồng riêng giữ hai phòng đã là chuyện bình thường trong suốt năm sáu năm. Thế rồi, một tối mùa đông bỗng anh vào phòng tôi. Đã lâu tôi quen với những đêm thanh tịnh, nên thấy anh bước đến ghé nằm vào bên giường, tôi lùi lại, cảm giác như người ăn chay lâu ngày ngửi thấy mùi tanh thịt cá ở miệng chén. “Ba nằm đây thì để em ra phòng khách ngủ”. Nghe nói thế, anh níu tay tôi: “Đừng, đừng, ngồi lại với anh một chút”. Anh phều phào nói.

Lúc ấy tôi mới thấy bàn tay anh lạnh ngắt, và mặt anh đỏ tía, mắt lạc thần.Tôi kêu thét lên. Những dấu hiệu của một cơn đột quỵ. Vậy là cuối cùng anh đã quay về với tôi, không phải để sống, mà để chết.

Đêm nối cùng trước cửa phòng cấp cứu hồi sức, tôi đứng lặng, gió lạnh phả từng cơn vào mặt. Gió buốt thấu xương, chẳng biết từ đâu thổi lại? Hình thư cơn gió này đã theo tôi suốt một đời rồi. Bạn bè, bà con đến. Tôi bảo: “Anh khá rồi, không sao”. Con trai tôi ngạc nhiên: “Bác sĩ bảo ba con đã trụy mạch rồi. Mẹ không nhớ à?”. Tôi trào nước mắt, úp mặt vào vai con: “Con đừng hỏi, mẹ xin con, để mẹ yên... Mẹ sợ lắm!”.

Tôi sợ. Anh đã quay về với tôi. Điều đó đối với tôi có ý nghĩa lớn lắm. Tôi không muốn ai biết giờ chót của anh, sợ e có người nào sẽ đến... Linh cảm đàn bà mách bảo cho tôi những điều chẳng lành... Đúng như vậy, con trai tôi quay ra phía sau bệnh viện để lo thủ tục quay ra bảo tôi: “Ai vừa vào thăm ba?”. Tôi giật mình. “Ai?”. “Con thấy một người quàng khăn đen che gần hết mặt bước ra”. “Sao mẹ không thấy?”. “Mẹ quên à, phòng này còn có cửa sau”.

Anh trở về nhà trong chiếc quan tài phủ kín hoa. Người ta lấy hết những bức tranh còn lại treo quanh chỗ anh nằm. Hân nhắc tôi: “Mẹ à, trong phòng vẽ của ba chắc còn vài bức nữa”. Tôi nhớ, nhưng căn phòng đã khóa. Nhiều người khuyên phá khóa ra. Tôi bảo: “Đừng”. Căn phòng đó là thế giới riêng của anh, tôi đã cách ly nó với toàn bộ ngôi nhà khi anh còn sống. Giờ đây anh vừa nhắm mắt, tôi sợ kinh động đến nó. Dường như tự thâm tâm, tôi sợ nó sẽ nhập vào ngôi nhà, sẽ giành lại anh, anh giờ đây đã quay về với thế giới của tôi...

Trong ba hôm, những vòng hoa ngập căn phòng lung linh ánh nến. Sao những bông hoa này cũng tươi như hoa cưới của tôi ngày xưa? Anh đang nằm đây, sát bên tôi, im lìm và thanh khiết, không gây cho tôi cảm giác như khi ngửi chiếc chén của người ăn mặn. Qua tấm kính, khuôn mặt anh hướng về tôi, mắt nhắm, thanh thản lạ lùng...

Tôi đưa anh đi. Trầm nhang xông ngát cả khu vườn trước khi giàn cai đám vào rước anh. Hình như chưa bao giờ tôi cảm thấy rõ ràng tôi là vợ anh bằng lúc này, cái cảm giác mà khi anh còn sống tôi đã không hề cảm thấy.

Ngoài bờ rào, một người đàn bà bồng một đứa trẻ đang hướng về phía tôi. Cô ta đang nhìn anh lần cuối, cũng như tôi khuôn mặt dày nước mắt. Tôi run lên, vịn tay vào vai con trai bước đi. Cùng lúc hai nỗi đau trùm lên tim tôi. Cô ta không quàng khăn che mặt nữa, khuôn mặt như phơi ra trước những đôi mắt nhìn soi mói. Đứa trẻ trong tay cô ta ngước đôi mắt thơ ngây nhìn ra chung quanh, chân tay nó khua khoắng không ngừng trong lòng mẹ. Một tiếng “choang” vang lên, người ta đã đập vỡ cái bình gốm thô. Tiếng đập ấy nhằm báo hiệu cho linh hồn biết chẳng còn gì để lưu luyến nữa và báo hiệu cho cả những người sống biết từ đây cuộc đời đã chuyển sang một chặng khác rồi...

Ngoài bờ rào, người đàn bà và đứa bé vẫn đang nhìn về phía tôi. Tôi cảm thấy rất rõ nỗi tủi hổ của họ. Cô ta đã xin bịt khăn tang nhưng con trai tôi từ chối. Cô ta không có vị trí nào trong gia tộc của chúng tôi. Tôi quay đi. Tôi đã ngậm đắng nuốt cay, nhẫn nhịn gần nửa cuộc đời chỉ để hôm nay đứng ở vị trí này, danh chính ngôn thuận đưa chồng đi lần chót.

Một năm sau, khi nhận được giấy tòa án mời đến tôi mới biết Thảo đã đưa đơn xin truy nhận cha cho con mình. Thần kinh tôi vừa mới tạm dịu xuống chợt như đột ngột hoảng loạn. Bên tai tôi đột ngột nghe tiếng “xoảng” khủng khiếp, tiếng xoảng xua đuổi linh hồn, tiếng của chiếc bình vỡ tan.

Tôi chạy vào phòng mình, trùm chăn kín mặt, nghẹn ngào lẩm bẩm: Anh đã quay về rồi mà? Anh đã quay về, ghé lưng nằm trên chiếc giường, này anh là của tôi. Điều đó đối với tôi có ý nghĩa lớn lắm... Con trai tôi đến ngồi bên tôi: “Mẹ nghĩ sao”. Tôi run run: “Con cứ bàn với luật sư, mẹ không có can đảm nhắc tới chuyện này nữa”.

Tôi không ra tòa. Tôi biết Thảo bồng con đến tòa nhiều lần nhưng vẫn chưa toại nguyện... Luật pháp đòi hỏi phải xét nghiệm DN, mà muốn con trai tôi chấp nhận thử ADN cùng với đứa bé thì phải có bằng chứng cụ thể thuyết phục được quan tòa... Nhưng sẽ không bao giờ có bằng chứng cụ thể... Chồng tôi không lưu lại một dấu tích gì nói lên ý nguyện của anh về đứa bé...

Năm này tiếp năm khác trôi qua. Trên bàn thờ anh, những cây thần tài trong lọ sứ đã vươn cao xanh ngắt. Năm tháng làm lòng tôi dịu lại. Con trai tôi đã thi đậu kỳ thi công chức. Sáng sáng, tôi ủi sơ mi và cà vạt cho con đi làm, nóng lòng mong con sớm có người chăm sóc. Một đời nữa sẽ sống trong ngôi nhà này... Từ khi anh mất đi, các gallerie càng ráo riết tìm mua tranh của anh, dường như những bức tranh ấy là một gia tài mà anh đã để lại để chuộc những nỗi đau anh đã không tránh được cho chúng tôi khi còn sống...

“Con nghĩ là trong phòng vẽ vẫn còn một số tranh nữa” - con tôi nói.

Không còn cách gì hơn và phá ổ khóa, bởi chìa khóa đã mất tăm không ai tìm được. Cánh cửa rít lên mở ra nơi ẩn náu cuối cùng của anh, với những đồ đạc trong phòng: chiếc ghế đẩu mà anh ngồi vẽ, chiếc sofa đơn độc mà anh nằm năm xưa. Cả giá vẽ cũng phủ đầy bụi... Chừng mười bức tranh còn nằm trên vách, trong những bức tranh ấy những người đàn bà hiện ra với hoa trái và chim câu, với sông với suối... Rất nhiều người nữ nhưng chỉ có một khuôn mặt.

Trên giá vẽ vẫn còn bức tranh cuối cùng. Cũng khuôn mặt người nữ ấy, trong trạng thái nguyên sơ, với thân thể mịn màng sáng chói giữa hai bên là mặt trăng, mặt trời tỏa rạng. Da thịt ấy được thể hiện như suối như đồi, từ đó mọc lên những cây xanh đầy hoa trái... Một thứ ánh sáng rực rỡ và huyền nhiệm phủ khắp trên bức tranh, khiến sự trần truồng không hề mang vẻ dung tục, mà chứa đầy sức cuốn hút từ cội nguồn sự sống.

Tôi khựng lại, từ từ ngồi xuống chiếc sofa. Tôi nhìn xuống tấm thân mảnh khảnh của mình, bỗng như thấy lại những tháng ngày rất xa, xa lắm, khi anh còn nhìn tôi bằng ánh mắt âu yếm chế riễu và bảo tôi là cô bé trả bài chưa thuộc... Trời cho tôi không ít hơn cho những người đàn bà khác, vậy mà tôi lại để hoang hóa cánh đồng của mình đến suốt một đời. Đâu phải lỗi tại tôi, mà tại một mặc cảm gì đó sâu thẳm lắm đã ở trong tôi từ thời thơ dại...

Hân đến ngồi bên tôi. Tôi mở mắt bảo con: Những bức tranh này không phải của mình rồi có ngày mẹ và con sẽ đem vào trong ấy cho cô Thảo.

Hân ngạc nhiên:

- Việc gì phải thế. Cô ấy chẳng có quyền gì cả!

Tôi nhẹ nhàng, xót xa:

- Nếu không có người đàn bà này ba con có vẽ được không?

Hân quay lại, phóng một ánh nhìn ghê sợ lên bức tranh khỏa thân. Tôi chợt nhớ tới pho tượng đất năm nào nó nặn ra mà tôi đã đập tan. Có phải khi tôi còn thơ ấu cũng đã có ai gieo vào lòng tôi nỗi ghê sợ truyền kiếp đối với xác thịt con người?

***

- Mùa hè năm sau, thấy khỏe trong người, tôi vào Sài Gòn chơi nhân dịp thăm Thảo.

Hai mẹ con Thảo sống trong căn phòng chung cư nhỏ trên tầng năm. Tôi đến rất sớm vào sáng chủ nhật, đứa trẻ còn ngủ. Một đứa con gái chừng lên sáu có vầng trán cao với đôi lông mày thanh thoát. Trông đứa bé nằm, khuôn mặt ngăm ngăm, mái tóc quăn quăn, cái cằm và đôi môi ngang ngạnh, tôi bỗng nhớ đến cảm giác mỗi lần nhìn anh nằm ngủ - như sấm sét còn ngủ trong lòng đất.

Tôi ngồi bên Thảo. Hai chúng tôi đều muốn nói nhưng chắng, biết nói gì. Tất cả đã qua rồi... Không còn gì thay đổi được nữa. Không, có một điều: Tôi nói với Thảo, tôi đã khuyên con tôi đồng ý cho thử ADN.

Trái với điều tôi chờ đợi, Thảo nín lặng một giây, rồi bảo tôi:

- Cảm ơn chị. Ngày ấy em đã vội vã quấy rối cuộc sống của chị. Lẽ ra em phải để cho chị được yêu như ý nguyện của anh lúc còn sống...

Tôi cúi xuống, không muốn Thảo nhìn thấy đôi mắt đỏ. Nhưng Thảo không nhìn tôi:

- Lúc ấy em cứ vội vì sợ cháu sẽ đứt lìa với nguồn cội của mình... Nhưng bây giờ thì em nghĩ lại rồi, không cần phải thử ADN nữa!

Tôi giật mình. Điều gì đã xảy ra? Thảo hiểu ý, bảo tôi:

- Vì cháu đã bắt đầu vẽ.

Cô kéo tấm màn che vội ở cuối giường, để tôi thấy những bức vẽ màu nước nhỏ ngổn ngang trên nền gạch cũ mòn vẹt. Những bức tranh với màu sắc rực rỡ và mạnh mẽ. Thảo đã tin ở điều gì, tin rằng những bức tranh này chứng minh với người đời rằng những gien của anh đã truyền qua đứa bé? Hay tin là rồi đứa bé lớn lên sẽ tự làm lấy cuộc đời mình, không cần ấn chứng?

Tôi cúi nhìn khuôn mặt thơ ngây và hai bàn tay nhỏ mở ra trong giấc ngủ. Những vân hoa hiện rõ trên tay đứa bé, cũng như trên tay con tôi ngày xưa. Ngày xưa...

Tôi thở dài, đã bao nhiêu nước chảy qua cầu từ hai tiếng ngày xưa, ngày mà tôi còn có anh.

Theo Phụ nữ CN- Từ Báo Người Lao Động

Sanya
07-02-2006, 12:27 AM
LÍNH MỚI
Truyện được sưu tầm trên traiviet.net, xin chân thành xin lỗi tác giả vì sanya đã nhỡ quên mất tiêu tác giả của truyện này.

Sáng nay thức dậy muộn, khi cho xe vào bãy đỗ xe của cơ quan nhìn đồng hồ đã gần 8 giờ rồi mà cơ quan của anh bắt đầu làm việc từ 7 giờ. Anh phi thật nhanh về phòng, Vừa đẩy cửa phòng bước vô, thì anh không biết có chuyện gì mà phòng anh có rất đông người. Anh vờ như mới đi đâu sang phòng khác và quay trở về để mọi người không chú ý, anh điềm nhiên ngồi vào ghế và bật máy tính, mà không quan tâm đến mọi người đang ở đó làm gì. Ngay lúc đó anh trưởng phòng Tổ Chức quay sang anh và nói:
- Nghiệp ơi, cậu phải tươi lên để lính mới ra mắt chứ. Mới ngày đầu em nó nhập phòng mà cậu đăm đăm thế này chắc em nó sợ mất vía quá.
- Lính mới hả anh. Nghiệp tươi cười hỏi trưởng phòng và quay sang “lính mới”: Em biết hai bà chị kia rồi phải không? Còn anh, anh tên Nghiệp, công việc của anh cũng như 2 người đẹp kia thôi, còn cụ thể thế nào thì sau này em sẽ biết.
Lúc này anh mới được nhìn kỹ “lính mới”, “lính mới” cũng bình thường như mọi người. Cao khoảng 1m65, không mập, không vai u thịt bắp, gương mặt dễ nhìn chứ không phải là quá đẹp trai. Nhưng cặp mắt của “lính mới” khá đặc biệt và có sức hút đấy nhé, cặp mắt có vẻ như buồn buồn dù trên mặt của “lính mới” đang nở nụ cười. Tên của “lính mới” là Hoài – Trương Vĩnh Hoài. Anh nghĩ cái tên đó thì rất hợp với lính mới, bởi vì khi đọc tên của “lính mới” anh cảm nhận như nó cũng…buồn buồn như đôi mắt của “lính mới”
Sau một lúc trò chuyện, giới thiệu qua lại thì anh Trưởng phòng tổ chức quay trở về phòng của anh ấy. Lúc này Trưởng phòng của anh mới phân chỗ ngồi cho Hoài. Trước khi có lính mới thì phòng của anh rất vắng vẻ. Vì đặc thù công việc nên phòng của anh rất rộng. Căn phòng rộng khoảng 6m, dài 8m chứa đến 14 cái máy in và 14 cái máy vi tính nhưng chỉ có 4 người. Anh Trưởng phòng thì ngồi giữa nhưng sát vách phía trong cùng. Căn phòng tuy rộng nhưng chẳng còn 1 chổ trống vì mấy cái máy in đã chiếm hết diện tích của phòng. Phòng anh bố trí nhân viên ngồi 2 dãy theo chiều dài của căn phòng. Hai “bà chị sồn sồn” thì ngồi bên phía của sổ. Anh thì ngồi đối diện với 2 bà ấy phía vách bên đây. Nói là ngồi đối diện với nhau nhưng chẳng ai thấy ai vì bị giàn máy tính và máy in che chắn hết. Dãy bên anh chỉ mới có mỗi anh ngồi thôi mà lai ngồi ở bàn chính giữa nữa chứ nên dĩ nhiên Hoài được phân ngồi bên dãy của anh cho có bạn, còn chuyện ngồi phía phải hay trái của anh thì nó có quyền chọn lấy. Hoài chọn ngồi phía phải của anh, vì cái bàn này và bàn anh kê sát nhau, nó là lính mới nên muốn ngồi gần người có nhiều kinh nghiệm hơn để tiện bề chỉ dẫn cho nó. Với lại anh được trưởng phòng phân công là người trực tiếp hướng dẫn công việc mới cho nó.
Ngày đầu tiên đi làm, nó được anh giới thiệu cho nó sơ bộ về công việc của các nhân viên trong phòng, đặc thù công việc trong phòng cũng như cụ thể công việc của nó cần làm theo sự phân công của trưởng phòng. Ngày thứ nhất đi làm nó thấy thật thoải mái vì các đồng nghiệp đều vui vẻ và nhiệt tình với nó.
Công việc mà các nhân viên trong phòng của nó phải làm đó là quản lý cước viễn thông. Tính cước điện thoại di động trả sau, điện thoại cố định, internet của từng thuê bao sử dụng trong tháng. Một công việc được ứng dụng hoàn toàn trên nền VisualFox nên cần phải có kiến thức về môn lập trình này, kinh nghiệm xử lý các tình huống liên quan đến cước. Buổi cơm trưa anh cùng Hoài đi ăn cơm với nhau, anh thấy Hoài cứ ấp a ấp úng như có điều gì đó muốn nói mà ngại nói, với kinh nghiệm của “ma cũ” và lớn tuổi hơn, anh hỏi ngay Hoài.
- Hoài à, dường như em muốn nói với anh chuyện gì mà thấy khó nói phải không?
- Dạ…dạ em…
- Em cứ nói ra xem anh có giúp gì được cho em không. Tuy anh và em mới quen nhau có 1 ngày thôi, nhưng hiện mình đã là đồng nghiệp của nhau rồi. Có gì em cứ nói, đừng ngại.
- Dạ…, anh Nghiệp ơi thật sự em chưa biết gì về VisualFox với lại chưa có kinh nghiệm trong xử lý cước thì làm sao em có thể hoàn thành công việc được. Tối qua, sau khi làm xong, về nhà ăn cơm em đã chạy khắp các trung tâm tin học ở Long Xuyên này nhưng không tìm ra được chỗ nào dạy lập trình VisualFox từ căn bản đến nâng cao cả, em lo lắm.
- Ồ thì ra là thế. Nè mà chắc là em đã tìm khắp Long Xuyên này rồi phải không?
- Dạ, em tìm khắp rồi anh ạ, nhưng người ta chỉ dạy căn bản thôi, chứ không dạy mình viết chương trình lớn. Em cũng có mua sách về để tự học, nhưng xem chẳng hiểu gì hết anh ạ.
- Được rồi, anh sẽ cho em một địa chỉ tin cậy để em có thể học môn lập trình này. Phòng học khang trang, yên tĩnh, giảng viên chu đáo, có kinh nghiệm…Ừ, từ từ em ạ, em đừng căng thẳng quá, Trưởng phòng đã cho em thời gian 6 tháng để làm quen với công việc, rút kinh nghiệm, rồi sau đó mới phân việc cụ thể cho em mà. Nè, hứa là phải khao anh chầu gì ra trò đó nha. Anh mỉm cười ghi địa chỉ đưa cho Hoài. Và không quên dặn Hoài rằng, nơi đó chỉ dạy vào ban đêm và thứ 7, chủ nhật mà thôi.
Anh thấy cơ mặt của Hoài giản ra, Hoài không còn nhăn nhó nữa, miệng thì không ngừng cám ơn anh rối rít, vui quá đi chứ, bởi vì Hoài đã tìm được cho mình chỗ “tầm sư học đạo” mà thời gian học quá ư lý tưởng, không ảnh hưởng đến việc làm của nó.
Chiều sau khi từ cơ quan về, Hoài tranh thủ tắm thật nhanh và chạy xe đến địa chỉ mà anh cho. Đến nơi nhìn thấy đúng địa chỉ ghi trong giấy, Hoài hơi lo trong lòng, bởi vì đây chỉ là một căn nhà bình thường, có phần vắng vẻ chứ không giống như 1 trung tâm dạy tin học. Hoài chần chừ không muốn vô, nhưng Hoài làm liều bấm chuông, vì Hoài nghĩ không đến nỗi nào anh “trát” Hoài.
Sau khi Hoài bấm chuông thì xuất hiện trước mặt Hoài là 1 người phụ nữ trung niên cỡ khoảng trên dưới 50 tuổi, bà hỏi Hoài tìm ai, Hoài hỏi lại bà có phải nơi đây có người dạy kèm môn tin học không, nhưng đáp lại câu hỏi của Hoài là cái lắt đầu của bà ấy. Hoài đang quay đầu xe định đi thì anh chạy ra với hình dạng của một người từ phòng tắm vừa bước ra với đầu tóc bù xù nước, trên người chỉ độc chiếc quần short. Anh mở nụ cười chào Hoài và nói:
- Này đã đến nhà anh rồi, sao Hoài không vô nhà chơi?
Hoài há hốc mồm kinh ngạc, trong lòng thì đang giận lên vì không ngờ bị anh “cho ăn thịt lừa”, rồi hy vọng có được chổ học tốt vừa lóe lên thì tắt ngủm đi. Hoài chưa muốn vô thì anh vội cầm tay lái và dẫn xe Hoài vô nhà. Và không ngừng trêu Hoài đang khi Hoài không vui.
- Hoài chê nhà anh không có chỗ ngồi hay sao mà không chịu vô vậy? Hoài không muốn học lập trình à?
- Hoài quạo lên nhưng vẫn dịu giọng với anh – Thôi anh cho em ăn thịt lừa bấy nhiêu đủ rồi, em không thích đùa đâu nhé.
- Ờ mà này? Anh có lừa gạt em gì đâu? Em nói muốn học lập trình thì anh cho em địa chỉ học đấy thôi. Vậy là anh gạt em đó sao?
- Trung tâm dạy tin học của anh đây sao? Hay là nhà của anh? Không phải anh lừa em thì là gì?
- Ông tướng ơi! Uống hết đi nước cho hết giận đi, và nghĩ kỹ lại xem anh có thật sự dối gạt gì em hay không? Anh đi vào mặc thêm quần áo xong sẽ quay ra nghe em trách tiếp.
Anh quay vô nhưng cơn giận trong Hoài vẫn không dịu xuống. Khi quay trở ra, trên tay anh là mấy cuốn sách lập trình, anh không ngồi vào bàn mà đứng đối diện hỏi Hoài.
- Bây giờ em đã hết giận chưa? Nếu chưa thì cứ ngồi đó mà giận tiếp đi, còn đã hết giận thì lên phòng để bắt đầu học.
Sau câu nói của anh Hoài chỉ biết tròn mắt nhìn anh mà miệng không thốt ra được lời

Sanya
07-02-2006, 12:28 AM
nào. Bây giờ thì Hoài như hiểu được ý của anh, anh quay bước vô thì Hoài lặng lẽ đi theo anh vào phòng của anh. Một căn phòng nhỏ chỉ khoảng 20 mét vuông, phía phải bước vào là tủ quần áo của anh, bên cạnh tủ là một cánh cửa nhỏ thông ra một cái giếng trời mà anh nói với Hoài đó là “khu vườn yên tĩnh của anh”. 2 vách còn lại có 2 khung cửa sổ trên đó. Ngay góc chữ A của căn phòng anh đặt một cái bàn dài, Góc trong của bàn là chiếc máy vi tính để bàn, giữa bàn là tấm ảnh chân dung của anh và vài quyến sổ trên đó mà Hoài không dám lật ra, một cái đồ cắm viết rất style với đầy đủ dụng cụ trong đó, một bình hoa nhỏ có 1 bông cẩm chướng tươi trong bình, phía ngoài cùng là chiếc Laptop. Cái bàn làm việc trong phòng riêng của anh nó rất ấn tượng đối với Hoài, bởi vì trước bàn là cửa sổ, bên hông bàn – phía trái - cũng là cửa sổ, trong phòng nhỏ không gắn máy lạnh nhưng nhiều cửa như thế nên cảm thấy rất mát, phía sau ghế ngồi là vách ngăn có cửa ra vào, trên vách được treo vài bức tranh vẽ mà anh nói đó là của một người bạn làm hoạ sĩ vẽ tặng anh. Vì căn phòng hơi chật nên anh không ngủ trên giường. Anh ngủ trên một chiếc nệm dày, khi mệt thì anh trải nệm xuống, khi không cần thì anh dựng đứng nó lên để tiết kiệm được khoảng trống trong phòng. Nhìn căn phòng Hoài có thể đoán được anh là người rất nghiêm túc nhưng không kém phần lãng mạn.
Có điều thắc mắc mà Hoài hỏi ngay anh mà không đợi lúc khác. Hoài hỏi anh chứ tại sao trên bàn của anh có một khung ảnh mà đó lại là ảnh của chính anh chứ không phải là của một cô gái nào đó. Anh bối rối gảy đầu và nói rằng anh chưa có người yêu. Hoài không biết có nên tin hay không khi mà đã 27 tuổi rồi mà anh nói rằng mình chưa có người yêu. Để tránh bị Hoài “tra vấn” tiếp anh chuyển sang đề tài khác. Anh nói rằng, ngày đầu khi mới vào cơ quan làm cũng vậy, anh giống như Hoài hiện nay. Nhưng nhờ sự chỉ dẫn tận tình của 1 chị lớn tuổi làm cùng phòng mà anh mới có thể hoàn thành tốt công việc được giao, giờ thấy Hoài giống hình ảnh của mình cách đây 4 năm trước anh thấy mình phải có trách nhiệm giúp đỡ Hoài. Nghe anh nói thế Hoài cảm thấy thật hạnh phúc, bởi vì Hoài đã may mắn có được 1 đồng nghiệp tốt. Anh và Hoài ngồi trò chuyện với nhau đủ mọi vấn đề chứ chẳng học gì. Anh giải thích với Hoài là công việc tính cước viễn thông mỗi tháng chỉ bận rộn vào những ngày đầu tháng mà thôi, 2 tuần cuối tháng thì có phần rãnh hơn. Do đó vấn đề liên quan đến công việc hay Hoài muốn học thêm môn lập trình thì anh sẳn sàng hướng dẫn Hoài ngay tại cơ quan, chứ thực ra anh không phải là một lập trình viên chuyên nghiệp. Còn nếu có vấn đề gì đó thắc mắc thì Hoài cứ đến nhà của anh, anh sẳn sàng giải đáp thắc mắc đó nếu trong khả năng của anh.
Những ngày sau đó lúc nào Hoài cũng tíu tít bên anh, bất kỳ làm đến công đoạn nào, gặp các từ chuyên môn hó hiểu nào anh cũng giải thích cặn kẽ từng chi tiết cho Hoài hiểu. Trưởng phòng có nói sau này sẽ giao cho Hoài tính cước điện thoại cố định. Mà cước địên thoại cố định là loại cước khó xử lý nhất. Cước di động thì tất cả các công đoạn đều đã tính sẳn ở GPC, các tỉnh chỉ có việc nhập danh sách khách hàng biến động hàng tháng và append vào là có thể in được, cước internet cũng thế, dữ liệu do VTN tính sẳn và gởi về. Nhưng cước cố định thì không như thế. Các công đoạn đều làm tại tỉnh. Phòng anh có 4 người, 1 người tính cước di động, 1 người chuyên đối soát dữ liệu, còn lại 2 người làm cố định, anh vừa làm cố định vừa kiêm luôn cước Internet. Giờ Hoài vô, truởng phòng sẽ phân cho Hoài sẽ phụ trách cước Internet và cố định của 2 huyện nhỏ trong tỉnh.
Vì lập trình chưa vững nên để hiểu được việc tính cước đối với Hoài rất khó. Nhưng có thứ Hoài có thể làm tốt ngay từ đầu đó là in cước. Trước đây khi chưa có Hoài, phòng chỉ có 4 người. Trưởng phòng thì lớn tuổi, 2 “bà chị” thì không thể làm khuya nên những ngày in giấy báo cước, hóa đơn chỉ có mỗi mình anh thức trắng đêm chạy đua với 14 cái máy in suốt mấy đêm liền. Bắt đầu từ tháng này thì anh cảm thấy không sợ làm đêm nữa, vì có Hoài, nó sẽ cùng anh thức đêm in cước. Ban đêm chẳng những không được ngủ mà còn chạy quần quật bên mấy cái máy in tốc độ cao làm cho anh mệt muốn xỉu được. Giờ có người làm phụ, có người trò chuyện trong đêm thì dĩ nhiên anh rất mừng. Nhớ lại đêm đầu tiên trực cùng Hoài mà anh không khỏi buồn cười, chiều hôm trước đó, anh hỏi Hoài có từng thức suốt đêm chưa, Hoài nói chưa bao giờ thức trắng đêm cả. Anh liền hù Hoài, thức suốt đêm rất là đói bụng, em phải mang theo thật nhiều đồ ăn nha, vì phòng mình làm thuộc dạng tài liệu mật nên ban đêm em không thể ra khỏi cơ quan mua đồ ăn, em không mang theo thức ăn, có xỉu là anh không chịu trách nhiệm đâu đấy. Không ngờ tối đó khi vô làm anh như ngất đi vì đóng đồ ăn thức uống mà Hoài mang theo. Vậy mà sáng hôm sau đóng đồ ăn đó đã nằm gọn trong bụng của anh và Hoài.
*****
6 tháng chỉ tiêu của trưởng phòng đưa ra cho Hoài đã hết, bắt đầu tháng thứ 7 này thì anh chia 1 phần công việc của anh cho Hoài, Hoài phải tự mình chịu trách nhiệm về cước Internet của toàn tỉnh và cước điện thoại cố định của 2 huyện miền núi, vì đó là 2 huyện có ít thuê bao điện thoại nhất trong tỉnh. 6 tháng với sự chỉ dẫn tận tình của anh thì Hoài đã nắm rất vững cách làm việc nhưng khi bắt tay vào làm thật sự thì Hoài vẫn cảm thấy rất lo lắng, bởi vì Hoài cảm thấy công việc này áp lực vô cùng lớn. Hoài không lo lắng về trách nhiệm trước cơ quan, mà Hoài lại lo lắng về trách nhiệm phải có với mười mấy ngàn thuê bao điện thoại mà Hoài tính cước. Chỉ cần một sai sót nhỏ thôi là sẽ kéo theo bao nhiêu là phiền phức. Tính cước sai khách hàng sẽ kiện cáo lung tung, báo chí đưa lên trước bàn dân thiên hạ, uy tín của Hoài, của cơ quan của cả ngành Bưu Điện lúc này đều nằm trong tay Hoài, tránh sao mà Hoài không lo lắng.
Hoài lo lắng vậy mà vẫn không khỏi, Hoài vẫn phải nhờ anh “chi viện” Bởi vì khi tính đến những máy điện thoại có cuộc gọi kéo dài hơn 60 phút làm cho Hoài hoảng sợ. Những máy gọi 1 đến 2 trăm phút cho mỗi cuộc gọi thì làm sao Hoài có đủ kinh nghiệm để xử lý. Nhìn gương mặt nhăn nhó của Hoài anh có đang “rối” đến đâu vẫn vui vẻ giúp đỡ Hoài. Tháng đầu tiên tự mình chịu trách nhiệm về công việc của mình đã lấy đi của Hoài không biết bao nhiêu đêm mất ngủ. Rồi mọi thứ cũng quay đều theo guồng máy của nó. Từ ngày có Hoài thì anh vui hẳn lên, ban đêm hai người thuòng đi uống càphê hay dạo phố đâu đó, cuối tuần thì 2 người thường kéo nhau đến quán nhậu nào đó làm lai rai vài chia bia, có men trong người 2 người chẳng bao giờ chạy về nhà mà tìm chỗ tắm hơi, massage. Khi chỉ còn riêng 2 người trong phòng xông hơi hay trong hồ thủy lực thì cơ thể họ phơi trần ra, nhưng tuyệt đối chưa lần nào anh hay Hoài có những hành động vượt quá giới hạn của tình cảm anh em, tình cảm của 2 người hoàn toàn một cách rất trong sáng.
Đến một lần anh và Hoài cùng các đồng nghiệp khác đi công tác ở các tỉnh miền Đông Nam bộ thì anh và Hoài được ngủ chung một phòng. Vì công việc của anh và Hoài là xử lý và quản lý dữ liệu cước, nên khi đi công tác xa anh và Hoài có mang theo Laptop để ban đêm khi rãnh anh lên mạng trả lời, cung cấp số lieu cho 1 đồng nghiệp chuyên về giải đáp khiếu nại của khách hàng. Đêm đó khi do tỉnh bạn tiếp đãi quá “nồng nhiệt” mà khi về tới phòng Hoài chỉ kịp nói cho anh biết pass máy của Hoài rồi lăn ra ngủ như chết. Anh mở máy của Hoài và lấy số liệu gởi mail về cho đồng nghiệp ở cơ quan. Trong máy của Hoài có một tập tin làm anh không kìm nỗi sự tò mò của mình vì tên tập tin là “Diary”.
*******************
Ngày…tháng…năm…
Hôm nay là ngày đầu tiên mình đi làm – ngày đầu tiên mình trở thành người lớn thực thụ chăng? Khi đến cơ quan mình run lắm, người ta thường nói “ma cũ ăn hiếp ma mới” không biết mình sẽ nhu thế nào đây nữa, các đồng ngiệp có tốt với mình không? MÌnh có hòa nhập được với công việc trong cơ quan không? Nhưng cũng may mắn cho mình, vì hôm nay mình đã quen với đồng nghiệp là nam, anh ấy rất vui vẻ, rất nhiệt tình, ừ, dường như anh ấy lớn hơn mình 4 tuổi thì phải, ông bà xưa có nói “dậu - tỵ - sửu tam hạp” hy vọng là như thế nhé. Ngày đầu mình đi làm mà có chuyện khó khăn rồi đây, mình không biết gì về lập trình VisualFox thì làm sao có thể làm việc đây chứ? Lo quá….
Ngày…tháng…năm…
Mình đang quạo lên vì nghĩ là anh Nghiệp lừa mình đến “trung tâm tin học” của anh ấy thì anh ấy xuất hiện. Trời ơi, trong phòng tắm anh ấy vừa bước ra chỉ độc chiếc quần short trên người, nhìn anh ấy không đẹp trai lắm, cơ thể gầy ốm của anh ấy thì khó mà làm cho ai đó ngưỡng mộ, nhưng sao con mắt của mình cứ dán chặt vào người anh ấy, có phải mình đã có vấn đề gì hay không đây? Đúng là anh Nghiệp vui tính thật, anh ấy thấy mình căng thẳng quá mà đã tạo ra tình huống hài hước để xua đi lo lắng của mình. Anh ấy đúng là một người anh tốt. Mà mình lạ thật, lúc ở trong phòng của anh ấy, duy chỉ có anh ấy và mình, nhìn anh mình cứ muốn nhào đến ôm anh ấy thật chặt, muốn cắn vào môi, vào lưỡi anh ấy như các cảnh trong phim tình cảm nhưng mình không dám làm điều đó, vì anh ấy là con trai như mình với lại anh ấy lớn tuổi hơn mà còn là đồng nghiệp nữa chứ, mình mà làm thế nếu anh ấy phản đối thì chắc chết vẫn còn chưa hết quê nữa…
Ngày…tháng…năm…
Được nhìn ngắm cơ thể trần trụi của anh ấy trong phòng tắm hơi, dục vọng trong người mình trào dâng lên, mình rất muốn được làm tình cùng anh ấy nhưng mình không đủ can đảm để làm điều trái ngược với tự nhiên này…
Ngày… tháng… năm…
Đêm qua được ngủ cùng với anh ấy trong khách sạn này, mình không thể nào ngủ được, khi anh ấy ngủ thật say, nhìn anh ấy ngủ mà mình muốn ôm chầm lấy anh ấy, mình muốn được ân ái với anh ấy, nhưng mình đã cố kìm nén cảm xúc lại. Mình lo quá, mình sợ một ngày nào đó khi mình không còn đủ tỉnh táo để kìm chế bản than, mình sẽ làm gì đó với anh ấy thì anh ấy phản ứng như thế nào đây?...
*****************
Anh đọc tất cả những dòng nhật ký mà Hoài đã lưu trong máy của nó. Quay sang nhìn Hoài ngủ anh nở một cười thật buồn, Hoài đâu biết rằng trong người anh cũng có những cảm giác giống y nhưu của Hoài, nhưng vì ngại mình không đẹp trai, Hoài là đồng nghiệp cùng làm chung nên anh chẳng dám hé mở tí bí mật nào cho Hoài biết về con người thật của anh. Nhưng bây giờ hiểu rõ Hoài anh cảm thấy rất hạnh phúc, anh biết kể từ lúc này cuộc sống của anh và cả Hoài sẽ tươi đẹp hơn gấp trăm lần bởi vì…
Nằm xuống bên Hoài anh nhẹ nhàng ôm Hoài vào lòng và đặt lên môi Hoài nụ hôn nóng bỏng, Hoài không biết gì, nó vẫn say ngủ vì xỉn mà. Anh cũng không đi xa hơn, bởi vì anh muốn dành giây phút hạnh phúc nhất khi 2 người hoàn toàn tỉnh táo.
Sáng sau khi thức dậy Hoài thật sự rất ngạc nhiên vì được nằm gọn trong vòng tay của anh, Hoài nằm im đó tận hưởng hạnh phúc mà Hoài không bao giờ ngờ là sẽ có. Đang nhạc nhiên thì anh trở mình thức dậy. Anh nói anh sẽ vô tắm trước. Khi ânh vô nhà tắm làm vệ sinh xong thì cửa nhằ tắm bật mở trở ra, trước mắt Hoài là cơ thể trần truồng không một mảnh vải che thân, Hoài đứng đó run run còn anh thì tiến gần hơn đến Hoài, anh khẽ ôm Hoài vào lòng, đặt lên môi Hoài nụ hôn và nói nhỏ với Hoài:
- Hoài ơi, anh cũng đã yêu em từ lâu rồi, yêu như em đã và đang yêu anh vậy, mình là người tình của nhau Hoài nhé.
Hoài vòng tay ôm chặt lấy anh, họ cùng dìu nhau vào phòng tắm, rồi cùng nhau hòa vào bồn nước nóng mà anh đã vừa mới xả trước đó. Ngoài kia mặt trời đang lên, chim dang ríu rít hót đón chào một ngày mới, một bình minh của tình yêu.

TuyPhong
07-02-2006, 08:53 AM
Cánh cáo thành viên Sanya

Dạo gần đây box truyện nhận được rất nhiều sự đóng góp của thành viên Sanya, chúng tôi rất trân trọng và rất lấy làm vui vì điều ấy. Nhưng dù đã được sự nhắc nhở nhiều lần rằng: Phải có tên tác giả dưới phần truyện đã post, nhưng thành viên Sanya vẫn cố tình lờ đi và giải thích rằng trang báo-tờ báo mà Sanya sưu tầm không có ghi tên tác giả (rất vô lý nếu các bạn mua 1 tập san bất kì của trang báo Việt- bạn sẽ thấy điều vô lý này rõ ràng hơn)

Để tránh sự tranh chấp tác quyền ở các tác phẩm Gay-Như trường hợp của Benny. Cũng như sự tôn trọng các tác giả đã bỏ thời gian tâm trí viết ra các truyện cho chúng ta thưởng thức

Quyết định

Cảnh cáo thành viên Sanya. Nếu trường hợp tương tự vẫn tái diễn, Trial moderator box truyện có quyền xóa và không cần báo trước.

Để tránh trường hợp tương tự, chúng tôi khuyên bạn nên dùng từ là "Khuyết Danh". Nhưng 1 loạt truyện được trính đăng từ tạp chí của Sanya mà không có tên tác giả là chúng tôi không chấp nhận.


Thân

quongdang
07-02-2006, 09:21 AM
trùi..chuyện hay dzậy mừ...Anh sanya cố sửa chữa khuyết điểm hổng có tin tác giả nha...chớ anh tuỳ phong anh ....xoá...thìa em bít đọc ở đâu chừ...
...

Sanya
17-02-2006, 12:02 AM
Tiếng đờn trong những đêm trăng



Truyện ngắn của Nguyễn Văn Trang

A, gã đây rồi! Gã xuất hiện từ bờ bên kia và lò dò tiến về bờ bên này. Gã lại vòi rượu đây. Này, mi một ly, ta một ly, cạn! Dưới mẩu trăng cuối tháng còm nhom, lão ngồi chén tạc chén thù. Lão rót rượu ra hai cái ly, rót đầy tràn cả ra ngoài. Rồi lão mời bạn, cụng ly, rồi cạn. Uống hết ly của mình, lão cạn luôn phần của bạn. Khi chai rượu đã gần cạn, vừa lúc trăng trên mặt sông đã đến gần bên lão, lão mang đờn ra. Và kéo.

Tiếng đờn cò ai oán trong đêm, len lỏi qua từng giọt sương oằn mình trên ngọn cỏ. Những giọt âm thanh thấm vào đêm như hòa mình vào một thế giới tưởng chừng quen thuộc lắm. Tiếng đờn bên sông chỉ heo hút thổi vào gió không đủ làm ai tỉnh giấc, kể cả những người khó ngủ nhất. Vă trăng cũng yếu ớt như tiếng đờn không đủ chia ánh sáng cho mấy nóc nhà xa xa...

Người làng gọi lão là lão Gàn. Mà lão gàn thật. Lão sống một mình trong túp lều bên sông cuối làng, không họ hàng, không vợ con. Suốt ngày lừa mấy con vịt còm, đêm đến một mình ngồi uống rượu kéo đờn cò. Ngoài chăn vịt lão còn có một cái nghề mà chỉ mới nghe nhắc đến, nhiều người đã nổi da gà: nghề bốc mả. Lão chuyên đi bốc mả, hốt cốt cho người trong làng, chỉ người làng này thôi. Những cái mả mấy chục năm trời lưu lạc, nay con cháu muốn đem về nằm cạnh nhau; những cái mả không ai thừa nhận cần chuyển đi nơi khác, những cái mả dưới đáy ao... tất cả đều nhờ vào tay lão. Mỗi khi cần bốc mả người làng lại tìm đến lão. Lão có cách làm việc thật lạ lùng, chẳng cần bao bọc che chắn gì sấc, chỉ cần hai xị, đúng hai xị thôi là lão tiến hành công việc ngay tức khắc. Lão làm việc rất tỉ mỉ, lượm từng mẩu xương lau chùi, thổi rửa, thật sạch mới xếp lên tấm vải, rồi tự tay gói cẩn thận đặt vào chiếc hòm con. Lão không lấy tiền công ai bao giờ, chỉ nhận rượu cúng, còn bánh trái chia cho tụi con nít hết. Mỗi lần như thế, lũ trẻ mừng lắm, dù người lớn vẫn hay đe: nếu ăn đồ cúng mả thì sẽ bị ma bắt.

Sau mỗi lần bốc mả lão lại dầm mình trong rượu và lại kéo lên những âm thanh não nùng giữa đêm trăng cuối tháng vàng bệch như màu da người bị bệnh gan gần chết...

* *

*

Vào một đêm cuối tháng, trăng nhợt nhạt như lòng đỏ trứng gà ung, trước ngõ nhà hội đồng Hào vang lên tiếng khóc khe khẽ của trẻ con. Hội đồng sai mụ Nhót ra xem. Thấy mụ đàn bà cà thọt ẵm một đứa bé vào, lão quát cho một hồi, nhưng sau nghĩ lại cứ để mụ ấy nuôi đứa bé, biết đâu sau này lại được việc.

Thế là thằng bé lớn lên trong sự chăm bẵm của mụ Nhót. Cũng như mọi đứa trẻ bị bỏ rơi khác, nó dễ nuôi đến lạ lùng, cho gì ăn nấy, chẳng bệnh hoạn gì, té không khóc, chân giẫm phải mảnh chai gai sắt, lấy bùn trét vào là khỏi.

Năm đứa trẻ lên mười, người đàn bà tội nghiệp ấy ra đi sau một lần bị rắn độc cắn. Kể từ đó, nó chính thức trở thành một đứa ở trong nhà hội đồng. Và đúng như lão hội đồng dự đoán mười năm trước, nó rất được việc. Nó chăm như con kiến, hiền như cục đất, bảo thì làm, hỏi mới nói.

Hai mươi năm sau, đứa trẻ bị bỏ rơi trước nhà hội đồng Hào bây giờ đã là một chàng trai cường tráng, gánh vác hết mọi công việc nặng nhọc trong nhà.

Hội đồng Hào có ba cô con gái, hai cô chị đã yên bề gia thất, riêng cô út thì tính lẳng lơ, đến hăm lăm mà vẫn chưa chồng. Một đêm trăng treo xếch ngược qua cửa sổ phòng khách, lão hội đồng cho gọi thằng ở lên. Từng lời đường mật lần đầu tiên trong đời chảy vào tai con người côi cút ấy. Tao gả cô út cho mầy, coi như mầy đã trả ơn cho tao, tao còn cho mầy mảnh đất sau đồi, mai mốt sẽ cho tụi thợ xây nhà ở đó.

Anh tá điền đứng đực người ra. Bây giờ anh mới hiểu tại sao mấy hôm nay cô út thường ra cây khế phía sau vườn hái quả nhai ngấu nghiến, còn ông hội đồng thì lúc nào cũng vò đầu bứt tai tức tối. Anh chợt hiểu ra hoàn cảnh của mình lúc này. Anh không có quyền lựa chọn.

Rồi căn nhà sau đồi cũng được dựng lên. Và một bé gái ra đời. Anh rất thương con, chăm chút từng li từng tí. Đêm nào đi soi, anh cũng bắt vài con ếch nấu cháo cho nó.

Thỉnh thoảng trong cuộc nhậu có kẻ khịa khích, anh chỉ cười trừ ''Trâu ai nghé mình''. Những người hàng xóm luôn ái ngại cho anh. Họ thương anh vì cô út từ ngày lấy chồng vẫn không thay đổi tính nết. Mỗi lần nghe hàng xóm kể chuyện, anh chỉ cười buồn rồi bỏ đi.

Năm con bé tròn năm tuổi, cái nghề anh không hề mong đợi nhưng tất phải đến cũng đã đến. Đêm ấy là một đêm cuối tháng, trăng vàng chạch lả bả trên sông, đi mỏi cẳng mà chẳng kiếm được con cua con cá nào, anh quay về giữa chừng. Vừa đẩy cửa vào nhà đập ngay vào mắt anh là một cảnh tượng tồi tệ. Anh với cái rựa dựng ở góc nhà. Một tiếng tru ai oán vang lên giữa đêm khuya...

Mọi người sẽ tưởng anh chết già trong tù, nhưng không, anh đã trở về sau hai mươi năm chăm chỉ lao động cải tạo, nhờ có thành tích vạch trần một âm mưu vượt ngục, anh được đặc xá. Trở về với cây đờn cò và ngón đờn do một người bạn tù xấu số truyền lại trước khi ra đi, anh không còn chốn dung thân. Hàng xóm kể, đứa con gái mà anh yêu thương, cất công chăm bẵm đã bán đất, bán nhà theo một tay anh chị ra nước ngoài mấy năm rồi.

Rồi vào một đêm cuối tháng, có một người lặng lẽ bơi qua sông dựng một túp lều nhỏ cuối xóm. Và cũng từ đó, người ta bắt đầu nghe những tiếng đờn thê thiết trong những đêm trăng.

Những người già trong làng thỉnh thoảng kể cho lũ cháu nghe về cái ngày mà lão từ bờ bên kia bơi sang bờ bên này. Ngày đó đã xa lắm rồi, ít người nhớ đến. Họ cũng không quan tâm lắm đến một con người mà nếu không có người ấy vẫn không ảnh hưởng đến cuộc sống của ai. Lão nuôi bầy vịt còm, câu cá, bắt cua sống qua ngày, đi bốc mả kiếm rượu uống đêm đêm, không nhờ vả ai, không nợ nần ai. Dần dần người ta cũng quen với những tiếng đờn cò ảo não trong những đêm trăng cuối tháng... ***

Có người từ ''bên kia'' về thăm nhà. Người nhà xôn xao chuyện con gái lão gởi cho lão mấy ''vé". Hôm người ấy đem tiền đến cho lão, lão cười nói luôn. Chưa bao giờ dân làng thấy lão nói nhiều như vậy. Lão mua bánh kẹo cho tụi trẻ con và mua rất nhiều rượu. Đêm hôm ấy lão lại ngồi uống rượu một mình với trăng. Đến nửa đêm lão lại lấy cây đờn ra và kéo. Những giọt đờn run bần bật giữa hơi sương giá lạnh...

Hôm sau và sau nhiều hôm nữa, bên sông không còn bóng dáng túp lều đâu nữa. Có người quả quyết lão đã ôm tiền đi xứ khác mà hưởng vinh hoa phú quý. Có người thì khẳng định lão lấy tiền đốt lều của mình rồi nhảy xuống sông mà chết, sau trôi ra biển nên không thấy xác... có người nói như đinh đóng cột rằng mình vẫn nghe tiếng đờn thảm thiết trong những đêm trăng tàn... *.

Sanya
17-02-2006, 12:05 AM
Lòng dạ đàn ông



Cô ấy cao ráo, khá đẹp, đầy đặn cả ba vòng, da trắng, gò má mịn màng với những đám lông tơ mịn, tôi nghĩ mùi sẽ thơm. Cô ấy có đôi mắt đen lanh lợi, răng đều và trắng.


Cái nốt ruồi, không nhỉnh hơn đầu tăm, nằm chắn ngay trên đường lệ chảy, làm gương mặt cô ấy có vẻ thoáng buồn. Cái nốt ruồi đó, nhìn càng kỹ, càng… thoáng buồn, như có chút gì ngậm ngùi níu kéo.

Cô ấy quê ở miền Tây Bắc, nhà đông anh em, bố mẹ hưu trí.

Tôi và cô ấy học chung lớp ở đại học. Cô ấy học lực không ở mức xuất sắc, nhưng cũng tàm tạm. Tôi là Bí thư chi đoàn, kiêm lớp trưởng, cô ấy là Phó bí thư chi đoàn, kiêm lớp phó.

Cô ấy hát khá hay, nhất là dân ca. Tờ báo tường của lớp, chủ yếu do cô ấy viết, vẽ, sửa bài. Tôi thường cho ý kiến để tờ báo đúng hơn. Các hoạt động nhân ngày lễ kỷ niệm, hội diễn văn nghệ, thi đấu thể thao cô ấy luôn lo lắng thực hiện khá chu đáo, tất nhiên là dưới sự chỉ đạo toàn diện của tôi. Quan hệ của chúng tôi khá gần gũi.

Hồi học năm thứ 3, cô ấy bỏ rơi anh chàng người yêu ở quê để cặp kè, ăn nằm như vợ chồng với một người bạn khá thân của tôi. Cậu ấy con nhà giàu. Gia đình có đến mấy cửa hàng lớn trên phố Hàng Đào. Tôi tức giận nghĩ, như thế rất tệ đối với cả tư cách sinh viên lẫn tư cách một con người.

Ra trường, tôi chạy vào được Bộ X – Cơ quan của bố tôi. Cái hăm hở của một gã trai muốn thử sức mình trong thực tế làm tôi quên tiệt mọi thứ, chỉ còn biết đến công việc.

Tôi cứ ngỡ, cô ấy đã về Tây Bắc hoặc vào miền Nam công tác.

Tôi nhớ, có lần cô ấy nói:

- Tớ muốn làm việc ổn định ở Hà Nội, nhưng chẳng có ai giúp đỡ. Vào được cơ quan hành chính, ngày xưa đã khó, bây giờ càng khó hơn. Có lẽ phải tính kế khác.

Hà Nội nghiêm túc và cổ kính. Sài Gòn là thành phố mở, có thể dung nạp mọi hạng người, sử dụng được hết mọi trình độ. Sài Gòn là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. ấy nhưng một thời gian sau, tôi phát hiện cô ấy vào làm ở một cơ quan thống kê. ở đó, công việc nhàm tẻ, chỉ toàn con số, lương thấp.

Lão giám đốc cơ quan cô ấy gần 60 tuổi, nhưng còn khỏe. Vợ lão suy tim độ 3, béo ị, trắng nhợt. Người ta xì xào, cô ấy ngủ với lão, nhưng khi vào được biên chế, hai người chấm dứt quan hệ. Mặc dù cho cô ấy là kẻ phóng đãng, nhưng tôi vẫn khá sốc khi nghe chuyện ấy.

Tuy nhiên, khi rảnh rỗi, tôi thường ghé thăm cô ấy. Có mấy gã tôi chẳng hề tôn trọng, cũng thường đến đó. Họ tập trung đánh chắn, đánh phỏm, tán gẫu, ỡm ờ bóng gió với nhau. Gặp đám ấy, tôi thường khó chịu bỏ về.

Có lần tôi hỏi:

- Quan hệ với bọn nó thế nào đấy?

- Toàn bạn bè quen biết, ấy cũng biết rồi còn gì.

- Mấy thằng chó dái ấy chẳng hy vọng gì đâu.

- Họ chơi cho vui thôi. Chẳng có gì đâu.

- Lấy chồng đi.

- Ừ! Lấy chồng. Phải lấy chồng chứ – Cô ấy nói, rồi nhìn sâu vào bức tường trước mặt. Một lúc sau cô ấy nói:

- Tớ với ấy quen nhau lâu quá rồi nhỉ?

- Ừ!

- Có phải bạn thân không?

- Ừ!

-Chúng mình thân nhau đến nỗi không thể yêu nhau được nhỉ – Cô ấy nói.

- Đừng nói vớ vẩn – Tôi nói.

Thỉnh thoảng, khi tôi về, cô ấy tiễn một quãng đường dài, hết cả con hẻm sâu, rồi lại đi một quãng dọc con đường men theo sông Tô Lịch. Con sông nước đen ngòm, lềnh bềnh đủ thứ, mùa đông thối, mùa hè càng thối hơn.

Tôi dắt xe máy, cô ấy đi bên cạnh. Chúng tôi thường im lặng hoặc nói những chuyện chẳng đâu vào đâu, đôi lúc còn tranh luận vớ vẩn, thậm chí cãi nhau.

Đôi lúc, quãng đường đi xa quá, tôi phải đèo cô ấy quay lại. Đôi lúc cô ấy uồm lên phía trước hỏi một câu vu vơ nào đó về điện thoại di động hoặc ai đó hiện ra sao.

Tôi như ngửi được mùi thơm từ người cô ấy. Tôi cảm thấy vú cô ấy cọ vào lưng tôi mềm mềm. Đôi lúc khi chia tay, cô ấy nhìn tôi khá lạ, nhưng tôi quay đi, rồ ga cho xe chạy.

Nếu chúng tôi đi chơi đâu đó, cô ấy thường bảo tôi ngồi ra ghế, rồi kéo ri-đô thay quần áo. Tôi là trai tân, vẫn còn ngượng, còn cô ấy vừa cúi, ngửng, co chân, giăng tay, vừa nói chuyện rất tự nhiên. Tôi phải khép cửa lại, vì sợ ai đó bất chợt đến chơi.

Thực lòng mà nói, đôi lúc, tôi muốn ngủ lại chỗ cô ấy, nhưng có cái gì ngăn tôi lại. Có lần, tôi vô tình lật chiếu lên, thấy mấy cái bao cao su. Sau lần đó, tôi không bao giờ lục lọi đồ đạc của cô ấy nữa.

Có lần tôi đến, đã thấy tay người yêu cũ của cô ấy ở quê lên. Tay ấy mới hành nghề buôn hàng lậu từ Trung Quốc về nước ta, trông khá giàu. Hình như, hắn thành tâm nài nỉ điều gì, nhưng cô ấy từ chối.

Hai người có vẻ thấm buồn và khá bối rối khi thấy tôi. Tôi làm vài động tác lịch sự, rồi cáo lui. Ngồi trong quán Cà phê - Bóng đá đầu phố, tôi thấy họ đèo nhau qua, gần sáng vẫn chưa về.

Lần gặp sau, tôi hỏi:

- Đêm hôm ấy đi đâu thế?

- Chuyện cũ ấy mà - Cô ấy nói. Rồi như sợ tôi hiểu nhầm điều gì, cô ấy nói tiếp – Chuyện vớ vẩn, chuyện buồn cười ấy mà.

- Thế mấy thằng chọi con hay đến đánh phỏm cũng vớ vẩn thế à?

- Thế ấy bảo tớ phải làm sao? Cứ đóng cửa, không tiếp khách, không chơi bời gì à? Tớ có phải nữ tu đâu.

- Nhưng mà không được thế, không nên thế, như thế là không hay.

- Ấy chẳng có quyền gì mà cấm tớ cả - Cô ấy nói. Có lẽ cô ấy dỗi.

Bố tôi rất nghiêm khắc. Mẹ tôi là giáo viên. Công việc ổn định, lại là con trai một, nên gia đình giục tôi lấy vợ rất găng. Nếu biết lối sống lang chạ của cô ấy, họ sẽ không chấp nhận nổi. Tôi nghĩ, tôi cũng khó lòng chấp nhận nổi. Tôi có những lựa chọn khác hay ho hơn.

Mới đây, cô ấy lấy chồng. Hôm cưới cô ấy, tôi bận đi ăn chẵn tháng ở nhà một người bà con xa trên phố Hàng Bột.

Chồng cô ấy là viên chức Bộ Y. Ông ấy có nhà riêng bề thế, đi làm bằng ô tô, biển số 29A. Vợ ông ấy chết đã lâu. Ông ấy có hai con. Đứa đầu học năm cuối đại học, đứa sau là học sinh lớp 12 trường chuyên Amxtécđam. Ông ấy gần 50 tuổi.


Truyện ngắn của Đậu Hải Nam/Tiền Phong

Sanya
17-02-2006, 12:14 AM
Thật ra những truyện đã đăng là những truỵên đã có tên tác giả nhưng là do sưu tầm từ trang web khác mà nơi đó không đăng tên tác giả chỉ đăng là trích lục từ những bài báo khác thử hỏi làm sao Sanya có thể đăng tên tác giả được. Việc ví dụ bài Lính Mới này, Sanya thật tình không nhớ tên tác giả là ai và cố lục tìm tung tích nó lại nhưng không thể tìm thấy vì thế đã có post câu : Truyện được sưu tầm trên traiviet.net, xin chân thành xin lỗi tác giả vì sanya đã nhỡ quên mất tiêu tác giả của truyện này. => sẽ hay hơn là để Khuyết danh.

Sanya
17-02-2006, 12:20 AM
Đình thiêng - truyện ngắn của Nguyễn Bản



Khánh Chi, một nhà báo nữ ngỏ ý muốn tôi đưa về thăm đình làng Bính, nghe nói là một kiệt tác về kiến trúc được xây dựng cách đây gần ba trăm năm, và ngày xưa rất thiêng. Kiến trúc, tôi không sành, nghe nói là kiệt tác thì biết vậy, còn ngày xưa rất thiêng, tốt nhất hãy kể cho cô nghe ít chuyện trước khi cùng về.


Đúng là hồi bé, tôi cũng nghe nói đình làng tôi rất thiêng, nhưng hình như chỉ toàn trẻ con nói với nhau thôi, chẳng bao giờ hỏi lại người lớn xem thực hư thế nào.

Những chuyện Tây đầm về thăm đình, chạm vào đồ thờ, đều như bị điện giật, ngã lăn quay, cười nói xì xồ bị méo mồm, dòm ngó vào hậu cung bị lác mắt, mấy con đầm mặc váy ngắn quá vừa bước qua cửa võng đã bị đau bụng quằn quại nôn thốc, nôn tháo, rồi chụp ảnh, ảnh bao giờ cũng đen kịt, hoặc trắng xóa không có hình v.v...

Tất cả đều do kẻ gác đình là con chó đá đã thành tinh. Vì thành tinh nên nó có thể biến thành người. Đêm không trăng sao, nó hiện thành cụ già râu tóc bạc phơ lúc ẩn, lúc hiện. Đêm mưa nó biến thành một bà già đội nón rách, mặc áo tơi như một bà già hành khất. Đêm trăng suông, nó biến thành một cô gái trần truồng tóc xõa, da trơn như da lươn, tắm xùm xùm, ngụp lặn ở cầu ao Đình. Có đêm nó lại hiện thành một con chó bông màu trắng, đôi khi kèm theo cả một đàn bốn năm con chó con, cùng nhau đùa giỡn dưới ánh trăng. Người ta còn đồn nếu đào nó lên, phía dưới thế nào cũng có máu tươi, máu những nạn nhân của nó.

Tôi là đứa trẻ táo tợn, hơn nữa ông cha vốn ghét những thói mê tín dị đoan nhảm nhí, vậy mà cũng rợn, tuy luôn muốn thoát khỏi nỗi rợn đó. Rất nhiều lần, tôi tự thách đố mình nhất định đêm nay, mười hai giờ khuya, sẽ qua đầu đình bên kia, nơi trồng chó đá, xem có thấy gì không, nhưng vẫn không đủ sức vượt qua nỗi rợn, lần nào đi gần đến nơi cũng lạnh hết sống lưng, vội rảo bước quay lại, bỏ cuộc.

Nghĩ lại những chuyện về chó đá, tôi chỉ thương cho anh Nguyên. Anh người huyện khác, là người ở giúp việc cha tôi. Mẹ tôi bị bệnh đã mất, cha tôi bận việc buôn bán vắng nhà luôn, nhà đôi khi chỉ còn trơ lại tôi với anh, anh lại là người hiền lành, thật thà, nên tình cảm giữa chúng tôi gắn bó như anh em ruột thịt. Lúc đó tôi khoảng mười hai tuổi, đang học lớp nhì tiểu học. Gọi là giúp việc, nhưng thật ra chẳng có việc gì ngoài việc trông nom tôi, cơm nước, giặt giũ, quét dọn nhà cửa. Nhà, sân rộng mệnh mông, nên càng vắng vẻ, đôi lúc buồn tình, anh lại nghêu ngao cất lên mấy câu vọng cổ: "Than ôi, thành trì sụp đổ, từ nay thôi hết mộng vương hầu..." hoặc "Quý nương ơi, quý nương ơi, sao quý nương vẫn lạnh lùng, hờ hững vò xé tâm can kẻ si tình...". Anh kể cho tôi nghe, mười lăm tuổi đã lang thang phiêu bạt vào Nam, từ Tua-ran (Đà Nẵng), qua Phan Thiết, đến Sài Gòn rồi tới tận Cần Thơ, khi làm thợ, thợ nhuộm, thợ mũ, thợ guốc, khi đi ở, khi đi theo gánh thuốc, mãi võ, cáo chết ba năm quay đầu về núi, thà trở về đi ở, làm thuê trên đất Bắc quê hương. Vì đã phiêu bạt ở những nơi đô hội, nên anh ra dáng dân thành thị hơn là vẻ chân chất quê mùa, mặc dầu ra khỏi cổng, anh phải đeo ngay đôi kính râm để che đi đôi mắt nhập nhèm lông quặm.

Một hôm anh kéo tôi đến ngồi vào bàn giấy của cha tôi, lấy ra một tờ giấy trắng có lẽ mua ở chợ và bảo tôi:

- Viết hộ anh bức thư.

Tôi ngoan ngoãn ngồi viết ngay theo lời anh đọc, không hề hỏi thư gửi cho ai:

Thưa quý nương.

Kể từ hôm xem tuồng ở hội đình, được gặp gỡ, chuyện trò cùng quý nương đến nay đã hơn nửa tháng trời, tôi ngày đêm mong nhớ, ăn không biết ngon, ngủ chỉ mơ màng, không lúc nào nguôi, chỉ mong chóng được gặp lại quý nương để giãi bày tâm sự...

Giấy vắn tình dài, mong quý nương lượng thứ.

Ba ngày hội đình, mặc dầu tế lễ linh đình, khói hương nghi ngút gấp bội ngày thường, nhưng không khí tháo khoán phá lệ bao trùm lên tất cả. Tất cả trẻ con, người lớn, trai gái, thanh niên đều như bị cuốn vào các trò vui: đập nồi, cờ tướng, chọi gà, đấu vật, xúc xắc thò lò, cua cá..., trút bỏ tất cả, quên đi tất cả, nhất là đám thanh niên trai gái. Trai gái các làng bên cũng đổ tới xem rất đông, chủ yếu là để xem tuồng, nhất là tuồng đêm. Sân khấu tuồng được dựng trên sân đình, ngay trước cửa võng. Cửa võng là chỗ ngồi xem của các chức sắc, quan viên. Hai bên cửa võng, trên các bậc thềm, bậc cửa sân đình, hai bên cánh gà để trống, trai gái đứng xem lẫn lộn, chen lấn, cố ý đụng chạm nhau, lả lơi, cợt ghẹo, tán tỉnh nhau nhiều hơn là để xem tuồng. Chỗ nào, xó nào cũng thấm đậm màu trần tục. Tôi còn nhỏ, không phải là không biết gì, đôi khi vô tình, cũng có khi tò mò nghe được khối chuyện nhảm nhí của lứa tuổi đàn anh. Họ tụ hội, kể lại, khoe nhau đã tán cô này, gạ cô khác, rủ đi đâu, ra điếm, ra đồng. Đến nay tôi vẫn còn nhớ có anh khoe đã ghì một cô tựa lưng vào con chó đá để hôn cô.

Cho nên việc anh Nguyên qua hội đình đã ve vãn được ai đó đối với tôi chẳng có gì lạ. Tôi không nhớ đã viết hộ anh bao nhiêu bức thư, sáu bảy gì đó, thư nào cũng vẫn "quý nương", sặc mùi vọng cổ, tuy thư sau có vẻ đằm thắm hơn và đã có những lời lẽ hẹn hò. Anh cẩn thận dặn tôi đừng để lộ với cha tôi, dĩ nhiên anh không cần phải dặn, không đời nào tôi lại để cha tôi biết.

Rồi một hôm, gần trưa thì phải, mọi người đổ xô ra ao đình xem có người chết đuối. Xác chết là một cô gái mười chín, đôi mươi, chỉ mặc mỗi chiếc quần cộc là quần dài cắt ngắn. Chị là chị Tơ, quê tận Gia Lâm là người ở cho nhà ông Cửu Trịnh.

Có những lời xì xào đồn đại liên quan đến anh Nguyên. Mấy hôm sau, cha tôi gọi anh lên nhà khách, mắng:

- Mày có biết, người ta đang đồn gì về mày không?

- Người ta đồn oan cho cháu.

- Oan ư? Sao người ta lại tìm thấy thư mày gửi cho nó?

- Thư nào ạ? Cháu có biết chữ đâu mà thư từ.

- Thôi đừng cãi, không mày thì người khác, ai lại gọi là "quý nương"?... Có điều mày ở với tao ngoan ngoãn thật thà, quý em, tao cũng tiếc, nhưng mày làm tao mang tiếng.

Cha tôi thanh toán tiền công và đuổi anh.

Người ta đồn anh làm chị có thai, nên chị nhảy xuống ao tự tử. Nhưng tại sao lại chỉ mặc mỗi chiếc quần cộc, áo chị ta đâu? Không phải thế, anh ả đang hú hí với nhau trong bụi duối ở sau đình, con chó bông bỗng ở đâu xồ đến đớp luôn chiếc áo của cô ả tha đi. Mất áo, không dám ở trần về nhà, cô ả ôm ngực chạy ra đâm đầu xuống ao tự tử. Không phải, chị ta vừa cởi áo liền bị chó bông đớp vào cổ, khi vớt xác, cổ vẫn còn hai vết răng nanh của chó. Cũng không phải, cứ mươi năm chó đá lại đòi xác người, mà phải là con gái chưa chồng, cách đây chục năm chả có một cô treo cổ ở cây đa là gì, không hiểu tại sao mấy tháng sau cây đa bị sét đánh chết. Sao sét không đánh chó đá, lại đánh vào cây đa? Biết đâu lần này không đến lượt chó đá...

Đều là những chuyện trẻ con nghe lỏm rồi kể lại cho nhau nghe, kể cả khi anh Nguyên đã khăn gói sụt sùi ra đi. Tôi thương anh, nhớ anh. Cha tôi chưa tìm được người khác, mà người khác sao có thể được như anh, nên tôi càng buồn và càng nhớ. Buồn nhớ bao nhiêu tôi càng giận lây con chó đá bấy nhiêu, mặc dầu tôi vẫn bán tín, bán nghi về những lời đồn đại, và không phải không ngại nó. Nhưng tao chỉ sợ mày vào ban đêm, ban ngày tao không sợ, tao sẽ lừa lúc vắng người, hỏi tội mày, xem có đúng mày hại anh Nguyên, chị Tơ không. Tôi đã hỏi, đã tát, đã nhổ vào mặt nó. Tôi chờ đợi nó vật tôi. Nhưng tôi không sao, không sốt, không đau mắt, không đau bụng, không thổ máu.

Rồi mọi chuyện cũng qua đi, cha tôi mượn được người làm khác, anh Lân, rồi anh May, tôi lên lớp nhì năm thứ hai (thời Pháp thuộc có hai lớp nhì), rồi lớp nhất, rồi thi đậu vào trung học ở Hà Nội, rồi kháng chiến toàn quốc, ra đi kháng chiến, chả mấy khi nghĩ tới chuyện cũ nữa.

Sanya
17-02-2006, 12:21 AM
Mấy chục năm sau, một bữa trong lúc chuyện phiếm với nhau về văn hóa đình chùa vùng quê tôi không xa Hà Nội mấy, một người lên tiếng hỏi thành hoàng một số làng ở vùng này rất lạ, nơi là một ông phó cối, nơi lại là một anh đánh giậm, một gã chết trôi, tôi cũng họa theo, nêu một ví dụ thành hoàng làng Hạ cạnh làng tôi là một người mù. Nào tôi có biết đâu, tay giáo viên dạy Sử ngồi đấy chính người làng Hạ, hắn bật lên đốp lại tôi ngay: "Còn làng ông, làng Bính ấy, ông có biết hội đình, đồ cúng là một đôi lợn cạo, một đực một cái đặt nằm úp vào nhau như đang làm tình không?". Tôi lặng người vì quả thật đây là lần đầu tiên nghe thấy chuyện ấy, giá như hắn ít tuổi hơn tôi lại là chuyện khác, tôi có thể cho là hắn nghe hơi nói mò, nhưng hắn lại hơn tôi tới dăm tuổi, và sống quanh quẩn trong vùng nhiều hơn tôi, hơn nữa mặt hắn, giọng hắn đầy vẻ thách đố rằng tôi khó lòng bác bỏ. Cuối cùng tôi đành bấm bụng trả lời: "Được, để tôi về hỏi các cụ, mà nếu có đúng như thế chẳng qua cũng giống như việc các dân tộc Chăm, Lào, Thái... thờ các Linga, một quan niệm sơ khai tôn thờ sự phồn thực của cư dân tồn tại đã lâu đời, có thể tới hàng nghìn năm”. Tuy trả lời như vậy, và từ lâu đã không còn tin vào những chuyện nhảm nhí về chó đá, Tây đầm đau bụng, ngã lăn quay... nhưng vẫn cảm thấy như bị sốc, bị chạm đến niềm tự hào về truyền thống tự do, giao lưu mở cửa, văn hóa văn minh của làng tôi.

Lẽ tất nhiên, ngay hôm sau tôi đạp xe về quê hỏi cha tôi. Khi đó tôi đã lớn tuổi, con lớn đã học cấp ba, chẳng còn bé bỏng gì nữa mà phải e ngại:

- Có chuyện đó không thày?

- Có!

Không quay lại nhìn tôi, cha tôi hơi nhíu mày lại đáp gọn lỏn, coi như việc ấy đã xong. Thấy cha tôi không có ý muốn nhắc tới chuyện ấy nữa, nên tôi cũng chẳng tiện hỏi thêm xem tập tục ấy có từ khi nào, tồn tại đến bao giờ, khi tôi ra đời, khi tôi học xong tiểu học, tập tục ấy có còn không, hay vẫn có, mà trẻ con không biết. Liệu đấy có phải là hủ tục?

Cho tới khi cha tôi mất, tôi vẫn chưa hỏi rõ ra được điều ấy.

Chỉ mới tối hôm qua thôi, khi Khánh Chi ngỏ ý muốn tôi đưa nàng về thăm đình, vấn đề đó mới lại được đặt ra. Tôi quyết định gọi điện thoại hỏi người bạn cùng làng trạc tuổi tôi, cán bộ sở giáo dục về hưu tại Hà Nội. Anh vốn là dòng dõi của người đã bỏ tiền của, công sức ra xây dựng ngôi đình, may ra anh biết nhiều hơn.

- A lô, Chiển à, mình đây, này tôi muốn hỏi ông một chuyện.

- Chuyện gì?

Tôi vào đề luôn:

- Làng mình có thành hoàng không, ông ấy làm nghề gì?

Anh lúng túng ờ, ờ một lúc rồi trả lời:

- Có... có đấy, có điều chỉ là một ông thần trừu tượng, biểu tượng của sự sinh sôi, mấy làng bên ngày xưa họ giễu làng mình thờ dâm thần.

Tự nhiên anh gần như nổi cáu, nói tiếp:

- Mà dâm thì đã sao, ai chẳng phải dâm, không dâm lấy đâu ra con cháu, chả hơn thờ linh tinh, một gã lang thang, một anh chột mắt ư?

Tôi kể việc cúng đôi lợn cạo và lời khẳng định của cha tôi. Anh đã dịu lại:

- Cũng có đấy, nhưng là xếp song song, chứ không phải là úp vào nhau, úp vào nhau là thiên hạ họ bôi bác.

- Thế tại sao lại không đôi lợn luộc.

- À... thì giống như hội họa hay văn chương tả thực, ông là nhà văn, ông thừa hiểu.

- Thế còn chuyện chó đá đầu đình.

- Là để nó gác đình, giống như các cụ làm nhà chôn chó đá trước cổng để canh cổng... còn những chuyện nó thành tinh, hiện hình đều là chuyện của trẻ con, đâu phải của người lớn.

***

Nghe xong chuyện, Khánh Chi thở dài bảo tôi:

- Chuyện của anh Nguyên, chị Tơ thảm quá, chú có bao giờ gặp lại anh ấy không?

Tôi gật đầu. Gặp nhau trong chiến dịch biên giới. Tôi đang công tác ở Liên hiệp thanh niên sinh viên, anh đi dân công chiến dịch. Gặp nhau hết sức tình cờ trong một quán bán bún riêu. Tôi ngờ ngợ nhận ra anh chính ở đôi kính râm anh vẫn không chịu "từ bỏ":

- Anh Nguyên phải không, em là Cương đây.

- Trời ơi cậu Cương, ra dáng thế này ư?

Chúng tôi cùng đứng lên ôm chầm lấy nhau. Anh nói đã có vợ và hai con, tản cư ở phố Lò, làm nghề bán dép lốp. Tôi hỏi lại chuyện cũ.

- Không phải như lời họ đồn đại đâu. Anh bác ngay. Rồi kể trước đó dăm hôm chị Tơ còn nổi cáu với anh. Chị bảo nhà gọi về định gả cho một thằng nửa ngô nửa ngọng, điên điên dở dở, mỗi khi nói lại trợn mắt ngửa cổ, mồm hấc hấc một thôi một hồi mới rặn ra nổi mấy tiếng... nhưng nhà nó giàu. "Có lấy không?". "Sao lại không, hỏi thế mà hỏi được à, lấy nó, thà đâm đầu xuống ao chết quách còn hơn!". Rồi chị ví: “Một đêm quân tử nằm kề, còn hơn thằng ngố vỗ về quanh năm". "Thế anh có đáng mặt quân tử không?". "Còn xem có nuôi nổi không đã". "Vào Nam sống với nhau". "Vào để cùng đi ở với nhau à?". Anh bảo không lo đâu, anh đã từng làm nhiều nghề, mà trong ấy dễ kiếm việc lắm. Chị bảo để chị nghĩ xem đã.

- Người ta đồn anh chị đã...

- Đồn bậy, đồn bạ, tối đó có hẹn hò gặp gỡ gì nhau đâu.

- Thế thì vì sao... - Tôi định nói chị ấy lại tự tử nhưng không nỡ.

- Vì sao lại chết đuối ư? Cậu không nhớ tối ấy trời rất oi bức ư? Chắc đợi khuya vắng người ra ao tắm... chứ bằng lòng vào Nam với tôi rồi kia mà.

- Chị ấy có biết bơi không?

- Biết bơi... mà bị Nam rút (*) thì cũng chết.

- Thế quần áo đâu, tại sao lại mặc mỗi chiếc quần cộc?

- Chắc quần áo thay để trên bờ, đêm đó trời nổi giông cuốn bay xuống nước, chứ ai người ta thèm lấy! Mấy lần tôi đã định lội xuống mò, nhưng sợ người ta nghi, sinh rắc rối lại thôi... Đêm khuya lại mò ra ao tắm, cứ như bị ma rủi ấy.

Hay là chị ấy bị ma rủi thật, tôi bỗng nghĩ đến con chó đá thành tinh. Thì ra tôi vẫn chưa hết sợ nó. Năm ấy tôi đã mười chín tuổi, đã học xong trung học.

***

Từ Hà Nội về làng Bính chưa đầy hai chục cây số, chín giờ sáng hôm sau, xe máy chúng tôi đã về tới sân đình. Đình vắng vẻ và yên tĩnh. Một cảm giác trái ngược xảy ra ở trong tôi, đình rộng lớn và mênh mông quá, càng xem lại, càng thấy tài hoa, càng trỗi dậy những kỷ niệm hội hè thế tục, trái lại con chó đá ngày xưa hình như nó cao ngang ngực tôi, gây cho bọn trẻ chúng tôi bao nỗi sợ hãi vu vơ, không ngờ bây giờ nó thấp bé đến thế, chưa tới thắt lưng tôi, già nua, cũ kỹ.

Tôi vỗ vào đầu nó hỏi đùa:

- Thế nào bác cún, đã phải đeo răng giả chưa?

Khánh Chi hỏi tôi:

- Liệu trẻ con bây giờ có sợ nó như ngày xưa không?

- Chắc là không, đến thời chó đá hoàn chó đá rồi.

Nói xong tôi bỗng nhớ tới câu thơ trong bài "Cái chết của con sói" của nhà thơ Pháp Alfred Vigny "Người ta vĩ đại bởi vì mi quỳ gối" (On est grand parce que tu te mets genoux).

N.B

(*) Ngày xưa nhiều người tin chết đuối là do bị con Nam (ma dưới nước) rút chân