View Full Version : Tản mạn cuộc sống!
Camap_casau
16-04-2006, 05:03 PM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/RMIT-Truong_dai_hoc_quoc_te_dau_tie.jpgĐại học để... làm gì?
Đại học để làm gì? Câu hỏi nghe có thể thật vớ vẩn. Còn để làm gì nữa, ai mà chẳng biết: để đào tạo ra những người có đủ kiến thức, năng lực đáp ứng những yêu cầu ở một cấp nào đó, mà ta thường gọi là cấp cao, của xã hội (đại học hiểu theo nghĩa bao gồm cả cái mà ở ta thường gọi là “trên đại học”). Đúng rồi. Nhưng có phải chỉ có chừng ấy?
Tôi thường vẩn vơ suy nghĩ về nền giáo dục thời xưa, cái thời mà ta gọi là thời phong kiến cũ kỹ và nhất quyết đinh ninh là nó thật nhiều xấu xa, đặc biệt hết sức giáo điều, đi học cả đời chỉ biết tụng đi tụng lại có bấy nhiêu sách vở tứ thư ngũ kinh cũ mèm. Mà đúng vậy thật, nào có sai... Song, nghĩ đi rồi lại nghĩ lại. Thử xem chẳng hạn một thời kỳ vào loại tàn tạ nhất của phong kiến VN, thời Nguyễn.
Nền giáo dục đại học nào đã tạo nên từ những Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Duy Hiệu, Trương Định, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch..., cho đến Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thái Thân, Ngô Đức Kế, Lương Văn Can, Nguyễn Thượng Hiền..., đó là chỉ thử kể qua một cách không có hệ thống gì và không theo bất cứ trật tự sắp xếp nào.
Nền giáo dục đại học nào đã tạo nên những con người đó, những nhân cách lừng lững đó? Và không chỉ từng cá thể riêng lẻ, mà là cả một tầng lớp xã hội, mà ta vẫn gọi là tầng lớp sĩ phu của dân tộc. Một tầng lớp sĩ phu chẳng hề xoàng xĩnh tí nào, đã làm nên cả một thời kỳ lịch sử oanh liệt tuy thật bi tráng, mà công cuộc cách mạng vô sản sau đó là một tiếp diễn biện chứng?
Chính là nền đại học mà ta vừa nói trên đó. Vậy nó không hoàn toàn là một nền đại học chẳng ra gì, quá ư tệ hại, và có lẽ rồi ta cũng nên có lúc cần bỏ công tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, đánh giá lại nó cho thật rõ ràng và công bằng. Bây giờ chưa phải là lúc và cũng chưa có đầy đủ điều kiện để thật bình tĩnh làm công việc đó.
Song, qua cái ví dụ thử kể ra một cách cũng gần như là ngẫu nhiên đó thôi, có thể trả lời mức nào câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn nêu lên từ đầu bài này: Đại học để làm gì? Vì sao một đất nước nhất thiết phải có một nền đại học thật sự là đại học?
Một đất nước nhất thiết phải có nền đại học thật sự là đại học không phải chỉ là để có những con người có kiến thức và kỹ năng mà ta gọi là kiến thức, kỹ năng đại học, thậm chí bác học đi nữa, mà là để xây dựng nên tầng lớp trí thức của xã hội và dân tộc, cái tầng lớp mà không có nó thì một dân tộc thật ra không hoàn toàn xứng đáng là một dân tộc trưởng thành.
Một đất nước bao giờ cũng vậy, là do những nhà chính trị cai trị, không thể nào và cũng không ở đâu khác được. Nhưng dắt dẫn đời sống tinh thần sâu xa, bền vững của đất nước là nhiệm vụ thiêng liêng của trí thức dân tộc, không phải những người trí thức cá lẻ, mà là tầng lớp trí thức dân tộc, của đất nước ấy. Có đại học là chính để làm ra điều kiện sống còn, bền vững đó.
Và chính từ đó mà nảy sinh câu hỏi tiếp theo: Vậy thì thế nào là đại học thật sự đại học?
Thế nào là đại học?
Câu hỏi lại cũng có thể có vẻ thật ngớ ngẩn. Nước ta bây giờ đại học đầy ra đấy, ai mà chẳng trả lời được. Nhưng lại thử trở lại cái ví dụ với những tên tuổi vừa nêu ra trên kia. Có một điều chung rất đáng chú ý ở tất cả những con người ấy, vốn là sản phẩm của nền đại học ấy: tất cả họ đều được coi là những nhà nho uyên thâm, thậm chí uyên thâm nhất trong thời của họ. Họ thuộc làu kinh sử.
Nhưng hầu như tất cả học xong họ đều vứt bỏ hết những điều đã được dạy cho tụng niệm ở trường, ở lớp, làm ngược lại tất cả những “giáo điều” được áp đặt đó (hay có lẽ đúng hơn, làm đúng theo cái cốt lõi tinh túy, uyên thâm nhất tiềm ẩn trong chiều sâu của những tri thức tích lũy hàng nhiều nghìn năm ấy của một phần nhân loại).
Nghĩa là họ học để tự tạo nên được cho mình một tư duy độc lập, một nhân cách độc lập, học để dám và biết độc lập suy nghĩ bất chấp tất cả áp lực mọi kiểu, kể cả áp lực ghê gớm của những giáo điều được dạy ra rả trong sách và từ thầy, học để làm một con người biết và dám tự mình độc lập và tự do đi tìm ra chân lý cho chính mình và cho đất nước, dân tộc, trong một tình thế ngày ấy tăm tối, khó khăn biết chừng nào.
Tôi nghĩ đó chính là tiêu chí hàng đầu để đánh giá xem một đất nước đã có một nền đại học thật sự là đại học hay chưa, và nếu chưa thật sự có thì phải ra sức xây dựng cho kỳ được, vì đấy là vì sự phát triển và sống còn của dân tộc.
Đi học tất nhiên là để có kiến thức, không ai chối cãi điều đó. Nhưng kiến thức thì vô tận. Một anh bạn tôi hiện đang dạy đại học ở Bỉ có lần nêu lên một con số sau đây: từ năm 0 (sau Công nguyên) đến năm 1500, trong 1.500 năm, kiến thức của nhân loại đã tăng lên gấp đôi.
Ngày nay tốc độ đó là 18 tháng, cứ 18 tháng tổng số kiến thức nhân loại lại được nhân đôi. Vậy nên không có cách gì học thuộc cho hết kiến thức ấy. Vấn đề là cần có một số kiến thức cơ bản tối thiểu làm nền tảng, và trên cơ sở đó học được cách suy nghĩ độc lập, tạo được cho mình khả năng khi cần kiến thức gì thì biết tìm nó ở đâu, cách tìm như thế nào, và quan trọng hơn nữa, sử dụng nó như thế nào.
Nói cách khác, có kiến thức nhưng độc lập với kiến thức, không bị phụ thuộc, không nô lệ vào nó, tự mình tạo ra kiến thức mới cho chính mình, để hành động ở đời và dám chịu trách nhiệm về hành động đó của mình.
Cũng chính anh bạn ấy, tuy sống ở nước ngoài khá lâu năm nhưng chơi chữ Việt rất giỏi: anh bảo người trí thức khác với người có kiến thức ở chỗ cái trí của anh là cái “tri” (biết) luôn luôn “thức”, chứ không phải những cái biết ngủ mê, cái biết “chết”! Người có cái tri luôn thức chính là người trí thức! Xã hội cần có tầng lớp người đó, do một nền đại học chân chính tạo nên.
Vấn đề của chúng ta hiện nay chính là cần xem xét lại tất cả các trường đại học của chúng ta theo tiêu chí quan trọng hàng đầu này, để xem thử chúng có đúng là đại học thật không, hay chỉ là “phổ thông cấp bốn” như có người gọi cũng đã lâu rồi! (Sự thật thì ở các nước tiên tiến ngày nay, ngay ở cấp phổ thông người ta cũng đã không còn lối “thầy đọc trò chép” như vẫn phổ biến ở đại học ta. Ngay từ cấp I, trẻ em đã được khuyến khích độc lập suy nghĩ đến tối đa).
Câu chuyện đại học, như vậy, thật sự là câu chuyện vô cùng nghiêm túc. Bởi nó liên quan trực tiếp đến câu hỏi cơ bản: Chúng ta muốn đào tạo nên con người như thế nào đây cho xã hội đang phát triển của chúng ta?
Những con người được nhét đầy kiến thức thuộc lòng đến mụ mẫm đi (ngay từ phổ thông) vì gánh nặng ngày càng chất còng lưng (và còng óc), con người không dám và biết tự mình suy nghĩ; hay đào tạo nên con người thật sự tự do từ chính bên trong mình, cho một xã hội tự do?
Tôi nghĩ đã đến lúc phải đặt ra một cách thật rạch ròi câu hỏi đó, câu hỏi gốc của tất cả các câu hỏi khác, cho nền giáo dục của chúng ta, trước hết là giáo dục đại học. Không trả lời dứt khoát, sòng phẳng câu hỏi đó thì tất cả những sửa chữa khác chỉ là uổng công, đơn giản vì chúng chỉ nhằm một mục tiêu đã sai ngay từ đầu.
Nguyên Ngọc
(Tuổi Trẻ Chủ Nhật)
Camap_casau
16-04-2006, 05:06 PM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Le_Xuan_Nhat-Nhung_nguoi_tre_tim_ca.jpgNhững người trẻ tìm cách sâu sắc
Triết lý chảy theo giọt cà phê
Cứ sau mỗi trận “alô” của nhóm bạn “cùng tổ dân phố” thời đại học là tôi hít thở sâu khi nghĩ đến buổi cà phê kinh điển lại sắp diễn ra. Căng thẳng là bởi tôi thuộc làu nội dung của các buổi offline “bớt giờ cơ quan, làm giàu chủ quán” ấy: 15 phút đầu là chuyện của công việc và tình duyên, thời gian còn lại dành cho các triết gia đăng đàn.
Hỡi ôi, vì cà phê chảy chậm hay vì bây giờ có quá nhiều người trẻ mắc bệnh triết lý, nên thời gian offline cứ lê thê, mê mải. Không gian chật chội của quán xá quánh đặc những triết lý nhân sinh, thời thế...
Tại quán cà phê có quá nhiều đèn lồng màu đỏ này thì 1 cốc chanh leo đắt hơn chanh muối đến 2000đ. Và mặc dù thích uống chanh leo nhưng vì sự chênh lệch giá cả không thoả đáng nên cậu bạn làm ở một nhà xuất bản ít tiền của tôi quyết định gọi chanh muối. Vậy là anh cựu SV Luật ngồi bên tức tốc thở một bài về “Thuyết hưởng thụ”.
Cái thuyết ấy do chính cậu ta nghĩ ra từ hồi còn nằm vắt vẻo ở giường tầng 2 ký túc xá. Thuyết ấy dài dòng lắm, nhưng túm lại là: cuộc đời ngắn ngủi, một 100 năm cũng chỉ bằng một cái hắt xì hơi của vũ trụ, cuộc đời đầy những biến ngẫu nhiên, hôm nay tồn tại ngày mai hư vô... Và kết luận là: phải sống vì mong muốn của chính mình, ngay cả cái mong muốn bản năng thích uống chanh leo hơn là chanh muối....
Đã không ít lần tôi bật khỏi ghế và sign out khỏi diễn đàn vô tiền khoáng hậu của các vị trai tráng tuổi 20 vừa rời trường ĐH một vài năm đó. Có lần họ bàn về tình yêu nhân dịp một cô bạn trong nhóm vừa “say goodbye” mối tình đầu.
Chỉ vì cô ấy lỡ mồm nói rằng: “chắc chẳng thể yêu một ai được nữa”.... thế là những người bạn trẻ tuổi được dịp bê cả “chủ nghĩa hiện sinh”, rồi nguyên lý của sự tồn tại vào câu chuyện.
Họ nói như thể được thư giãn vòm miệng chứ chẳng cần biết mình có hiểu những ngôn từ đang chảy ra. Có cậu còn cao hứng bê nguyên cả câu tuyên ngôn của một nhà thơ 8X rằng: “Đỉnh cao của sự tồn tại là tồn tại trong tình yêu”. Vậy nên: đừng bao giờ hết yêu....
Mốt của Hán tự và các mệnh đề
Cô em tôi học trường Bách khoa. Những năm đầu ĐH, dù chỉ là một câu trong “văn bản miệng” của nó kiểu gì cũng phải có ít nhất một từ là Anh ngữ được thêm thắt vào. Bây giờ nó sắp ra trường, lại sính dùng từ Hán Việt.
Vốn từ Hán Việt của nó (một cô học trò chuyên Toán lười đọc sách dày quá 200 trang) không nhiều, nên đôi khi lời nói của nó là sự sắp xếp ngôn từ vụng về. Cứ hễ online gặp các cô nàng trong box ỉn con HN của nó là y như rằng nó lại ngoạc mồm ra: “Hai mặt của một vấn đề luôn luôn tồn tại trong cuộc sống....”
Tôi bực mình thấy nó phát ra một tràng âm thanh trống rỗng chẳng ăn nhập gì nhưng bị nó cự nự: “Nói kiểu ấy mới sâu sắc, còn chíp hôi nữa đâu mà “u ra mới cả he he”. Bọn trên mạng bây giờ toàn thế cả.” Tôi thở hắt ra vì cái kiểu “tìm cách để sâu sắc” của nó.
Một cô bé khác lớp Chuyên Văn cùng trường cấp 3 với nó còn có một hình thức biểu đạt khác. Trong kho từ điển của cô bé là SV báo chí này còn có một số từ được ưu tiên đặc biệt và được dùng ở mức độ thường xuyên, trong đó đặc biệt có từ “hiện hữu” “khái niệm” và cả... “buồn nôn”.
Thay bằng việc nói câu: “Em không muốn uống sinh tố”, nó sẽ nói rằng: “Em chẳng có khái niệm nào về sinh tố.” Và nếu phải chê bai điều gì thì từ “buồn nôn” được dùng ngay lập tức “Tập thơ ấy đúng là buồn nôn số 1”. Nó bảo: “Em nói thế cho chuyên nghiệp và dạn dĩ.”
Những “triết gia”...tư duy trên bàn phím
Tôi thì vẫn cứ muốn nghĩ là những cá nhân trẻ tuổi kể trên chỉ là một thiểu số yếu ớt trong vô vàn những người trẻ khoẻ mạnh và giàu có về lối suy nghĩ cũng như ngôn ngữ. Nhưng có vẻ tôi đã nhầm sau khi dành một buổi tối rảnh rỗi để chạm mặt các triết gia trên các forum của người trẻ. Số lượng những người mắc bệnh triết gia nhiều hơn tôi tưởng.
Chẳng hạn, bạn vừa mở miệng than thở về một trục trặc nhỏ của tình yêu, ngay lập tức (bạn đừng ngạc nhiên) có ngay một đáp từ khá lớn lao kiểu thế này: “Trong thế giới có sinh có diệt này thì không thể có điều gì là vĩnh cửu cả. Trái đất này cũng có ngày không còn tồn tại. Mặt trời kia cũng có ngày lụi tàn... Mọi thứ có sinh thì ắt có diệt, mọi thứ sẽ đến rồi đi”.
Hoặc là: “Cuộc sống đầy những bất ngờ mà chúng ta không bao giờ có thể biết hết được. Chỉ có Trời mới biết chuyện gì đang xảy ra. Bạn đang gặp khó khăn để nhận biết được rằng chúng ta sống không chỉ với thể chất và tâm trí này mà còn có cả tâm linh, nơi mà bạn có thể tin vào sự vĩnh cửu”.
Tất nhiên, ở một văn cảnh nào đó, những ngôn từ triết lý là cần thiết. Nhưng trong những câu chuyện giản dị mà vẫn diễn đạt “triết lý” rắc rối đến tối nghĩa thì cũng lạ.
Đôi khi chính những người trẻ trên internet tự lý giải rằng: “Có những lúc cảm giác cô đơn, trống rỗng, bi quan... khiến tôi không có ý định kiểm soát ngón tay mình đang thao tác những gì trên bàn phím. Tôi chẳng biết mình đang nghĩ gì nữa thế nên đừng ngạc nhiên nếu câu nói của tôi... vô nghĩa.”
Còn đây là tâm sự của một “triết gia” yếu đuối: “Ta khóc bất kể lúc nào khi ta chỉ có một mình. Vậy thì ta ơi đừng làm mình thêm cô quạnh nữa. Ta hãy vui lòng đón nhận một sự thật dù làm ta đau còn hơn sống mãi trong niềm vui dối trá”.
Còn đây là một tác giả đang chứng minh chân lý “cuộc đời không đơn giản”: “Mặt trời chẳng bao giờ biết khóc, Mặt trời chỉ biết vui cười mà thôi, nhưng có ai biết rằng nước mắt của Mặt trời chính là những giọt nắng! Người ta cảm thấy Mặt trời cười thì thực ra lúc đó mặt trời đang khóc. Mặt trời đã đem những giọt nước mắt của mình sưởi ấm nhân gian. Cuộc sống đôi khi thật không đơn giản như người ta nghĩ”.
Phải chăng chính những triết gia trẻ này làm cuộc sống phức tạp hơn? Thật ra cũng không nên quá chê bai họ. Sống nghĩa là phải tư duy. Con người luôn trăn trở đi tìm ý nghĩa của sự sống. đôi khi trong bản thân ta cũng đôi lần xuất hiện bóng dáng của triết gia : thích được chiêm nghiệm, suy ngẫm và nói những điều to tát.
Trong các website mục Suy ngẫm thường thu hút nhiều vấn đề nặng ký triết học: Suy ngẫm về hiện hữu (tôn giáo, siêu hình học, vũ trụ và vật chất, con người và tâm lý), suy nghĩ về nhận thức (khoa học, ngôn ngữ, tư duy và logic), suy ngẫm về lý luận và giá trị, về thực tiễn và hành động... Những chuyên mục này thu hút số lượt người đọc và bài viết nhiều không kém các chuyên mục khác.
Chỉ riêng chuyện Tản mạn về thời gian của một trang web dành cho giới trẻ đã có 1852 lượt người đọc. Bài “Siêu hình học, tồn tại hay không tồn tại” có 2350 lượt độc giả quan tâm. Trang chủ của diễn đàn này cũng có biểu ngữ là một câu nói bất hủ của Albert Einstein. Tuổi trẻ phải biết quan tâm đến những điều như thế. Không thể sống hời hợt với hưởng thụ, với ăn, ngủ, chơi... Tuy nhiên chúng ta có thể tập diễn đạt một cách giản dị hơn.
Chân lý là sự giản dị. Nếu chỉ để hỏi là “Hai bác đến làng em có việc gì?” thì đâu cần phải xổ nho chùm thành: “Hà cớ nhị vị tráng sĩ du nhàn qua bản thôn?”, cụ đồ Cóc đã bị cười vì lối diễn đạt như thế. Đầu thế kỷ XXI phải khác chứ, phải không bạn?
Lê Xuân Nhật
(Sinh Viên Việt Nam )
Camap_casau
16-04-2006, 05:09 PM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Mot_so_loi_noi_hay_cua_nha_Phat.jpgMột số lời nói hay của nhà Phật
Lời nói thứ nhất: Của cải lớn nhất của đời người là sức khỏe
Câu nói này mặc dù ai cũng biết, nhưng thực sự lĩnh ngộ được không phải là chuyện dễ. Xin hãy thử xem người xưa, người nay, người trong nước, người nước ngoài, đã mấy người thoát khỏi vòng mê hoặc, dụ dỗ của danh của lợi... Những người ấy thường coi danh lợi, bổng lộc. tình yêu là cái theo đuổi cao nhất của cuộc đời, mà không biết rằng của cải lớn nhất của đời người chính là sức khỏe của mình. Có một câu chuyện cổ kể rằng. có một người ham mê của cải hơn mạng sống, anh ta lạc vào một núi vàng. lúc đầu sung sướng như điên vì lấy được nhiều vàng bạc châu báu, nhưng rồi bi lạc trong núi vàng, bỏ xác tại đó. Có thể nói rằng, sức khỏe là cái quý báu nhất, và cũng là của cải lớn nhất của đời người. Nếu ta không hiểu được điều này thì bất kể danh lợi gì, ham muốn gì đều trở nên vô nghĩa.
Lời nói thứ hai: Cái đáng thương nhất trong cuộc đời là lòng đố kỵ
Đố kỵ là điều thường gặp nhất trong cuộc sống. Lý Tư vì đố kỵ tài năng của đồng học Hòa Phi nên đã gièm pha với vua Tần, khiến Hòa Phi phải chết trong ngục. Bàng Quyên vì đố kỵ học thức của Tôn Tẫn hơn mình, nên đã dùng độc kế hãm hại bạn, khiến Tôn Tẫn trở thành người tàn phế. Nếu xem xét thì những lời nói hay của nhà Phật, chúng ta sẽ thấy Lý Tư và Bàng Quyên đều là những kẻ đáng thương. Bọn họ có thể để ý một dạo, nhưng cuối cùng vẫn không được chết yên bình. Đố kỵ là một bệnh tật, người có bệnh đố kỵ suốt đời không bao giờ được yên ổn. Bọn họ, hôm nay sợ người này vượt qua mình, ngày mai lại lo lắng vì người khác đi trước mình rồi, suốt ngày bọn họ sống trong cảnh tật bệnh đáng thương. Ngược lại, những người công thành danh toại chân chính trong lịch sử đều là những người coi đố kỵ là một điều sỉ nhục. Âu Dương Tu là lãnh tụ trên văn đàn thời Bắc Tống, năm đó sau khi ông biết và lựa chọn Tô Đông Pha, có người nói với ông rằng: "Tô Đông Pha là bậc kỳ tài, nếu ngài chọn Tô Đông Pha thì chỉ sợ 10 năm sau, người trong thiên hạ chỉ biết Tô Đông Pha chứ không biết ngài là ai nữa”. Nhưng Âu Dương Tu chỉ cười và vẫn đề vạt Tô Đông Pha. Người đời sau vì thế càng sùng kính Âu Dương Tu.
Lời nói thứ ba: Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là chính mình
Câu nói này rất quan trọng. Trong cuộc đời chúng ta thường có một số kẻ thù, như bọn lưu manh, vô lại, kẻ tiểu nhân... Bọn cầm thú mặc quần áo người đó vô cùng tàn ác, nhưng nếu nhìn thấu, thì bọn chúng cũng chỉ là lớp cặn bã. Kẻ thù lớn nhất của con người chính là mình. Một người nếu chiến thắng được mình thì cái gì cũng công phá được, sẽ là người bách chiến bách thắng. Cái đáng sợ là tự mình mắc bệnh mà không biết: Có khi do dự không quyết, có lúc lại đánh giá mình quá cao; có khi tự cao tự đại, có lúc lại sùng bái người... chỉ có chiến thắng bản thân mới có thể mở ra được cục diện vững chắc.
Lời nói thứ tư: Hạnh phúc lớn nhất của đời người là biết buông tha
Trong xử thế, dám nắm lấy là dũng khí, dám buông ra là độ lượng. Phần lớn những người có kinh nghiệm xử thế đều xem thường những hoa tươi, tiếng vỗ tay... trên đường đời, nhưng người đã trải qua nhiều lần mưa gió lại càng tự tin hơn, vững vàng bản lĩnh. Nhưng nếu nhìn nhận một cách bình thường đối với những gập ghềnh, bùn lầy... trong cuộc sống, thì không phải là điều dễ làm. Có thể không hoảng hết, có thể thản nhiên chịu đựng những trở ngại lớn, những tai họa lớn, chính là vì có lòng độ lượng. Nhà Phật lấy lòng độ lượng dung nạp mọi việc trong thiên hạ làm nguồn vui, đã đến rồi thì hãy ở yên mà thích ứng với hoàn cảnh là một loại siêu thoát. Những loại siêu thoát đó đòi hỏi rèn luyện nhiều mới thành. Biết nắm lấy thực đáng quý, nhưng biết buông ra mới là đạo lý chân chính xử thế trong đời.
Camap_casau
18-04-2006, 03:22 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Steve_Jobs_Giam_doc_dieu_hanh_cua_t.jpgBa câu chuyện cuộc đời
Giữa tháng 6/2005, một bài phát biểu ở lễ trao bằng tốt nghiệp của trường ĐH danh tiếng Stanford (Mỹ) đã gây chấn động lớn ở các giảng đường ĐH và được đăng tải ở các báo giáo dục và kinh doanh trên thế giới, loan rộng trên internet. Chủ nhân bài phát biểu này là ông Steve Jobs, Giám đốc điều hành của tập đoàn máy tính Apple Computer và xưởng sản xuất phim hoạt hình Pixar Animation Studio.
Không hàm chứa những lời hô khẩu hiệu giáo điều, bài phát biểu của ông Jobs đơn giản là một chuỗi các tự truyện của một doanh nhân thành đạt đã trải qua một cuộc đời nhiều sóng gió và bất ngờ: bỏ học ĐH, mày mò lắp ráp máy tính, bị đuổi khỏi công ty do chính mình sáng lập để rồi cuối cùng lại quay về thống trị…
Đặc biệt hơn cả, thay vì chúc các tân cử nhân Stanford một sự nghiệp thành công, tương lai chói lọi như thường các đại biểu vẫn làm ở lễ tốt nghiệp, Jobs đã nói: “Hãy cứ đói khát và dại dột” (Stay hungry. Stay foolish”). Bởi vì chỉ có mạo hiểm, mơ ước, và sống đúng với đam mê của mình, mới có thể thật sự thành công và mãn nguyện".
VietNamNet giới thiệu bài phát biểu của Steve Jobs (mà ông gọi là ba câu chuyện cuộc đời mình) với hy vọng thêm một góc nghĩ cho các bạn trẻ Việt Nam trước những cuộc thi căng thẳng và những quyết định lớn của cuộc đời.
Câu chuyện đầu tiên - “kết nối các sự kiện”
Tôi bỏ học ở trường ĐH Reed sau sáu tháng nhưng vẫn ở lại loanh quanh đến tận 18 tháng nữa mới thực sự ra đi. Tại sao tôi lại chọn bỏ học?
Mọi thứ bắt đầu từ lúc tôi chào đời. Mẹ đẻ của tôi là một SV trẻ mới tốt nghiệp ĐH, chưa chồng. Vì thế, bà quyết định mang tôi cho làm con nuôi. Bà tin rằng nên để những người có bằng ĐH mang tôi về nuôi và đã sắp xếp sẵn mọi thủ tục cho con với 2 vợ chồng luật sư. Chẳng thể ngờ, đến lúc tôi chào đời, họ lại đổi ý muốn có con gái.
Thế là, bố mẹ tôi bây giờ, lúc đó đang trong danh sách chờ đợi, nhận được một cú điện thoại lúc nửa đêm: “Có một bé trai mới sinh chưa ai nhận. Ông bà có muốn nhận không?” Họ vui mừng đồng ý ngay. Khi mẹ đẻ mới biết bố mẹ tôi chưa bao giờ tốt nghiệp ĐH, thậm chí cha tôi còn chưa tốt nghiệp cấp ba, bà nhất định không ký giấy cho con nuôi và chỉ nhượng bộ khi bố mẹ tôi hứa sau này sẽ cho tôi vào ĐH.
17 năm sau, tôi vào ĐH thật. Nhưng tôi lại ngu ngốc chọn một trường đắt tiền ngang với Stanford, và toàn bộ số tiền ít ỏi của bố mẹ tôi, những người lao động chân tay, đổ vào trả tiền học.
Sau sáu tháng, tôi thấy việc đầu tư như vậy thật vô nghĩa. Tôi không biết mình muốn làm gì và cũng không biết trường ĐH sẽ giúp mình như thế nào. Thế mà tôi vẫn ngồi đây, tiêu tốn những đồng tiền bố mẹ bỏ bao mồ hôi công sức cả đời mới kiếm được. Tôi quyết định bỏ học và tin rằng, mọi thứ rồi cũng được thu xếp ổn thoả. Lúc đó thật sự rất run, nhưng bây giờ nhìn lại, tôi hiểu rằng, đấy là quyết định đúng đắn nhất của đời mình. Ngay khi quyết định bỏ học, tôi đã bỏ những môn bắt buộc mà mình không thích và bắt đầu kiếm các lớp có vẻ thú vị hơn.
Tôi không được ở KTX, vì vậy tôi ngủ ở sàn nhà phòng các bạn, trả vỏ lon Coca để lấy 5 cent mua thức ăn, và đi bộ hơn 10 cây số dọc thành phố vào các ngày chủ nhật để đến ăn một bữa làm phúc hàng tuần của đền Hare Krishna. Tôi thật sự thích cuộc sống đó. Và chính những gì đã xem, nghe, thấy, khám phá bằng trí tò mò và tri giác của tuổi trẻ…lúc đó đã biến thành những kinh nghiệm quý báu cho tôi sau này.
ĐH Reed lúc đó có trường học dạy thiết kế thư pháp, có lẽ là đỉnh nhất trong cả nước. Mọi mẫu chữ trên các poster, biển hiệu… xung quanh trường đều rất được thiết kế rất đẹp.
Lúc ấy, coi như đã bỏ học và không phải học những môn bắt buộc nữa, tôi quyết định chọn lớp học về mẫu chữ mỹ thuật để tìm hiểu cung cách thiết kế. Tôi đã tìm hiểu về các mẫu chữ serif, san serif, về các khoảng cách khác nhau giữa các mẫu chữ, về các phương cách làm cho kiểu in (typography). Những kiểu cách vẽ chứ đó thật gợi cảm, tinh tế, giàu lịch sử. Chúng mê hoặc tôi từ lúc nào không hay.
Những thứ viển vông này chắc chẳng đem lại một ứng dụng thực tế nào cho cuộc đời tôi. Thế nhưng 10 năm sau, khi bắt đầu thiết kế chiếc máy tính Macintosh đầu tiên, tất cả quay trở lại. Chúng tôi đã dồn hết kiến thức của mình vào thiết kế chiếc Mac này. Đó là chiếc máy đầu tiên có kiểu chữ rất đẹp.
Nếu tôi đã không bước chân vào lớp học thiết kế chữ hồi ĐH, chiếc Mac bây giờ sẽ không bao giờ có các kiểu dáng chữ và các phông chữ có khoảng cách đều nhau như thế này. Và vì thế, có lẽ cũng chẳng máy tính cá nhân nào trên thế giới có các kiểu chữ này (vì Windows cóp hoàn toàn từ Mac). Nếu không bao giờ bỏ học, tôi đã không đi học lớp thiết kế chữ này, và các máy tính cá nhân cũng không có được những mẫu chữ tuyệt diệu hôm nay. Dĩ nhiên, khi còn ngồi ghế nhà trường, làm sao tôi có thể kết nối các sự việc theo hướng như vậy? Nhưng 10 năm sau nhìn lại, tất cả đều rất rõ ràng.
Dĩ nhiên, các bạn không thể kết nối các sự việc khi nhìn về phía trước, chỉ có thể làm như vậy khi ta nhìn lại một quãng đường. Vì vậy, các bạn phải tin tưởng rằng các hành vi, sự kiện của hiện tại có một mối liên quan nào đó đến tương lai. Bạn phải tin tưởng vào một điều gì đó - linh tính, số phận, cuộc đời, thuyết nhân quả…bất kỳ cái gì. Lối suy nghĩ này chưa bao giờ làm tôi thất vọng, và chính nó đã tạo nên tất cả những khác biệt trong cuộc đời mình.
Câu chuyện thứ hai: Tình yêu và sự mất mát
Tôi đã rất may mắn khi tìm thấy điều mình thực sự yêu thích khi còn trẻ tuổi. Woz và tôi bắt đầu thiết kế máy Apple trong gara ô tô của bố mẹ tôi hồi tôi mới 20 tuổi. Chúng tôi làm việc rất chăm chỉ, và trong vòng 10 năm sau, Apple đã trưởng thành. Từ một bộ sậu chỉ có 2 người biến thành một tập đoàn trị giá 2 triệu đô la với hơn 4.000 nhân viên. Chúng tôi đã cho ra đời sản phẩm đỉnh cao nhất của mình -máy Macintosh - năm trước đó, lúc tôi mới bước sang tuổi 30.
Rồi tôi bị đuổi việc. Làm sao có thể bị đuổi việc khỏi một công ty bản thân mình sáng lập nên? Chuyện là thế này. Khi Apple mở rộng, chúng tôi thuê một người mà tôi nghĩ là rất tài năng để điều hành công ty cùng mình. Một hai năm đầu, mọi thứ đều ổn. Nhưng rồi những định hướng tương lai có điểm bất đồng, cuối cùng, chúng tôi cãi nhau. Hội đồng quản trị đã đứng về phía anh ta, tôi thì ra khỏi công ty, khi 30 tuổi.
Tâm huyết của cả một thời kỳ đã tiêu tan, tôi hoàn toàn tuyệt vọng.
Một vài tháng sau đó, không biết phải làm gì, tôi cảm thấy đã không phải với các bậc tiền bối, đã bỏ lỡ cơ hội khi nó đến tầm tay. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce và cố gắng nói lời xin lỗi vì đã làm hỏng mọi chuyện. Là một trường hợp thất bại mà công chúng đều biết đến, thậm chí tôi còn nghĩ đến việc bỏ chạy khỏi thung lũng nơi mình sống.
Nhưng rồi có một điều mà dần dần tôi nhận ra - tôi vẫn rất yêu những việc mình làm! Những biến đổi ở Apple đã không hề làm giảm sút niềm đam mê đó. Tôi đã bị từ chối, nhưng vẫn yêu. Vì thế, tôi quyết định làm lại.
Lúc đó, tôi không thể nhận thức được rằng, chính việc bị đuổi khỏi Apple là điều tuyệt vời nhất đã diễn ra trong đời. Những gánh nặng của vinh quang được thay thế bởi cảm giác nhẹ nhõm khi bắt đầu lại từ đầu và không chắc chắn về mọi thứ. Tôi được tự do bước vào thời kỳ sáng tạo nhất của cuộc đời.
Trong vòng 5 năm sau đó, tôi bắt đầu một công ty tên là NeXT, một công ty khác tên Pixar, và đem lòng yêu một người phụ nữ tuyệt vời sau này đã trở thành vợ tôi.
Pixar bắt đầu sản xuất các phim hoạt hình sử dụng công nghệ máy tính đầu tiên của thế giới, bộ phim Câu chuyện đồ chơi (Toy Story), và bây giờ đã trở thành một trong những xưởng sản xuất phim hoạt hình thành công nhất thế giới.
Vật đổi sao dời, cuối cùng thì Apple lại mua lại NeXT và tôi trở về Apple, sử dụng chính những công nghệ đã phát triển ở NeXT vào phục hưng lại cho Apple. Tôi và Laurence đã cùng nhau xây dựng một gia đình đầm ấm.
Tôi tin chắc rằng, những điều kỳ diệu trên đã không xảy ra nếu tôi không bị đuổi khỏi Apple. Đó là một liều thuốc đắng, nhưng đúng là bệnh nhân cần có nó. Đôi lúc cuộc đời quẳng một cục gạch vào đầu bạn. Đừng mất niềm tin.
Tôi tin rằng, điều duy nhất tiếp sức cho mình là việc tình yêu những việc mình làm. Bạn cũng vây, phải tìm thấy niềm đam mê của mình. Đối với công việc hay với người tình đều thế cả. Công việc sẽ chiếm một phần lớn cuộc sống của bạn, và cách duy nhất để thực sự toại nguyện là làm được những điều bạn nghĩ là vĩ đại nhất. Và cách duy nhất để làm được những điều vĩ đại là yêu việc mình làm. Nếu chưa tìm thấy thì bạn cứ tiếp tục tìm đi. Đừng bằng lòng với sự ổn định. Giống như trong tình yêu vậy, bạn sẽ biết ngay khi bạn tìm thấy nó. Và cũng giống như trong bất kỳ mối quan hệ nào, nó sẽ chỉ tốt đẹp thêm theo năm tháng mà thôi. Bạn cứ tìm đến khi bao giờ thấy, đừng dừng lại.
Câu chuyện thứ ba: Cái chết
Khi 17 tuổi, tôi đọc một câu rằng: “Nếu ngày nào bạn cũng sống như thể đó là ngày tận thế của mình, đến một lúc nào đó bạn sẽ đúng”. Câu nói đó để lại ấn tượng lớn với tôi, và trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương mỗi ngày để tự hỏi mình: “Nếu hôm nay là ngày cuối của đời mình, liệu mình có muốn làm những việc hôm nay mình sắp làm không?” Và khi nhận ra câu trả lời là “không” ngày này qua ngày khác, tôi biết mình cần thay đổi điều gì đó.
Ghi nhớ rằng "một ngày nào đó gần thôi, mình sẽ chết đi" là một bí quyết vô cùng quan trọng giúp tôi quyết định những lựa chọn lớn trong đời.
Bởi vì hầu hết mọi thứ - những mong đợi của người khác, lòng kiêu hãnh, nỗi lo sợ xấu hổ khi thất bại - tất cả đều phù phiếm trước cái chết, để lại những gì thật sự quan trọng. Luôn nhớ rằng mình sẽ chết là cách tốt nhất mà tôi biết để tránh sa vào cái bẫy suy nghĩ rằng mình không muốn mất đi cái gì đó. Ta đã hoàn toàn vô sản rồi. Chẳng có lý gì để không đi theo tiếng gọi trái tim.
Một năm trước đây, tôi bị chẩn bệnh ung thư. Tôi đi soi người lúc 7h30 sáng và phát hiện có một khối u trong tuyến tuỵ. Lúc đó, tôi còn chẳng hiểu tuyến tuỵ là gì. Bác sĩ bảo rằng chắc là một loại ung thư không chữa được, và tôi chỉ sống được 3-6 tháng nữa thôi. Bác sĩ khuyên tôi về nhà sắp xếp lại mọi công việc, có thể ngầm hiểu như thế là chuẩn bị mọi thứ trước cái chết. Có nghĩa là phải gói gọn những điều muốn nói với các con trong 10 năm tới trong vòng một vài tháng. Có nghĩa là đảm bảo mọi thứ được sắp xếp ổn thoả để cả mọi thứ đều dễ dàng suôn sẻ khi tôi ra đi.
Cả ngày hôm đó tôi nghĩ đến lời chẩn bệnh. Tối đó tôi lại ngồi khám, người ta cho đèn nội soi vào cổ họng xuống dạ dày và ruột non, lấy kim châm vào tuyến tuỵ để lấy ra một số tế bào từ khối u. Lúc đó tôi rất bình thản, nhưng vợ tôi kể lại lúc đó khi các bác sĩ soi các tế bào dưới kính hiển vi họ đã bật khóc vì phát hiện ra đây là một trông số rất ít loại u ác tính có thể chữa bằng phẫu thuật. Tôi đã qua phẫu thuật và giờ thì khoẻ rồi.
Không ai muốn chết cả. Kể cả những người muốn lên thiên đàng cũng không muốn chết ở đó. Thế mà cái chết lại là điểm đến của tất cả chúng ta. Không ai có thể trốn khỏi nó. Có lẽ đó cũng là điều hợp lẽ, bởi Cái chết là sản phẩm tuyệt vời nhất của Cuộc sống. Nó là yếu tố làm thay đổi cuộc sống. Nó gạt bỏ cái cũ và mở đường cho cái mới. Ngay bây giờ “cái mới” là các bạn, nhưng không xa nữa bạn sẽ trở thành cái cũ và bị loại bỏ. Thứ lỗi cho tôi nếu nói như thế là quá gay cấn, nhưng mà đúng như vậy đấy.
Thời gian của các bạn là có hạn, nên đừng phí phạm bằng cách sống cuộc đời của người khác. Đừng rơi vào bẫy của sự độc đoán, giáo điều của người khác. Đừng để những ý kiến ồn ào xung quanh đánh chìm tiếng nói bên trong bạn. Và quan trọng nhất, hãy có dũng cảm để đi theo tiếng gọi của trái tim và linh tính. Chúng biết bạn thực sự muốn gì. Mọi thứ khác chỉ là thứ yếu thôi.
Khi tôi còn trẻ, có một tuyển tập tuyệt diệu tên là Catelogue toàn trái đất, được coi như cuốn sách gối đầu giường của thế hệ chúng tôi. Một tác giả tên Stewart Brand đã viết cuốn sách này, và ông đã làm cho nó vô cùng sống động bằng những chấm phá lãng mạn của mình trong đó. Đó là những năm cuối thập kỷ 60, khi chưa có máy tính cá nhân, nên được tạo nên hoàn toàn bằng máy chữ, kéo, và máy chụp ảnh polaroid. Nó giống như một Google trên giấy vậy: rất lý tưởng, tràn đầy các công cụ hay ho và ý tưởng vĩ đại.
Steward và nhóm của ông đã cho ra đời một vài số Catelog toàn trái đất. Số cuối cùng ra vào giữa những năm 70, lúc đó tôi bằng tuổi các bạn bây giờ. Ở bìa sau cuốn tuyển tập có bức ảnh một con đường ở nông thôn vào một sớm mai, cảnh vật rất thích hợp cho những người thích phiêu lưu tự đi bộ du hành. Ở dưới có dòng chữ: “Hãy cứ đói khát và dại dột” (Stay hungry. Stay foolish). Đó là lời tạm biệt của họ trước khi kết thúc. Và tôi luôn ước muốn điều đó cho bản thân. Và bây giờ, khi các bạn tốt nghiệp và bước đến những chân trời mới, tôi cũng chúc các bạn như vậy.
Khánh Ngọc
Camap_casau
18-04-2006, 03:34 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Vuot_qua_thu_thach_cuoc_song.jpgVượt qua thử thách cuộc sống
Những rắc rối của chúng ta có thể đến theo những dạng ''bưu kiện'' khác nhau nhưng tác động của chúng đối với chúng ta thì khá giống nhau: căng thẳng, mất hy vọng, chán nản. Cuộc sống càng tăng tốc thì tần suất những rắc rối cũng càng tăng cao...
Điều quan trọng là phải khám phá, tìm tòi thái độ và phương pháp hiệu quả để vượt qua những thách thức ấy một cách dễ dàng và ít khó chịu nhất.
Chấp nhận thử thách
Một câu chuyện rất hay để minh họa cho thái độ lấy thử thách để rèn luyện và khiến bản thân trở nên mạnh mẽ: Có một người đàn ông nọ quan sát một con bướm đang cố thoát ra khỏi cái kén nhưng mãi mà nó vẫn chưa thể chui ra. Người đàn ông thấy tội nghiệp nên muốn giúp nó. Anh ta cắt cái kén để giúp nó thoát ra dễ hơn. Và con bướm ra khỏi cái kén với đôi cánh nhỏ và nhăn lại.
Thay vì bay theo bản năng, nó lại bò xung quanh một cách bất lực và chết sau một thời gian ngắn. Người đàn ông không biết rằng, con bướm phải tự mình vật lộn để thoát ra khỏi kén thì đôi cánh của nó mới phát triển bình thường và bay được. Khi bị thử thách và bị kiểm nghiệm, con bướm cũng như nhiều loài vật khác sẽ tự thay đổi và thích ứng. Đối với con người chúng ta cũng vậy, thử thách chính là cơ hội cho ta trưởng thành.
Khi sự việc vừa mới xảy ra, bạn thường nói: Tôi gặp rắc rối rồi chăng? Và bạn bắt đầu căng thẳng, tâm trí bạn bắt đầu chạy đua với nhiều loại suy nghĩ. Thực ra, “rắc rối” chỉ là một danh từ để gọi tên một sự việc mà thôi. Nếu bạn thay cách gọi "rắc rối'' thành “bài học", "thử thách'' hay "cơ hội'' bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn nhiều và dễ dàng tìm ra giải pháp để giải quyết nó.
Kỹ năng lui lại và tán thưởng
Tại sao ta thường không thể tìm ra cách giải quyết những rắc rối của ta, nhưng khi ta hỏi ý kiến bạn bè thì gần như ngay lập tức họ tìm ra cách giải quyết mà ta không nhìn ra? Ta và họ có gì khác?
Thật ra họ không ở gần tình huống nên họ có thể nhìn vấn đề từ xa trong một phối cảnh. Ta cần có khả năng đứng lùi lại và nhìn tình huống xảy ra ở một góc độ từ xa. Ví như khi đứng quá gần bức tranh, ta không thể cảm nhận được vẻ đẹp thực của nó mà chỉ nhìn thấy một mớ hỗn loạn màu sắc, nhưng nếu đứng lùi lại, ta có một cái nhìn phối cảnh và cảm nhận bức tranh rõ hơn.
Tương tự như thế, trong cuộc sống ta nên phát triển kỹ năng đứng lùi lại và quan sát tình huống từ xa trong một bối cảnh chung. Từ góc nhìn này, ta sẽ có một tâm trạng sáng suốt để giải quyết vấn đề tốt hơn.
Mười năm trước đây, David Cooper Rider và những đồng nghiệp của ông ở Trường Đại học Lake Western đã triển khai một phương pháp mới về giải quyết rắc rối mang tên "Cần biết tán thưởng". David đã xem xét một loạt những câu hỏi thường được đưa ra khi có rắc rối: Sao tôi không hiểu nhỉ? Tại sao điều này không hoạt động? Tôi sẽ làm gì đây? Tôi phải đợi đến bao giờ? Tại sao lại chán thế?... Khi tự chất vấn mình những câu hỏi đại loại như thế, bạn cảm thấy như thế nào? Có phải càng thêm lo, càng tức và càng rối trí thêm?
Cần biết tán thưởng là cách nhìn vào tình huống đó bằng một góc độ từ xa và tích cực, dùng những câu hỏi sáng tạo giúp ta đánh giá cao bản thân, người khác và những khả năng ở trong tình huống. Những câu hỏi đó là: Tôi đạt được điều gì? Điều này nên được thay đổi theo cách nào? Làm sao tôi có thể biến nó trở nên thú vị cho chính tôi?...
Khi gặp rắc rối hoặc đối diện một thử thách trong cuộc sống thay vì hỏi: Tại sao? Làm cách nào? Thì bạn hãy hỏi: Tôi đã đạt được điều gì? Điều gì đang có hiệu quả? Đặt những câu hỏi như thế có lợi cho ta vì ta cảm thấy điềm tĩnh hơn, tích cực hơn khi đối mặt với rắc rối. Ta dùng năng lượng mang tính xây dựng hơn là phản ứng theo cách phá hoại với những gì ta không thể thay đổi. Những câu hỏi này cho phép não trái của ta dùng năng lượng tích cực để giải quyết vấn đề.
Còn nếu cứ đặt ra những câu hỏi tiêu cực sẽ làm ta có cảm giác stress và căng thẳng thì não ta không hoạt động tốt, như thế khả năng giải quyết rắc rối của ta bị giảm sút.
Camap_casau
18-04-2006, 03:36 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Gay_dung_Dao_lam_giau.jpgGây dựng “Đạo làm giàu”
Các bạn doanh nhân trẻ thường đặt ra câu hỏi: “Truyền thống của doanh nhân Việt Nam là gì? và một cách hỏi khác: Doanh nhân Việt Nam có truyền thống nào không?
Cách đây đã hơn 80 năm, khi còn là một nhà cách mạng trẻ tuổi, Nguyễn Ái Quốc trong một tác phẩm mang tính khảo cứu về những đặc điểm của xã hội Việt Nam, đã đúc rút ra một kết luận là “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” và nhận định rằng: “Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc”.
Khi đề cập tới tầng lớp mà vào thời tư tưởng đấu tranh giai cấp đang ngự trị luôn nói tới những mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa giữa chủ và thợ, thì nhà macxit trẻ Nguyễn Ái Quốc lại mạnh bạo đưa ra sự phân tích:
“Không có tỷ phú An Nam… nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột họ bằng máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì không có tơ-rớt. Người thì nhẫn nhục chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó không thể chối cãi được”. Những tư tưởng này được viết vào năm 1924 (Hồ Chí Minh toàn tập, tập I, NXBCTQG, H., 2002, tr464 – 466).
Như thế là ngay từ rất sớm, nhà cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã nhìn nhận thấy hai đặc trưng nổi bật của tầng lớp, mà nay ta gọi là doanh nhân đương thời ở Việt Nam, là một tầng lớp không tạo ra những xung đột gay gắt với quyền lợi của người lao động như trong các xã hội khác, đồng thời tiểm ẩn một “chủ nghĩa dân tộc” thúc đẩy họ trên doanh trường mà khi đó đối thủ là những thế lực kinh tế ngoại bang.
Đúng như lời dự báo từ năm 1924, một tầng lớp doanh nhân bản xứ chấp nhận dấn thân vào doanh trường, tham gia việc làm giàu, chấp nhận cạnh tranh nhưng vẫn chứa chất tinh thần yêu nước và đau nỗi nhục mất nước. Họ biết gắn mục tiêu kinh doanh của mình với sự hưng vong của dân tộc.
Đã xuất hiện những tên tuổi lớn mà chúng ta hay nhắc đến. Từ những tư tưởng của nhà yêu nước Lương Văn Can gắn cuộc Duy Tân với việc kinh doanh để gây dựng một “đạo làm giàu”, đến những con người hành động táo bạo như Bạch Thái Bưởi, Trương Văn Bền v.v…
Nhưng thực tiễn cho thấy, kết cục đối với tầng lớp này là một bi kịch lớn. Họ không cạnh tranh nổi với ngoại bang và trước hết là thế lực thực dân đặt lợi ích của chính quốc lên trên hết.
Những con người có chí lớn trong cuộc kinh doanh như Bạch Thái Bưởi cuối cùng cũng phá sản. Còn một tầng lớp doanh nhân khác có tinh thần dân tộc mạnh mẽ thì khi có cơ hội họ cũng sẵn lòng dấn thân vào con đường chính trị yêu nước. Có nhiều doanh nhân tham gia vào tổ chức yêu nước Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học và nếm mùi thất bại.
Một bộ phận khác may mắn hơn được chứng kiến những ngày Cách mạng tháng Tám 1945 và dấn thân vào dòng chảy của sự nghiệp chung. Họ nhập được vào dòng chảy ấy, vì những nguyên lý của Nguyễn Ái Quốc năm xưa đã được thể hiện trong Cương lĩnh đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Việt Minh.
1. Người mình không có thương phẩm.
2. Không có thương hội
3. Không có chữ tín
4. Không có kiên tâm
5. Không có nghị lực
6. Không biết trọng nghề
7. Không có thương học
8. Kém đường giao thiệp
9. Không biết tiết kiệm
10. Khinh bỉ nội hóa”
(Nhà duy tân Lương Văn Can nói về những yếu kém của doanh nhân người Việt thuở mới manh nha)
Thực tiễn của đất nước trong cuộc cách mạng vĩ đại này là tầng lớp hữu sản, trong đó có các doanh nhân đã trở thành một lực lượng của dân tộc. Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh được giải thích là biểu trưng cho lực lượng ấy, trong đó một cánh là tầng lớp doanh nhân (sĩ – nông – công – thương – binh).
Nhiều doanh nhân còn có cơ hội phục vụ kháng chiến bằng tài và lực của mình. Đây chính là thời kỳ tuy ngắn ngủi nhưng được xác lập vị thế tương xứng nhất.
Trong thư gửi giới công thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một nguyên lý vô cùng sáng suốt: “Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Chính phủ, nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới công thương trong công cuộc kiến thiết này” (như trên, tập IV, tr.49).
Nhưng cũng có một thực tiễn và cũng là một bi kịch của lịch sử. Đó là ước vọng làm giàu của những doanh nhân tham gia vào sự nghiệp cứu nước và chống ngoại xâm, đã bị những tháng chiến tranh khắc nghiệt chi phối, không có cơ được phát huy trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Mặt khác, tầng lớp doanh nhân đã bị triệt tiêu do những nhận thức ấu trĩ một thời…
Vì thế mà, chúng ta có thể mạnh dạn mà nói rằng, một tầng lớp doanh nhân Việt Nam đích thực, được coi là một lực lượng dân tộc, có vị thế quan trọng cùng công nhân, nông dân và trí thức trong công cuộc Đổi mới.
Việc Thủ tướng chấp nhận hàng năm có “Ngày doanh nhân Việt Nam”, tổ chức các đối thoại với doanh nhân, Quốc hội xây dựng những thể chế để doanh nhân có cơ hội phát triển v.v… là những biểu hiện lần đầu tiên xuất hiện và trở thành một môi trường ngày càng thông thoáng cho doanh nhân phát triển.
Doanh nhân đã được tôn vinh là “những chiến sĩ xung kích thời bình”… Điều đó cũng có nghĩa là doanh nhân Việt Nam tuổi thực còn rất trẻ. Truyền thống mà lớp người tiền bối trong những điều kiện lịch sử chưa thực sự là những “doanh nhân Việt Nam” theo đúng nghĩa, mới chỉ là “chủ nghĩa dân tộc” mà 80 năm trước Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện.
Do vậy, doanh nhân Việt Nam phải ý thức được sự non trẻ của mình để có thể phát huy được sức trẻ đầy sức mạnh và sức sáng tạo của mình. Đồng thời khắc phục những non nớt mà tuổi trẻ nào cũng phải vượt qua như những thử thách.
Xin được nhắc lại những điều mà Cụ cử Lương Văn Can, một trong những nhà yêu nước tiêu biểu của phong trào Duy Tân cách đây một thế kỷ, người tiên phong gây dựng “đạo làm giàu” năm xưa, khi nói về những yếu kém của giới doanh nhân từ thuở mới manh nha, để các bạn doanh nghiệp trẻ hãy soi vào những điều người xưa đã cảnh tỉnh.
Dương Trung Quốc
(Tiền Phong)
quongdang
18-04-2006, 05:06 PM
híc...đọc mỏi mắt rồi...
không biết rút ra gì không nữa
để thử sống đã
chờ 30-50 năm nữa nói cho ha
Camap_casau
19-04-2006, 02:55 AM
Viết đơn giản mới là người thông minh
Những từ ngữ văn hoa cùng kiểu font chữ phức tạp - 2 thủ thuật thường được sinh viên áp dụng trong các bài viết của mình - được các chuyên gia đánh giá là xuất phát từ những người kém thông minh.
Nói một cách đơn giản hơn là những từ ngữ ngắn gọn và font chữ truyền thống sẽ khiến bạn trở nên thông minh hơn.
Daniel Oppenheimer tại Đại học Princeton đã thực hiện 5 cuộc thử nghiệm thay đổi độ phức tạp của từ vựng và kiểu chữ. Những bản mẫu bao gồm đơn xin cấp bằng tốt nghiệp, bản tóm tắt luận án xã hội học, bản dịch.
Những bài viết đơn giản bằng kiểu chữ dễ đọc được đánh giá là thuộc tác giả thông minh hơn, so với những bài viết rắc rối, phức tạp.
"Bất cứ thứ gì khiến chữ viết khó đọc và khó hiểu, như những từ dài không cần thiết và font chữ cầu kỳ, sẽ làm người đọc đánh giá thấp công trình và tác giả của nó", Oppenheimer nói.
Tuy vậy, ông bổ sung rằng nghiên cứu không ám chỉ những câu cú dài dòng là đều không tốt, mà chỉ nên sử dụng lúc cần thiết. Vậy thì tại sao nhiều người lại thích làm như vậy?
"Việc sử dụng những từ đao to búa lớn và kiểu font chữ hấp dẫn phổ biến ở sinh viên có thể bắt nguồn từ thực tế rằng họ không nhận ra những thủ thuật này có thể gây tác dụng ngược", Oppenheimer nói. "Một điều chắc chắn rằng cứ viết đơn giản và rành mạch, bạn sẽ được đánh giá cao hơn".
(VnExpress/Livescience)
Camap_casau
19-04-2006, 02:57 AM
Nói với thế hệ trẻ
Tốt nghiệp đại học mới chỉ là cơ sở để mở đầu cuộc đời của người cán bộ nghiên cứu. Có bằng tiến sĩ cũng là bắt đầu con đường nghiên cứu khoa học. Hãy ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ: “Học để làm việc, làm người, làm cách mạng. Học để phục vụ nhân dân”.
Học nữa, học mãi vì kiến thức của loài người tăng lên với cấp số nhân. Kiến thức của nhân loại trong năm năm gần đây bằng tổng số kiến thức của nhân loại trong 5.000 năm trước đó cộng lại. Như về thiên văn học, đến trên 90% hiểu biết về vũ trụ của loài người đã được phát hiện và xác định trong năm năm gần đây.
Các bạn bắt đầu cuộc đời là cán bộ nghiên cứu khoa học, các bạn phải phấn đấu rất gian khổ về mọi mặt, trước hết là về phương pháp nghiên cứu và tính trung thực trong nghiên cứu khoa học. Marx đã viết trong trang bìa của cuốn Tư bản bằng tiếng Pháp: “Không có con đường bằng phẳng nào cho khoa học. Chỉ có những ai không ngại khó nhọc trong khi trèo trên những con đường dốc của khoa học mới có cơ hội đạt được những đỉnh cao xán lạn của nó”.
Các bạn hãy có dũng khí của nhà khoa học, tìm kiếm sự thật, tôn trọng sự thật, nói lên sự thật. Nhà bác học thiên tài Albert Einstein đã nói: “Khuất phục trước quyền lực là kẻ thù của chân lý”. Nhà bác học Gallilei dẫu lên giàn thiêu cũng vẫn nói lên chân lý Trái đất quay chứ không nói khác được.
Các bạn hãy luôn tự đặt ra những câu hỏi, hãy hoài nghi những gì đã được coi là chân lý vĩnh cửu. Chính Albert Einstein không tin vào các khái niệm tưởng như vĩnh hằng về thời gian, tốc độ, khối lượng, năng lượng nên mới có những phát minh vĩ đại về thuyết tương đối. Điều quan trọng nhất là phải vượt lên chính mình để tìm đến sự thật. Phải vượt qua mọi cám dỗ của kẻ cơ hội, của sự dối trá, xu nịnh. Trong lịch sử khoa học, rất nhiều nhà khoa học chân chính đã phải trả giá vì sự trung thực và dũng cảm của mình.
Người ta có thể dùng tiền bạc để mua bằng cấp (điều rất đáng buồn nhưng lại là sự thật) nhưng không ai có thể mua được kiến thức, càng không thể mua được bản lĩnh khoa học, phương pháp nghiên cứu và uy tín trong khoa học. Người ta cũng có thể dùng tiền để mua được chức tước, địa vị nhưng không thể mua được sự tín nhiệm của đồng nghiệp và xã hội.
Các bạn hãy rèn cho mình phương pháp và bản lĩnh làm việc khoa học: quan sát, tích lũy, phân tích các sự việc, tìm ra cốt lõi logic hay bản chất của sự việc. Không bao giờ chỉ nên dừng lại ở hiện tượng, các bạn phải tìm ra các mối quan hệ của hiện tượng, từ nguyên nhân, các nhân tố tác động, hoàn cảnh đi đến bản chất của hiện tượng. Nhà nghiên cứu khoa học phải tìm đến bản chất của sự việc qui luật vận động của sự việc.
Các bạn phải làm giàu kiến thức từ nhà trường bằng hiểu biết thực tiễn. Thực tiễn sinh động là không khí của người cán bộ nghiên cứu, không có không khí đó các bạn sẽ chết ngạt hay chết dần mòn trong lối học từ chương, sách vở. Hãy học từ thực tế trong nước, thực tế ngoài nước, các con số thống kê, con người, nhân vật, qua nghiên cứu thực địa, tiếp xúc.
Các bạn phải hệ thống hóa kiến thức, thường xuyên cập nhật các số liệu, dữ kiện về lĩnh vực chuyên môn của mình, và các hiểu biết về con người, về đất nước. Mỗi người phải tự làm kho tư liệu cho chính mình. Các bạn hãy chuẩn bị cho mình sổ sách, phiếu ghi chép, tư liệu trên máy tính. Từng ngày hãy làm giàu kiến thức của mình, sống mà không có tích lũy kiến thức sẽ rất nghèo nàn, chậm tiến bộ vì kiến thức cũ đi rất nhanh.
Yêu cầu và kinh nghiệm làm tư liệu. Các bạn hãy rèn thói quen đọc và ghi chép hằng ngày. Các bạn hãy học tấm gương của nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn viết nhật ký liên tục 30 năm, không nghỉ một ngày, kể cả khi đau ốm. Nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn viết Vân Đài Loại Ngữ, đã thu thập từ tất cả các vùng của đất nước bằng một hệ thống thẻ tư liệu, được bó thành túi theo chuyên đề, đã tích lũy được một kho kiến thức khổng lồ và để lại cho chúng ta. Ngày nay, công nghệ thông tin giúp các bạn làm chủ được việc tích lũy kiến thức ấy thuận lợi hơn nhiều nhưng các bạn phải học. Không có ai bổ đầu ra để nhét kiến thức vào đầu các bạn được.
Nắm vững nghị quyết, chỉ thị, chính sách của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực chuyên môn một cách có hệ thống. Hiểu rõ bản chất, nội dung, hoàn cảnh ra đời, mục đích, ý nghĩa của nó, thời hiệu của nó, nội dung mới, cái cốt yếu của nó. Đó là cơ sở để làm việc, để cụ thể hóa chính sách, vận dụng, tiếp tục bổ sung, phát triển chính sách một cách sáng tạo, không phải để lặp lại một cách máy móc hay nói theo như con vẹt.
Mỗi người phải tự xác định cho mình một lĩnh vực chuyên môn sâu về kinh tế và xã hội. Theo kinh nghiệm của cá nhân tôi, trước hết phải nắm thật vững, thật sâu một vài lĩnh vực rồi mới dần dần mở rộng ra các lĩnh vực khác. Cần hết sức tránh “kiến thức nửa mùa” theo kiểu các cụ gọi là “đạo thính, đồ thuyết” (học lỏm, nghe trộm), thiếu chính xác, không có hệ thống. Đừng chạy theo những cám dỗ của những bong bóng xà phòng lộng lẫy, hào nhoáng nhưng không có thực chất, không có căn cứ vững chắc, bong bóng xà phòng sẽ vỡ nhanh chóng khi bị gió mạnh, kiến thức không vững chắc sẽ không đủ để vận dụng và không chịu được thử thách của thực tiễn.
Phải tự khe khắt về tính chính xác, tính trung thực trong cách biểu đạt của mình. Phải tự chịu trách nhiệm cá nhân về những vấn đề nêu ra và ý thức được về ảnh hưởng, tác động của vấn đề đó. Cuộc đời và khoa học sẽ trừng phạt mọi sự dối trá, làm ẩu, không có căn cứ. Hãy học cách tự vắt hết đến 90% nước trong quả chanh sức lực của mình cho một công trình. Hết sức tránh chủ nghĩa cơ hội, ăn theo nói leo một cách vô căn cứ, thậm chí ngược với những gì mình biết. Mỗi người phải tự khẳng định nhân cách khoa học của mình. Các bạn hãy học sự chính xác và cẩn trọng của ngành y, thầy thuốc chẩn bệnh sai, cho thuốc sai và xử lý chậm là chết người.
Các bạn phải học ngoại ngữ. Trong thế giới ngày nay, ngoại ngữ là cửa sổ để nhìn ra thế giới. Nước ta còn nghèo và kém phát triển, tài liệu khoa học tiếng Việt còn hạn chế, phải làm chủ được ngoại ngữ mới có cửa sổ nhìn ra thế giới. Ít nhất, các bạn phải có tiếng Anh để sử dụng được Internet và đọc sách chuyên môn. Phải có bằng TOEFL mới có thể đi học nước ngoài được, phấn đấu sử dụng thông thạo tiếng Anh, bảo đảm nghe hiểu, viết và biểu đạt các ý tưởng khoa học bằng tiếng Anh.
Phải phân biệt tiếng Anh chuyên môn với tiếng Anh giao tiếp phổ thông, phải nắm vững thuật ngữ, cách biểu đạt chính xác bằng tiếng Anh như một nhà nghiên cứu, có học vấn. Kinh nghiệm của tôi và của nhiều người là đọc sách bằng tiếng gì ghi ngay bằng ngôn ngữ đó, không dịch ra tiếng Việt vì sau này khi cần tra cứu lại, có thể có những nội dung quá mới, không bị ngờ vực là mình đã dịch nhầm.
Nói gì, lúc nào cũng là điều phải học. Người ta nói “Học nói thì lên ba đã biết nhưng học im lặng thì suốt đời vẫn phải học”. Bác Hồ đã dạy: “Suy nghĩ trước khi nói, thận trọng trước khi viết, bình tĩnh sáng suốt lúc nguy nan, kiên nhẫn ôn hòa lúc tức giận”. Tránh nói lung tung, câu chuyện làm quà, bạ đâu cũng nói, chuyện gì cũng nói, ít hiệu quả, thậm chí có hại. Đây là điều khó, song phải rèn luyện để đạt cho bằng được. Các bạn phải học để làm việc trong tập thể trình bày rõ ràng ý kiến của mình, tranh luận, tôn trọng người khác một cách xây dựng.
Lắng nghe ý kiến, thật sự cầu thị, khiêm tốn tiếp thu ý kiến, nhất là những ý kiến trái với ý kiến của mình. Tránh tự ái, tự phụ, tự cho mình là giỏi giang, không cần nghe ai, càng phải hết sức tránh thành kiến không có căn cứ, cảm tính. Tránh điều nhà văn Nga Lev Tolstoi đã mô tả trong cuốn Anna Karenina: “Từ bất đồng trở thành bất hòa, từ bất hòa trở nên bất đồng”, chỉ vì bất hòa với người khác mà luôn bất đồng với người ta, người ta nói phải cũng không chịu nghe là tự mình làm hại mình.
Các bạn hãy học cách viết: nhất thiết phải làm đề cương: viết cái gì, giải quyết vấn đề gì, viết đến đâu, nhằm đối tượng nào. Các bạn sẽ phải viết các loại hình viết: báo cáo, tổng thuật, bình luận. Các bạn phải chú ý có trích dẫn tài liệu tham khảo, sòng phẳng, cái gì học của ai phải trích dẫn người đó.
Nội dung là quan trọng nhất, đồng thời rất chú ý kỹ thuật văn bản. Rất chặt chẽ về hình thức, chính tả đối với mọi văn bản.
Marx: “Sản phẩm của con người là sự hiện thân được vật hóa của con người đó”.
Mỗi người tự chọn đề tài, xin đăng ký với ban, có thể có đề tài ban hay viện, mỗi năm có hai sản phẩm. Khi kiểm điểm không cần nói dài, chỉ cần trình các sản phẩm. Người làm khoa học không có sản phẩm là một nhà khoa học đã chết, chỉ còn sống bằng quá khứ.
Lập đề cương nghiên cứu: xác định vấn đề, phạm vi, phương pháp giải quyết, thời gian, phương tiện. Tránh làm khoa học bằng cách chép lại của người khác rồi tự cho đấy là của mình.
Khuyến khích sáng tạo, mạnh bạo phát biểu ý kiến, không phân biệt tuổi tác, thứ bậc, nhưng biểu đạt cần khiêm tốn.
Trong tranh luận khoa học, các bạn có thể nhân nhượng 99% về sự lễ phép, về giao tiếp, ứng xử, đi đến chỗ người ta để gặp gỡ nhưng phải đòi hỏi 100% về nội dung, về tính chính xác trong tranh luận khoa học.
Phát biểu trong cuộc họp phải có nội dung, ngắn gọn, rõ ý, không nói dài, phát biểu không phải để khoe kiến thức của mình. Tranh luận về nội dung không được “nóng gáy”, không nên đáp lại sự đả kích của người khác bằng sự đả kích lại của mình. Luôn luôn vì công việc và chỉ vì công việc khoa học chứ không nhằm vào cá nhân, nếu được như thế các bạn sẽ tránh được hiểu lầm. Việt Nam có thành ngữ “Một lời nói là một đọi máu” để nhắc nhở nói điều gì phải có căn cứ, có trách nhiệm. Họp không nói chuyện riêng, ghi chép, tham gia tích cực vào sinh hoạt khoa học, hội thảo.
Có kế hoạch làm việc, học tập, phấn đấu hằng năm, hằng tháng, hằng ngày. Chấp nhận sự cạnh tranh trong nước và quốc tế, vươn lên đạt trình độ quốc tế về năng lực, hiểu biết.
Phấn đấu về phẩm chất, quan hệ thân ái. Bạn bè là tài sản lớn, “Les bons comptes sont des bons amis”. Chọn bạn tốt mà chơi, “nói cho tôi anh chơi với ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là người thế nào”. Quan hệ và tiếp xúc còn quí hơn tiền bạc. Nhiều bạn ít thù, bạn trong nước và bạn quốc tế.
Phấn đấu trở thành người đoàn viên, đảng viên ưu tú, trở thành người cán bộ nghiên cứu, nhà khoa học của viện, của Việt Nam và của ASEAN. Con đường của các bạn đã được công cuộc đấu tranh của dân tộc và công cuộc đổi mới rộng mở hơn thế hệ chúng tôi. Khổng Tử nói: “Hậu sinh khả úy”, thế hệ các bạn phải hơn thế hệ chúng tôi. Hãy mạnh bước lên, sớm gánh vác công việc và xứng đáng với sự tin cậy của đất nước chúng ta. Tương lai đang rộng mở với các bạn
Trích bài nói chuyện của TS Lê Đăng Doanh với các cán bộ trẻ ở Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
Camap_casau
19-04-2006, 03:00 AM
Những trở ngại về tâm thức trong tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề
1. Định kiến.
Khi càng lớn tuổi thì càng có nhiều định kiến về mọi thứ. Những định kiến này thường làm cho chúng ta không nhìn nhận được thấu đáo những gì mà chúng ta đã biết hay tin tưởng là có thể xảy ra. Chúng ngăn cản sự thay đổi và tiến bộ.
Ví dụ 1: Làm thế nào để lắp ráp các bộ phận của máy bay được dễ dàng và chắc chắn hơn là sử dụng đinh tán? Giải pháp hiện đại là sử dụng keo để dính các bộ phận lại với nhau. Chúng ta có thể sẽ không nghĩ ra giải pháp này chính vì định kiến của chúng ta về quan niệm dùng keo dính. Nhưng có nhiều loại keo, và loại keo được sử dụng để gắn các phần của máy bay với nhau còn chắc chắn hơn cả phần kim loại của chính những bộ phận đó.
Ví dụ 2: Bằng cách nào có thể làm cho kính chống đạn có trọng lượng nhẹ hơn? Kính dày lại quá nặng. Câu trả lời là sử dụng plastic. Lại một lần nữa chúng ta có thành kiến về plastic. Nhưng một số loại plastic không mỏng mảnh một chút nào và được sử dụng để thay thế cho thép và kính chống đạn.
Ví dụ 3: Chế tạo ra loại vỏ tàu không bị gỉ hay mục giống như thép và gỗ. Giải pháp là sử dụng bê tông. Chúng ta luôn nghĩ rằng bê tông thì quá nặng. Vậy tại sao không làm cho bê tông nhẹ hơn? Đó là những gì cần phải thực hiện.
Ví dụ 4: Làm thế nào để chia miếng bánh thành hai phần bằng nhau cho hai đứa trẻ để chúng không thắc mắc là đứa kia được thiên vị hơn: “Mẹ đã cho em phần to hơn, mẹ quý em hơn rồi! Oaaa!” Giải pháp là hãy cứ để cho chúng tự chia bánh. Chúng ta luôn cho rằng bọn trẻ còn non nớt và ích kỷ nên không thể làm được việc đó. Nhưng biện pháp là để cho một đứa cắt bánh còn đứa kia sẽ chọn miếng bánh đầu tiên, mọi việc thế là ổn.
2. Quy định về chức năng.
Đôi khi chúng ta bắt đầu nhìn nhận về đối tượng nào đó chỉ về cái tên của nó hơn là những gì nó có thể thực hiện. Thế nên, chúng ta chỉ coi cái cây lau nhà như là một công cụ để lau sàn mà không nghĩ là nó có thể dùng để quét mạng nhện trên trần nhà, để lau ô tô, để tập aerobic, và để chặn cho cửa mở hay đóng, v.v.
Cũng có quy định chức năng về kinh doanh. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ngành đường sắt tự coi mình chỉ khu biệt trong phạm vi ngành đường sắt mà thôi. Khi ô tô và sau này là máy bay xuất hiện, đường sắt không còn thích nghi nữa. ”Đó không phải là việc của chúng tôi”, họ nói. Nhưng nếu họ tự nhìn nhận bản thân mình là những người làm kinh doanh về lĩnh vực giao thông hơn là làm về ngành đường sắt, họ đã có thể lợi dụng được cơ hội rất lớn.
Tương tự như vậy, khi điện thoại bắt đầu phát triển, một số công ty điện báo nói rằng: ”Đó không phải là công việc của chúng tôi, chúng tôi chỉ là công ty điện báo thôi”. Nhưng nếu họ nói: “Chúng tôi đang kinh doanh về lĩnh vực truyền thông, và đây là cách mới để chúng tôi tiếp cận”, thì họ sẽ lớn mạnh hơn là đã nằm chết bẹp rồi. Hãy so sánh Western Union với AT&T. Bạn đã bao giờ nghe nói về những công ty máy tính lớn Dietzgen hay Pickett chưa? Chưa ư? Vậy thì, đó vốn là những công ty lớn nhất tạo ra thước trượt để tính lôga. Nhưng khi máy tính điện tử bắt đầu phát triển, họ đã không biết được họ đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nào cả. Khi họ thực sự trong ngành kinh doanh máy tính rồi, họ vẫn nghĩ rằng đang kinh doanh thước lôga. Họ đã không theo kịp, không chấp nhận được thử thách của sự thay đổi và cơ hội, và họ đã thất bại.
Và cũng có quy định chức năng về con người. Hãy suy nghĩ một phút, bạn sẽ phản ứng như thế nào khi nhìn thấy người cắt cỏ thuê hay người thợ sửa ô tô của mình ở chương trình quảng cáo sách trên truyền hình.
Sự rập khuôn thậm chí có thể là một hình thức của quy định chức năng - có bao nhiêu người sẽ cười nhạo một cô gái tóc vàng hoe đang viện dẫn lời của Aristotle? Thông thường, chúng ta chỉ thừa nhận một phạm vi rất hẹp về thái độ và hành vi của người khác dựa trên khuynh hướng, thành kiến, sự quy kết nóng vội, hay sự trải nghiệm hạn chế trong quá khứ. Hãy nghĩ về những lời phát biểu đại loại như: “Tôi không thể tin được anh ta đã nói như vậy” hay “Cứ thử tưởng tượng việc làm của cô ấy xem” ... Nhưng hãy nhớ đến câu tục ngữ “Cuộc đời tôi không thể do anh định đoạt được”.
3. Không có sự giúp đỡ về tri thức.
Đây là cảm giác mà bạn không có công cụ, tri thức, vật chất, khả năng, để làm bất cứ việc gì, vì vậy bạn có thể sẽ không cố gắng. Chúng ta đã quen dựa vào người khác về hầu hết mọi thứ. Chúng ta cho rằng bản thân chúng ta thật nhỏ bé và hạn chế. Nhưng với điều này mọi người có thể hỗ trợ lẫn nhau.
Nếu bạn cần thông tin, thì đã có thư viện, cửa hàng sách, bạn bè, thày giáo, và tất nhiên là Internet.Và còn có địa chỉ, số điện thoại, và trang web của các cơ quan chính phủ cấp thành phố, tỉnh, và Nhà nước. Hiện có hàng ngàn cơ quan chính phủ sẵn sàng tiếp chuyện bạn. Liên lạc với người có trọng trách để yêu cầu được giúp đỡ về dự luật, thông tin và những vấn đề khó khăn. Liên hệ với nhà sản xuất để tìm hiểu thông tin về sản phẩm mà bạn muốn biết.
Nếu kiến thức về kỹ thuật của bạn còn nghèo nàn, bạn có thể học. Học cách nấu nướng, sử dụng công cụ, may quần áo, và sử dụng vi tính. Bạn có thể học cách làm mọi thứ mà bạn muốn. Tất cả những gì bạn cần là động lực thúc đẩy và tính dám làm. Giả dụ như bạn có thể học lái máy bay, lái xe tải, lặn biển hay sửa ô tô.
4. Trở ngại về tâm lý.
Một vài biện pháp không được cân nhắc hay bị từ chối đơn giản bởi vì phản ứng của chúng ta đối với chúng là không tốt. Nhưng chính những biện pháp không gây phản ứng tốt đó có thể lại hữu dụng nếu như chúng giải quyết tốt được vấn đề và cứu được cuộc đời bạn. Ăn thằn lằn và châu chấu nghe có vẻ ghê nhưng lại là một giải pháp tốt giúp bạn có thể sống sót được ở những vùng hoang vu.
Có lẽ quan trọng hơn cả là những gì thoạt đầu tưởng chừng là những ý tưởng không khả quan lại có thể đem lại những giải pháp hiệu quả hơn, nghiã là đã phủ nhận những lời chê bai ban đầu. Khi các bác sỹ nhận thấy một số người thổ dân sử dụng phần đầu của loài kiến khổng lồ để khâu vết thương, họ đã bắt chước kỹ thuật càng cua kẹp này để phát minh ra chiếc kẹp dùng trong phẫu thuật.
(Tầm Nhìn)
ilusm_oc9x
19-04-2006, 03:40 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/RMIT-Truong_dai_hoc_quoc_te_dau_tie.jpgĐại học để... làm gì?
Đại học?
_ Để có nơi cho những thằng chủ công ty nhìn vào khi cầm trên tay tấm bằng ĐH của nhân viên mới nhận việc.
_ Nơi để những thằng chảnh + stupid ĐH "xịn" mỉa mai những thằng "super" ở ĐH dân lập.
_ Là nơi để mỗi sáng sinh viên chen chúc nhau trên tuyến xe bus số 8 (và một sô tuyến khác) đến, vào giảng đường để ....ngủ
_ Là nơi mà triết học Mác lê nin tồn tại vững bền và lâu đời.Mặc dù không đc thịnh cho lắm.
_ Và còn là n điều khác.Mọi người vui vẻ bổ sung cho xôm tụ....he he he
Camap_casau
19-04-2006, 10:04 PM
Đề nghị Ban quản trị đọc lại bài rùi đổi giùm lại tên chủ để như cũ với ... Đổi thế này người ta bon chen nhầm đấy ...
Camap_casau
20-04-2006, 10:11 PM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Co_nhung_dieu_tuong_phan_ban_thay_r.jpgNhững nghịch lý của cuộc sống
Có những điều hiển nhiên đến nỗi bạn không bao giờ bận tâm về nó. Có những điều tưởng chừng như rất nhỏ nhặt và bạn đã không làm từ rất lâu vì nhiều lý do.
Hãy bình tâm ngồi lại, bạn sẽ thấy những điều hiển nhiên ấy, những diều nhỏ nhặt ấy có rất nhiều điều để bạn suy ngẫm lại bản thân.
Chúng ta có ít nhưng xài nhiều, chúng ta mua nhiều nhưng sử dụng ít.
Chúng ta có nhà rộng với mái ấm hẹp; có tiện nghi nhưng ít thời gian.
Chúng ta có nhiều bằng cấp nhưng lại có ít tri thức.
Chúng ta có nhiều kiến thức nhưng lại thiếu sự suy xét.
Chúng ta làm ra những thứ lớn hơn nhưng chưa chắc chất lượng hơn.
Chúng ta làm giàu tài sản nhưng lại làm nghèo giá trị bản thân.
Chúng ta nói quá nhiều, thương yêu quá ít và thường hay ghét người.
Chúng ta kéo dài tuổi thọ nhưng không sống đúng ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
Chúng ta chinh phục không gian vũ trụ nhưng lại bỏ trống không gian tâm hồn.
Chúng ta cố làm sạch không khí nhưng lại làm vẫn đục tâm hồn.
Chúng ta biết đường đến mặt trăng nhưng lại quên đường đến nhà người hàng xóm.
Chúng ta xây nhà cao hơn nhưng lại hạ thấp tâm tính; xây đường rộng hơn nhưng lại thu hẹp tầm nhìn.
Chúng ta uống quá nhiều, hút quá nhiều, xài tiền không toán tinh, cười quá ít, lái xe quá nhanh, hay cáu giận; thức khuya để rồi uể oải dậy sớm; đọc quá ít và coi TV quá nhiều.
Chúng ta được học cách phải tiến nhanh về phía trước mà chưa học cách chờ đợi.
Chúng ta được dạy cách kiếm sống chứ không phải cách sống.
Đây là thời đại của thức ăn nhanh và tiêu hoá chậm; của những con người to hơn nhưng nhân cách nhỏ hơn; tài sản rất sâu nhưng tình thương lại cạn.
Đây là thời đại công nghệ có thể đem những điều này đến với bạn, thời đại mà bạn có thể đọc hoặc dễ dàng vứt nó đi.
Hãy nhớ, dành nhiều thời gian hơn cho những người yêu thương bởi vì không chắc rằng họ sẽ ở bên bạn mãi mãi.
Hãy nhớ, nói một lời dịu dàng đối với những người kính trọng bạn bởi vì con người nhỏ bé đó một ngày nào đó sẽ lớn, lớn hơn cả bạn.
Hãy nhớ, ôm thật chặt người ngồi kế bên bởi vì đó chính là kho báu duy nhất của con tim và nó không tốn một xu.
Hãy nhớ, một nụ hôn hay một cái ôm từ sâu thẵm con tim có thể sẽ chữa lành những vết thương.
Hãy dành thời gian để yêu thương, để nói chuyện và để chia sẻ những điều quý giá trong tâm hồn bạn.
Bạn nên nhớ ý nghĩa của cuộc sống không được tính bằng độ dài thời gian, nó chỉ có nghĩa trong khoảnh khắc bạn từ bỏ nó
Kim Luân
(Tuổi Trẻ)
Camap_casau
20-04-2006, 10:16 PM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Hoc_cach_quan_ly_tien.jpgHọc cách quản lý tiền
Tiêu tiền liền tay
Một anh chàng nhận được tháng lương đầu tiên thì phải khao khắp lượt cơ quan, gia đình, bạn bè cho đến đồng lương cuối cùng. Kết cục là một tháng ròng vật vã vì rỗng túi. Một người trẻ khác mỗi lần nhận lương là rủ ngay hội bạn đi shopping, đến vũ trường. Tình cảnh cũng không khác mấy kẻ mới đi làm, luôn ở trong tình trạng thiếu tiền.
Ai cũng muốn hàng tháng có một khoản tiết kiệm nhất định. Sự phát triển xã hội và những mối quan hệ cá nhân đã khiến chúng ta phải chi tiêu nhiều hơn. Theo các nhà nghiên cứu Mỹ thì phần lớn tiền được tiêu vào shopping, giải trí,... Chuyện ăn uống, học hành, chỉ chiếm phần nhỏ trong toàn bộ chi tiêu. Đó lại là những con đường ngắn nhất đưa người trẻ tới chỗ viêm màng túi, bởi shopping bao nhiêu cho đủ!
Quản lý tiền thế nào?
Các nhà khoa học Mỹ khẳng định, 43% những khoản chi của giới trẻ chẳng đem lại lợi ích gì. Tình trạng nợ nần, không có khoản tiền dự phòng cho những tình huống bất ngờ của bản thân và gia đình ngày càng tăng.
Theo website của trường ĐH Melbourne, Ôxtrâylia thì óc phán xét là chìa khoá để quản lý tiền hiệu quả. Phải suy nghĩ thật kỹ trước khi mua hàng, phải biết cái áo, quyển sách sắp mua có thực sự cần cho mình không. Biết nói "không" trước những mặt hàng không có ích cho bản thân hay lời mời đi chơi chỉ làm tốn thời gian.
Chương trình "Tiết kiệm cho tương lai" của Hội đồng giáo dục cách tiết kiệm Mỹ không chỉ giáo dục cho SV tầm quan trọng của việc chi tiêu hợp lý, mà còn hướng dẫn họ những kỹ năng, công cụ cần thiết để quản lý chi tiêu hiệu quả nhất. Tại sao chúng ta không triển khai một chương trình như vậy? Thanh niên VN đang có xu hướng "tiêu trước, trả sau", một xu hướng dễ đưa con người đến chỗ tụt hậu!
Quang Anh
(Young Money)
Camap_casau
20-04-2006, 10:18 PM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Nao_hay_co_gang_vuot_qua_su_lo_lang.jpgNói trước đám đông: chuyện nhỏ!
Phát biểu trước đám đông hay khi bị phỏng vấn đôi khi không phải là chuyện dễ dàng. Mặt đỏ tía tai, người run lẩy bẩy, đổ mồ hôi hột... là những triệu chứng của căn bệnh "ngại tiếp xúc".
Làm thế nào để vượt qua nỗi sợ hãi đó? Những lưu ý sau đây sẽ giúp bạn những kỹ năng cần thiết để bạn có thể khẳng định: Nói trước đám đông chỉ là chuyện nhỏ.
Không ai chờ đợi một bài phát biểu hoàn hảo từ bạn
Đừng bao giờ cố cất công đi tìm một bài phát biểu hoàn hảo vì thực chất không bao giờ có bài phát biểu nào hoàn hảo hết. Vả lại, cũng chẳng ai mong được nghe một bài phát biểu hoàn hảo. Mọi người chỉ quan tâm đến bạn phát biểu điều gì chứ không ai để tâm đến chuyện bạn làm thế nào với bài phát biểu đó cả.
Chính vì bạn cứ loay hoay muốn có một bài phát biểu hoàn hảo mà nhiều khi lại ngăn cản bạn nói với lối diễn đạt đơn giản và trực tiếp vào vấn đề. Điều đó lại càng khiến cho bạn cảm thấy rằng bài phát biểu của mình thất bại và bạn tin rằng người nghe nhận xét không tốt về mình. Sự căng thẳng sẽ làm bạn mất tự tin và hạn chế khả năng của bạn, dẫn đến các hiện tượng như đã thấy ( đỏ mặt, run rẩy…) đồng thời, lấy mất cơ hội để bạn đưa ra những ý tưởng hay.
Chú ý tới các nguyên nhân khiến cho bạn thiếu tự tin trước mặt mọi người
Những lo lắng, sợ hãi này từ đâu mà ra? Một nhà tâm lý học đã khẳng định rằng: Cội nguồn của sự sợ hãi này có rất nhiều, có thể do di truyền, giáo dục, văn hóa, cá tính của từng người... và sự kết hợp giữa chúng nhiều khi không biểu hiện rõ ràng.
Có như thế bạn mới thấy mình mạnh mẽ hơn, bình tĩnh và tự tin hơn khi phát biểu. Bạn có thể học cách xác định rõ ràng các tình huống bạn sẽ gặp phải, phân tích nguyên nhân dẫn đến các vấn đề đó và tìm cách xử lý
Đừng tự hỏi mình "Ta có nên nói thế hay không?"
Bạn phải hình thành trong đầu mạch dẫn của bài phát biểu, chính ý tưởng chủ đạo này sẽ cho bạn những đường đi mạch lạc, những điều bạn cần thông tin đến mọi người. Mạch dẫn sẽ giúp bạn tổ chức bài nói và định trước những câu hỏi mọi người có thể đặt ra cho bạn.
Hãy chú ý tới giọng nói, nhịp thở và tư thế của bạn
Bạn cần phối hợp các yếu tố đó thật nhịp nhàng, chúng sẽ giúp cho bạn phát biểu tự tin hơn. Giọng nói nên nhẹ nhàng vừa đủ nghe, không to quá cũng không nhỏ quá. Cơ thể cần được thả lỏng và đứng ở vị trí thuận lợi. Như vậy bạn sẽ lấy lại được bình tĩnh và tự tin vào bản thân. Có như vậy mới tập trung hoàn hảo vào bài phát biểu của mình mà đối thoại với mọi người.
Chuẩn bị trước nội dung và phong cách cho bài phát biểu
Bạn cần biết sử dụng các kỹ thuật nói, chúng cho phép sắp xếp các trình tự nội dung của bài nói "Bây giờ tôi sẽ đề Cập đến chương 2…" hoặc "bây giờ tôi xin chuyển qua vấn đề…" sẽ làm cho bài nói của bạn mạch lạc hơn.
Nắm lấy tất cả các cơ hội được phát biểu trước mọi người
Nắm vững được phát biểu cũng là một cách để tập luyện. Vì vậy, hãy tranh thủ các cơ hội như trong cuộc họp gia đình, trò chuyện với bạn bè… để tập cho mình cách phát biểu và làm quen với tình huống bất ngờ xảy ra khi mọi người chất vấn bạn.
Và bây giờ tại sao không thử phát biểu một bài trước những người bạn của bạn?
(Sinh viên Việt nam )
Camap_casau
23-04-2006, 03:05 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/Ban_ve_chu_tai.jpgBàn về chữ tài
Có người hỏi M. Xi-ôn-cốp-xki, cha đẻ của ngành hàng không vũ trụ rằng, vì sao con người có thể phát minh được tên lửa, ông hóm hỉnh trả lời: Vì con lợn suốt đời cho chúi đầu xuống máng ăn, con người thì đôi khi biết ngước lên bầu trời. Lại có người hỏi L. Tôn-xtôi, cái gì ẩn giấu trong chồng tác phẩm đồ sộ của ông, L.Tôn-xtôi đáp: 99% lao động và 1% tài năng. Như vậy, khát vọng và ý chí bền bỉ, kiên cường trong lao động quyết định mọi thành công trong hoạt động sáng tạo, mà tài năng chỉ nảy sinh trong lao động sáng tạo.
Đã có thời người ta nghĩ cần cù có thể bù tài năng. Nếu đấy là khẩu hiệu đế khích lệ quần chúng cho một mục tiêu lao động nào đó thì cần thiết, nhưng quả thực hiểu tài năng có thể thay thế bằng sự cần cù thì thật tai hại. Cách hiểu ấy đánh đồng sự cần cù của người có tài với sự cần cù của người bình thường, đánh đồng những sản phẩm trí tuệ chất lượng cao với sản phẩm của những trí tuệ trung bình, đánh đồng lao động của L.Tôn-xtôi với lao động của người nông dân Nga cuối thế kỷ XIX.
Có vô vàn biểu hiện của tài năng nhưng đã là người có tài thì ít nhất họ phải có sự hiểu biết sâu rộng trong lĩnh vực chuyên môn của mình, biết chọn được cách hành động tối ưu và có đủ bản lĩnh, giải pháp thực hiện thành công mục tiêu đặt ra nhanh hơn và hiệu quả hơn những người khác.
Tài năng là khát vọng của nhiều người. Càng hiểu biết nhiều, giao tiếp rộng, khát vọng tài năng càng cháy bỏng. Đây cũng là nguồn gốc biết bao bi kịch trong cuộc đời. Trước hết là bi kịch của những tài năng thật sự. Đó là bi kịch của sự cô đơn. Người có tài thường có những ý tưởng và việc làm táo bạo, mới mẻ bị người xung quanh cho là điên rồ. Khi A. Anh-xtanh công bố Thuyết tương đối, khi Ma-ri Qui-ri tin rằng trong đống quặng bẩn thỉu ở góc phòng cửa bà có nguyên tố phóng xạ ra-đi, khi Men-đen loay hoay với mấy con ruồi dấm để tìm cấu trúc gen di truyền hay có ai đó hôm nay tin rằng ngoài vũ trụ có sự sống... họ đều bị coi là những kẻ lẩm cẩm. Tài năng còn là đối tượng của sự ganh ghét, sự ganh ghét sẽ trở nên nguy hiểm khi kẻ ganh ghét là cấp trên, là những người có thế lực, có tiền bạc hoặc những kẻ đê tiện lại xảo quyệt. Bị vây hãm trong tấm lưới nhện vu khống, kèn cựa, chọc gậy bánh xe... nhiều người trở nên tuyệt vọng, thoái chí bỏ cuộc. Nhiều tài năng đã thui chột bằng con đường ấy.
Thứ hai là bi kịch của sự hoang tưởng. Một số người có tài, đã gặt hái được một vài thành công, họ được tán dương, được cân nhắc, được quần chúng ủng hộ. Như con gà trống ngỡ mặt trời mọc là nhờ tiếng gáy của mình, họ vơ lấy mọi thành tích của tập thể, coi thường sáng kiến cửa người khác, chống lại mọi sự thay đổi trái ý mình. Trong khi người lãnh đạo ngủ say sưa trên giàn kèn đồng, cơ quan hoặc doanh nghiệp của ông ta cứ sa sút dần, tín nhiệm của ông cũ nó sa sút theo. Cứ đà ấy, người tài năng ngày nào dần da sẽ thành một gã huênh hoang và bảo thủ, nỗi lo sợ của mọi tài năng.
Loại bi kịch thường gặp nữa là bi kịch tài năng giả. Có nhiều thủ trưởng thường trang sức bằng những tài năng mà mình không có, họ dùng tiền công và cả tiền riêng mua về những tấm bằng Tiến sĩ, Giáo sư để hù dọa thiên hạ. Họ gắn tên mình vào các công trình, đề án, giải pháp khoa học của cấp dưới. Họ mông má sáng kiến của người khác biến nó thành của mình. Buồn thay, ‘những con quạ đội lốt công’ như vậy không ít đi mà có vẻ ngày càng đông đúc thêm.
Trên một bia đá Văn Miếu có câu Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Hiểu được điều đó và vì điều đó quả không dễ.
Vũ Duy Thông
( Nhà Quản lý )
Camap_casau
23-04-2006, 03:07 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/Biet_tuong_tuong_de_dam_mo_uoc.jpgBiết tưởng tượng để dám mơ ước
Trí tưởng tượng là sức mạnh khiến bạn tiến xa hơn những điều đã biết và chưa biết để sáng tạo ra điều không tưởng của riêng mình. Hoạ sĩ Paul Gauguin đã từng tuyến bố: “Để quan sát tôi nhắm mắt lại”. Thật đáng tiếc khi chúng ta thường hay quan tâm đến những gì hiện có hơn là những gì có thể tồn tại. Theo đó, hãy là một nguời biết tưởng tượng! Hãy chú ý tới trí tưởng tượng, khả năng trực giác, sự sáng suốt, cảm hứng của bạn hay những gì loé lên từ bất kì sự thần thánh nào vì đây chính là những gì tạo lên các giấc mơ. Hãy luôn tỉnh táo và thận trọng với những nốt nhạc nhỏ vì chúng có thể tạo nên một hợp âm khiến bạn sửng sốt. Hãy lắng nghe, giữ chặt lấy chúng và hãy xem cái gì rơi ra ngoài khi bạn lắc chúng.
Sau đó, điều quan trọng nhất bạn hãy nhanh chóng ghi lại nó trước khi nó di chuyển, thay đổi và biến mất không bao giờ trở lại. Ông Francis Bacon phát biểu: “Mỗi người nên có một chiếc bút chì trong túi mình để có thể ghi lại những ý tưởng chỉ xuất hiện trong chốc lát”. Thật là một lời khuyên tuyệt vời vì từ ý tuởng này có thể làm nảy sinh ra ý tưởng khác, lần lượt chúng có thể hỗ trợ, đề cao lẫn nhau và tạo khả năng cho những hành động có thể cụ thể hoá những ý tưởng thành sự thật. Đó là sự kì diệu của nhận thức. Các ý tưởng luôn có một sự cân xứng tuyệt vời. Bạn nắm lấy một ý tưởng bởi vì bạn cần nó và nó cũng cần bạn. Hãy nhớ kĩ điều này và lúc nào cũng nên có một quyển sổ cầm tay, một tập giấy, một người lập kế hoạch hàng ngày … một băng cát xét siêu nhỏ, máy quay kĩ thuật số hoặc một máy truyền văn bản.
Bởi vì ý tưởng là những điều rất nhẹ. Chúng có thể biến mất dễ dàng như khi chúng xuất hiện vậy và sẽ không bao giờ quay trở lại. Những gì làm bạn phấn chấn và kích thích bạn có thể sẽ chỉ xuất hiện trong chốc lát và biến mất rất nhanh nếu như bạn không hành động ngay. Hãy tin vào điều đó khi chúa trời bằng tất cả sự thông minh của mình đã ban tặng cho bạn một sự bộc lộc sáng tạo, đừng để nó biến mất. Hãy ghi lại trước khi nó rời bạn.
Rolling Stone và tay hát nhạc rock thần thánh Keith Richards đã viết những đoạn gitar nổi tiếng bất hủ cho bài “Sastisfaction” khi thức dậy vào lúc nủa đêm ở một khách sạn. Chiều hôm sau khi ra khỏi giường rocker này đã hoàn toàn quên mất rằng mình đã sáng tác một bài hát cho đến khi dùng máy ghi âm vào cuối ngày nghe thấy bản thân mình nhẩm theo giai điệu của rock kinh điển lúc đó.
Hãy là một người biết suy nghĩ
Vấn đề chủ yếu được đề cập ở đây là ngay kể cả khi bạn có một trí nhớ tốt đến đâu nhưng khi ghi lại những ý tưởng bạn sẽ tạo ra sự hiện hữu của chúng với một hình dạng cụ thể.
Đây là điều cốt yếu, bạn có thể cảm nhận được những ý tưỏng, thấy được khả năng tiềm tàng của chúng sau đó hãy quay trở lại với các ý tuởng, xem xét và cân nhắc chúng nếu thấy chúng kích thích và làm bạn có những ý kiến và mục đích tích cực. Bởi vì qua thời gian một số ý tưởng sẽ được củng cố trong khi một số khác còn lại như những điều kì diệu cho lần sau và sau nữa.
Hãy luôn giữ một quyển sổ ghi lại những ý tuởng. Một quyển sổ ghi lại những ý tưởng là công cụ cực kì hữu ích để giúp bạn trong việc xây dựng nền tảng và hình thành việc hiện thực hoá những giấc mơ của mình. Đây có là một lời khuyên quan trọng vì trong các bảo tàng, trường đại học, các bộ sưu tập cá nhân trên toàn thế giới, hay ở các nhà trưng bày những ý tưởng của Archimedes, Michelangelo, Leonardo da Vinci, Copernicus, Picasso, anh em nhà Wright Einstein, có rất nhiều những ý tưởng không tên được trình bày. Sự thật được biết là có tồn tại những ý tưởng lớn xuất hiện do may mắn, hoặc do học thức đã được trau dồi chúng được viết ra từ những bài viết trong những kì thi tốt nghiệp đầy sáng tạo. Những bằng chứng xác thực bảo đảm rằng chúng không hề mất đi giữa sự ồn ào của cuộc sống. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi ngay từ năm 1978 trường đại học Smithsonian và Rutgers đã nỗ lực lực lưu trữ được khoảng hơn 5 triệu trang gồm các ý tưởng, ghi chú và một số trang Thomas Edison bỏ lại. Thật may mắn cho một thế giới quá lơ đễnh của chúng ta, Edison biết rằng một đầu óc nhạy bén xứng đáng với một chiếc bút chì nhọn.
Do đó khi bạn may mắn xuất hiện ý tưởng, hãy ghi nó lại. Đó là lời khuyên cơ bản tốt nhất để có thể thực hiện những ước mơ của mình. Luôn có một quyển sổ ghi lại những ý tưởng là điều rất quan trọng để kết hợp giữa hành động và phản ứng. Khi một Bill Gates đầy đam mê bắt đầu có những ý tuởng về các phần mềm mà đã xoay chuyển cả thế giới, ông đã nhanh chóng ghi lại chúng ra giấy bằng một chiếc bút chì, ghi lại những nỗ lực tuyệt vời của mình và tạo ra số phận. William Wordsworth phát biểu: “Hãy ghi lại những ý tưởng bằng tất cả những nhiệt huyết của bạn”. Hãy hình thành cho ý tưởng của bạn một sự hiện diện rõ ràng là bước đầu tiên trong việc xem xét những gì cần xem xét, hãy biến nó từ một sự loé sáng của sức mạnh tinh thần thành sức mạnh thể chất. Bạn sẽ thấy chúng thật đáng ngạc nhiên, thu hút, làm bạn hài lòng và hoàn toàn xây dựng niềm tin cho mình khi bạn bắt đầu nghiên cứu tài liệu và theo dõi những ý tưởng tốt mà bạn có. Tưởng tượng những gì có thật, những ý tuởng xuất phát từ một cách suy nghĩ mới. Và hãy biết tin tuởng!
Camap_casau
23-04-2006, 03:09 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/Duy_tri_su_sang_suot_trong_cong_vie.jpgDuy trì sự sáng suốt trong công việc
- Luôn có những giây phút nghỉ ngơi trong ngày, nó giúp đầu óc bạn sáng suốt hơn và giảm bớt áp lực. Có những cách cực kỳ đơn giản như đi lấy một ly nước mát để uống cũng có thể mang lại hiệu quả mà bạn không ngờ tới.
- Đăng ký tham dự những lớp thể dục thư giãn vào buổi trưa hay sau giờ làm việc. Đó là một cách giúp bạn “đổi gió”.
- Để một ngày làm việc trở nên trôi chảy, cố thực hiện theo các bước: tập trung những phần việc khó khăn phức tạp nhất vào buổi sáng là lúc mà bạn sung sức nhất, và giảm dần cường độ vào cuối ngày khi cơ thể bạn đã cảm thấy mệt mỏi.
- Thử nghe nhạc, đặc biệt là những âm thanh thiên nhiên như tiếng sóng vỗ, tiếng chim hót để thư giãn. Nếu đang giờ làm việc thì có thể sử dụng tai nghe.
- Trong một tuần bạn thử đi làm sớm hơn hoặc ở lại công ty trễ hơn một lần, như vậy bạn có thể làm thêm được một số việc khi thay đổi giờ giấc thường lệ.
- Thường xuyên nhìn lại công việc của mình, khẳng định những khả năng và lợi thế mình có để luôn thấy mình đang thăng tiến trong nghề nghiệp. Điều này cũng khiến cấp trên luôn ghi nhận, đánh giá đúng năng lực của bạn.
- Không để những lời đồn thổi (thường là những tin xấu) trong công ty ảnh hưởng đến bạn. Một đồng nghiệp nào đó có thể đang làm lớn lên một chuyện nhỏ “như con thỏ” mà thôi.
- Nếu khung cảnh nơi bàn làm việc của bạn khô khan quá, có thể trang điểm bằng những vật dụng, đồ trang trí bạn thích. Một con mèo hay một chú chó nhồi bông có thể giúp bạn trở nên thư thái khá nhiều đấy.
(Tuổi trẻ)
Camap_casau
24-04-2006, 02:15 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Co_rui_ro_moi_thanh_dat.jpgCó rủi ro mới thành đạt
Can đảm, biết chấp nhận rủi ro và mạo hiểm là những đức tính vô cùng cần thiết cho những người có tham vọng trở thành một doanh nhân thành đạt, trong một thế giới đầy thử thách và biến động như ngày nay.
Nếu bạn còn cảm thấy chùn bước trước sự mạo hiểm, hãy thử làm theo 5 lời mách nhỏ dưới đây. Có thể chúng sẽ giúp bạn khơi dậy trong mình ý chí dám xông lên và giành thắng lợi.
1. Biết ước mơ và theo đuổi đến cùng
Biết ước mơ là một điều đáng quý, nhưng biết theo đuổi ước mơ đó mới thực sự đem lại cho ta thành công trong đường đời. Hãy đừng để ai cướp đi ước mơ của mình một cách phi lý và đáng tiếc. Chắc hẳn bạn đã từng gặp những bậc "lão làng" từng trải trong nghề, kinh nghiệm đầy mình. Lúc nào họ cũng có thể đưa ra hàng trăm ngàn lý do khuyên bạn không nên làm một công việc mà bạn đang định thực hiện. Những dự định tốt đẹp trở nên tiêu tan khi những bậc "tiền bối" đưa ra những lời khuyên chân tình: đã từng có những người thực hiện công việc đó và gặp thất bại thảm hại; tiến hành dự định đó chỉ tốn thời gian và công sức một cách vô ích.
Giám đốc một công ty in ấn lớn ở Mỹ nhớ lại lần trò chuyện với một cô kế toán trong công ty. Ước mơ của cô ta là trở thành kế toán trưởng hoặc có thể mở công ty riêng. Mặc dù chưa tốt nghiệp trung học, tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ, nhưng cô ta vẫn quyết tâm thực hiện ước mơ của mình. Ông giám đốc đã cảnh tỉnh cô: "Đúng là cô có kĩ năng làm kế toán rất tốt, nhưng với trình độ học vấn của cô, theo tôi nên có cái nhìn thực tế hơn". Tức trí vì câu nói này, cô kế toán lập tức xin bỏ việc và theo đuổi ước mơ của mình. Cô thành lập một dịch vụ kế toán mà đối tác là chủ của những công ty nhỏ, họ sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Giờ đây, cô đã là chủ của 5 văn phòng kế toán có uy tín ở Mỹ.
Thực ra, không ai có thể biết được hết khả năng của người khác. Đặc biệt khi những khả năng đó được chắp cánh bởi niềm đam mê và những ước mơ cháy bỏng, nó giúp họ không chùn bước trước những khó khăn, trở ngại.
Balbala Glogan, Chủ tịch một công ty xây dựng và tư vấn, khuyến cáo: "Điều quan trọng nhất đối với bạn khi khởi đầu một công việc là đừng để những người khác đánh cắp mất ước mơ của mình. Thế giới đầy rẫy những kẻ bi quan và nhụt chí. Họ có nhiều kinh nghiệm và sẵn sàng chia sẻ, nhưng những kinh nghiệm đó chỉ làm cho ta trở nên giống họ. Bạn hãy chỉ nên tin tưởng vào khả năng của mình và biến những ước mơ thành hiện thực".
2. Chớ nóng vội, hãy làm từng bước!
Ông Robent J.Rriegel, huấn luyện viên trượt tuyết đã nhận ra những giá trị quý báu từ kinh nghiệm dạy mọi người tập trượt trên những đoạn dốc khó. Khi đến bên dốc, học viên thường nhìn xuống, dán mắt nhìn theo các hố tuyết nối dài tới cuối chân núi. Vì thế họ cảm thấy sợ, không dám lao xuống. Để giúp học viên, Robent khuyên họ chỉ nên nhìn hố tuyết trong tầm mắt, không nên nhìn xuống tới chân núi. Vượt qua hết hố tuyết này rồi đến hố khác. Cứ như vậy mọi chuyện sẽ trở nên dễ dàng. Và lời chỉ dẫn tỏ ra hiệu quả. Học viên đã chỉ tập trung vào cái mà họ có thể làm được trước mắt: vượt qua những hố tuyết nhỏ để rồi chinh phục cả một đoạn dốc núi cheo leo. Tương tự như vậy, khi bắt tay vào việc, bạn đừng nên tập trung vào toàn bộ công việc. Hãy chia nó thành những công đoạn nhỏ, rồi thực hiện từng bước một. Sau khi hoàn thành một công đoạn, bạn sẽ có thêm say mê trong công việc và vững tin vào thành công.
3. Đừng bao giờ nói "không"
Đôi lúc, khi đối mặt với một tình huống mới người ta thường bỏ quá nhiều thời gian và công sức để đề phòng tình huống xấu xảy ra. Có lần, một nữ luật sư trẻ tuổi tỏ ra lo lắng và hồi hộp. Cô ta không biết nên hành động ra sao trong phiên tòa đầu tiên của mình. Một người hỏi cô đã tạo ấn tượng gì với các thành viên bồi thẩm. Cô ta trả lời: "Tôi không muốn tỏ ra thiếu kinh nghiệm, quá trẻ hoặc còn ít từng trải. Tôi không muốn họ nghi ngờ rằng đây là phiên tòa đầu tiên của tôi".
Cô luật sư đã rơi vào cái bẫy của những ý nghĩ bi quan. Điệp khúc "không" lặp đi lặp lại là một dạng của việc đặt mục tiêu sai lầm. Những từ "không" sẽ làm bạn cảm thấy tự bằng lòng và chệch hướng. Khoa học đã chứng minh rằng hình ảnh hiện lên trong não sẽ tác động lên hệ thống thần kinh, khiến ta sẽ hành động đúng như trong suy nghĩ. Ví dụ như khi một người chơi golf tự nhủ: "Đừng đánh bóng xuống nước''. Hình ảnh quả bóng rơi xuống nước sẽ hiện lên trong đầu anh ta. Khi anh ta thực hiện cú đánh, quả bóng sẽ lăn xuống nước thật.
Vì thế, trước khi đối mặt với một tình huống căng thẳng, bạn hãy tập trung suy nghĩ tới những điều bạn muốn, chứ không phải là những điều bạn không muốn. Sau đó, cô luật sư nói: "Tôi muốn mình tỏ ra lành nghề và tự tin". Cô ta suy nghĩ về diễn biến của phiên tòa sắp tới. Cô nói: "Tôi sẽ đi lại một cách tự tin trong phòng xét xử. Tự tin trong ánh mắt khi nhìn nhân chứng và bồi thẩm đoàn; tự tin trong lời nói và cử chỉ khi diễn thuyết". Cô ta cũng liên tưởng tới hình ảnh chiến thắng trong phiên tòa. Kết quả thật đúng như mong muốn. Vài tuần sau, cô đã thắng trong phiên tòa đầu tiên của mình.
4. Đặt những nguyên tắc cho riêng mình
Phần lớn những người thành đạt thường có cách suy nghĩ vượt ra khỏi những quy phạm thông thường. Thay vì "xào nấu" lại những công thức cũ kỹ, họ sáng tạo nên những điều mới lạ. Khi được tham gia đội tuyển trượt tuyết quốc gia Pháp vào đầu những năm 60, Jean - Claude Killy đã hạ quyết tâm phải luyện tập hết sức mình để trở thành người giỏi nhất. Sáng tinh mơ, anh đã thức dậy và chạy lên những dốc núi với đôi bàn trượt. Tối đến, anh tập cử tạ, chạy, làm mọi việc để có thể đạt phong độ tốt nhất. Nhưng rồi Killy chợt nhận ra rằng luyện tập không thôi vẫn là chưa đủ. Anh bắt đầu nghĩ tới việc thay đổi kỹ thuật trượt để rút ngắn thành tích.
Sau hàng tuần thử nghiệm, anh đã thành công với kỹ thuật trượt mới. Nó dường như đối ngược hoàn toàn với kỹ thuật truyền thống. Lối sử dụng que trượt của Killy cũng khác lạ. Nhờ có những kĩ thuật mới này, thành tích của anh được rút ngắn đáng kể. Vào hai năm 1996 - 1997, Killy đã giành được dường như trọn vẹn các danh hiệu cao quý nhất trong làng trượt tuyết tốc độ. Năm 1998, anh giành 3 huy chương vàng tại Đại hội Olympic mùa đông, một kỷ lục vẫn chưa ai phá nổi. Điều mà Killy đúc rút cũng chính là bí quyết của những người thành đạt: sự sáng tạo không đòi hỏi tố chất thiên tài.
5. Biết rút ra bài học từ sai lầm bản thân
Dù bạn có chuẩn bị kỹ lưỡng đến đâu, một điều chắc chắn là khi bắt tay vào công việc mới, bạn sẽ phạm sai lầm. Vấn đề không phải ở đó, mà là bạn có đúc rút được gì sau những sai sót đó không. Valter Wriston, cựu Chủ tịch Hãng Citicorp danh tiếng, đã nói: "Mắc lỗi không phải là điều đáng xấu hổ. Đáng xấu hổ là không rút ra được bài học từ những sai lầm đó".
Khi Jim Burke trở thành trưởng phòng quản lý sản phẩm mới của hãng Johnson & Johnson, một trong những dự án của anh ta là phát triển sản phẩm phấn xoa ngực cho trẻ em. Sản phẩm bán không chạy, dự án bị sụp đổ hoàn toàn. Jim Burke chờ đợi điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra với anh. Nhưng khi gặp Chủ tịch Hãng, Jim đã ngạc nhiên trước sự đón tiếp nồng hậu. "Có phải anh chính là người vừa tiêu tốn của công ty một lượng tiền lớn đó không?'' - Chủ tịch Robert Wood Johnson hỏi và nói tiếp: "Tôi lại muốn chúc mừng anh . Việc anh phạm sai lầm chứng tỏ anh dám mạo hiểm. Chúng ta không thể phát triển nếu không mạo hiểm". Vài năm sau, Jim Burke trở thành người kế vị xứng đáng của Robert. Anh ta vẫn thường nhắc lại câu nói đó với nhân viên của mình.
Camap_casau
24-04-2006, 02:17 AM
14 bí quyết để luôn chiến thắng trong các cuộc tranh luận
Cách tốt nhất để tránh một cuộc tranh luận là đừng để nó xảy ra. Tuy nhiên điều này là rất khó, và nếu bạn thường xuyên né tránh các cuộc tranh luận thì mọi người có thể cho rằng bạn yếu kém về năng lực và không dám tin vào những giá trị của riêng mình đồng thời không có quan điểm riêng vì thế hãy lựa chọn và tham gia các cuộc tranh luận mà bạn cho là thực sự có ích. Hãy phát huy tối đa năng lực của bạn sao cho cuộc tranh luận sẽ không rơi vào một cuộc kịch chiến không có kết quả.
1. Tôn trọng ý kiến của người khác
Mỗi người có những niềm tin khác nhau, và bạn đừng bao giờ coi thường niềm tin của những người bất đồng ý kiến với bạn. Đừng bao giờ vội quy kết họ là sai, cho dù nếu trên thực tế có đúng là như vậy đi chăng nữa. Bạn cần nhớ rằng bạn không phải là người canh gác cho khẩu hiệu "Tất cả những gì tôi biết là đúng". Bạn cũng có thể là người có những nhận xét chưa đúng lắm chứ.
2. Đặt mình vào hoàn cảnh người khác
Bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu kẻ khác ném những luận điệu hắn ta khăng khăng cho là đúng vào mặt mình? Bạn nên bình tĩnh diễn đạt sự không thống nhất của bạn một cách nhẹ nhàng, và nhấn mạnh rằng ý kiến của bạn xuất phát từ những góc độ khác với họ.
3. Thừa nhận sai lầm
Ngay từ khi bạn nhận ra sai lầm, đừng chần chừ một phút nào mà hãy thừa nhận sai lầm của mình ngay lập tức. Bạn sẽ thấy ngay hiệu quả của sự thẳng thắn dám nhận sai lầm của mình ngay tức thì: Người kia không chỉ tôn trọng bạn hơn hẳn mà còn rất coi trọng ý kiến của bạn hơn trong tất cả các lần tranh luận sau. Hơn nữa, đối phương cũng sẽ nghĩ rằng về sau này, nếu anh ta sai lầm thì bạn cũng sẽ rất dễ dàng chấp nhận điều đó và bỏ qua cho anh ta. Mọi người thường có những so sánh liên tưởng kiểu như vậy, và ai cũng thích những người hùng rộng lượng.
4. Khởi động một cách nhẹ nhàng
Tất cả những cuộc tranh luận bắt đầu từ khi một người đưa ra những đòi hỏi về người khác, chẳng hạn như ông chủ yêu cầu nhân viên phải làm một nhiệm vụ gì đó theo cách của ông ta mà người nhân viên này lại cho rằng điều đó phương hại đến lợi ích của mình. Vì thế khi mở đầu một cuộc tranh luận bằng giọng điệu nhẹ nhàng, điềm tĩnh và tự kiểm soát được giọng nói, bạn sẽ khiến đối phương không cảm thấy bị tấn công để họ vẫn cảm thấy thoải mái. Mọi người đều có bản năng tự vệ, vì thế nếu bạn bắt đầu cuộc tranh luận một cách gay gắt thì chỉ càng làm cho bản năng tự vệ của họ được tăng cường mạnh hơn mà thôi. Sự duyên dáng và nhẹ nhàng sẽ làm cho đối phương cảm thấy không thể sử dụng thái độ căng thẳng và công kích với bạn.
5. Hãy dẫn dắt đối phương đồng ý với một trong các quan điểm của bạn
Cho dù chủ đề đó là gì đi chăng nữa hay nó có nhỏ nhặt đến đâu, hãy cố gắng tìm ra một quan điểm của bạn. Đây là một kỹ năng nhỏ nhưng cực kỳ hiệu nghiệm. Mục tiêu của nó là làm cho đối phương thay đổi quan điểm rằng bạn là đối thủ của anh ta, và vì thế bạn cần anh ta nhẩy vào chung chiến hào của mình. Bằng cách đồng ý với bạn, ngay cả với những sự thật hiển nhiên như giá của một loại xe ô tô nào đó đang bị định giá quá cao chẳng hạn, bạn sẽ đem lại cho đối phương cảm giác rằng cả bạn và anh ta đều có thể có những suy nghĩ giống nhau. Đây là một kỹ thuật mang tính tâm lý và thường được những nhà tiếp thị từ xa vận dụng thường xuyên. Nếu nó là kỹ năng đem lại miếng cơm manh áo cho họ thì cớ gì bạn không tận dụng ưu điểm của nó chứ?
6. Hãy để họ có cơ hội lên tiếng
Trong một cuộc tranh luận, hãy cố gắng lắng nghe. Làm sao mà bạn có thể chiến thắng nếu bạn cứ thao thao bất tuyệt và không cho người khác cơ hội được diễn đạt quan điểm của mình và được chia sẻ. Bạn hãy cố gắng nói nhiều hơn một chút. Như vậy là bạn đã cho họ một ân huệ, và họ sẽ cảm kích về cái sự “rộng lượng” này của bạn. Điều này giống như là bạn hẹn gặp một người phụ nữ, sau đó để cho cô ta thao thao bất tuyệt liên tục trong 2 giờ liền còn bạn chỉ chăm chú lắng nghe và gật đầu tán thưởng. Kết quả là gì nhỉ? Kết thúc cuộc hẹn, cô ta sẽ đứng lên và ca ngợi bạn hết lời đồng thời cảm ơn bạn vì thời gian tuyềt vời vừa rồi. Chuyện tương tự cũng sẽ diễn ra trong một cuộc tranh luận. Thêm vào đó, khi họ càng nói nhiều thì họ càng có nhiều sơ hở. Vì thế hãy lắng nghe, hãy tìm ra sự thực trong những tranh luận và đưa ra quan điểm thuyết phục của mình.
7. Đó không phải là ý kiến của bạn mà là của mọi người
Đây là một trong những kỹ năng cực kỳ hiệu nghiệm. Để dẫn dắt một cuộc tranh luận, bạn hãy tìm cách đưa đẩy cuộc đối thoại sao cho đối phương của bạn sẽ cảm thấy rằng những điều mà bạn muốn họ làm chính là ý tưởng của họ chứ không phải sự áp đặt của bạn. Có thể bạn sẽ phải hy sinh là khi công việc hoàn tất thì người đó sẽ nghĩ rằng đó là do ý tưởng của anh ta đúng. Tuy nhiên đây chỉ là một sự đánh đổi nhỏ bé với cái mà bạn đạt được là sự hoàn tất công việc và sự tâm phục khẩu phục của đối phương. Đó mới chính là điều cốt yếu nhất. Để đạt được điều này, bạn hãy nuôi dưỡng cho cuộc tranh luận tiến dần đến một kết quả tất yếu. Sau đó, bạn hãy để cho đối phương tự rơi vào trận địa bạn sắp đặt, hãy đưa ra kết luận trên cơ sở các ý tưởng của họ.
8. Hãy là người cởi mở và chân thành
Bạn không những phải hiểu rằng mọi người có những quan điểm khác nhau mà bạn cần phải đi xa hơn bằng cách cố gắng hiểu nguyên nhân dẫn đến những thái độ này. Vì thế hãy chân thành hỏi mọi người để hiểu rõ vì sao họ có những quan điểm như vậy? Vì tất cả mọi người chúng ta đều có thể mắc sai lầm nên bạn cũng cần rộng lượng cho rằng đối phương sai lầm là điều đương nhiên. Hãy hiểu rõ họ và từ đó đề xuất quan điểm của mình.
9. Cảm thông với những mong muốn của đối phương
Hãy luôn nhớ rằng trong lúc bạn mong muốn một điều gì đó từ phía đối phương thì đối phương cũng có những mong muốn tương tự bạn. Mọi người đều có những mong muốn của riêng mình. Họ đến công sở để có đồng lương,họ đến câu lạc bộ tập thể dục để trở thành hấp dẫn hơn; ai cũng có kế hoạch thực hiện các mong muốn của mình. Nhận ra điều này, bạn có thể đưa nó vào cuộc tranh luận. Hãy đi tới điểm tranh luận rằng có những khả năng sẽ có lợi cho cả hai đem lại tình thế thắng - thắng cho cả hai chứ không phải thắng thua, tức nhất định phải có kẻ thua người thắng. Hãy tìm cách chứng minh rằng nếu làm theo cách của bạn, cả hai sẽ cùng có lợi.
10. Hãy thẳng thắn
Bởi vì người ta đã chứng minh rằng những kẻ lạnh lùng nhất cũng có tâm tư riêng của mình. Vì thế hãy đưa ra các lý do về đạo đức và nhân bản khi lý giải quan điểm của mình. Ai cũng có lòng hướng thiện của mình và không ai muốn làm những điều phi đạo đức cả. Chẳng hạn nếu bạn là nhà quản trị, khi thương lượng giảm lương của một người hãy lưu ý rằng điều này là bạn không mong muốn nhưng tình hình công ty đang khó khăn và sự giảm lương của một người có thể giúp cho công ty không thể sa thải thêm nhiều người khác kể cả những người có hoàn cảnh khó khăn. Ai mà chẳng muốn giúp đỡ người khác cơ chứ bạn có đồng ý không nào?
11. Thiết lập các luận cứ vững chắc
Hãy củng cố các lập luận của bạn, đưa vào các con số và sự kiện để tăng tính thuyết phục. Đưa ra các ví dụ cụ thể và thực tiễn để minh hoạ cho quan điển của bạn. Nếu bản thân lập luận bạn về một khoa học là hợp lý và đúng đắn thì chắc là mọi người chẳng ai muốn phản đối. Hãy cố gắng sử dụng các minh hoạ nhìn thấy được vì chúng thường là thứ mà không ai có thể phản bác.
12. Đưa ra các thách thức
Về mặt di truyền nam giới thường tự kiêu và không muốn người khác nói với mình rằng có những điều họ không thể làm được. Họ lúc nào cũng mong muốn chứng minh tính cách đàn ông của họ bằng cách này vì thế hãy biết cách kích thích họ tự nói về mình. Chẳng hạn có thể nói thế này: “Mọi người ở phòng bên nói là cậu có thể tăng doanh số lên chừng 25%. Tuy nhiên cá nhân tôi thì tôi thấy khó có thể như vậy, nhưng không hiểu cậu nghĩ sao”. Thế rồi bạn chỉ việc ngồi đó và nghe đối phương hăng say diễn giải kế hoạch của mình. Điều cần lưu ý là hãy tìm cách thực hiện điều này khéo léo, tránh gây nghi ngờ.
13. Hãy tỏ ra lạnh nhạt
Một cuộc tranh luận thường làm nóng lên bầu không khí đối thoại. Một số cuộc tranh luận thường nảy sinh các xúc cảm không thể kìm nén và các xúc cảm này sẽ dễ dàng bị bộc lộ. Vì thế, bạn hãy cố gắng giữ vững sự bình tâm và không để cho cảm xúc lấn át các luận điểm của mình. Bạn có thể tỏ ra cứng rắn và kiên quyết trong quan điểm của mình, nhưng hãy cố uốn lưỡi vài lần trước khi nói. Trò chơi này giúp bạn kiểm soát các cảm xúc, không để chúng bùng phát ra cùng với cuộc tranh luận. Hãy tỏ ra là người chuyên nghiệp và bám vào sự kiện và con số chứ không phải cảm xúc và đối phương sẽ phục bạn ngay.
14. Hãy biết dừng lại đúng lúc
Đây là điểm cuối cùng mà bạn cần chú ý, khi đã cảm thấy đạt được mục đích hoặc khi nhận cuộc tranh luận bắt đầu vô bổ và đi quá xa làm sứt mẻ các quan hệ khác, hãy khôn ngoan là người chủ động chấm dứt cuộc tranh luận này. Song biết cách dừng lại đúng lúc là điều những người khôn ngoan cần phải học và nắm vững. Đây là 14 bí quyết quan trọng giúp bạn chiến thắng trong các cuộc tranh luận. Hãy biến các cuộc tranh luận thành những cuộc trao đổi thú vị, có tinh thần xây dựng, giúp các bên hiểu nhau hơn và cùng nhau thực hiện những mục tiêu chung.
Nắm vững 14 bí quyết quan trọng trong các cuộc tranh luận, bạn sẽ gạt ra ngoài những bất đồng, xây dựng niềm tin trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau và cùng hướng tới mục tiêu kinh doanh chung.
Camap_casau
24-04-2006, 02:19 AM
Nghệ thuật sống hay sống nghệ thuật?
Trong cuộc sống hàng ngày, việc cư xử với nhau sao cho khéo léo, tế nhị là rất cần thiết. Tuy nhiên, có những người lại “cư xử” quá khéo léo , đến mức trở thành “nghệ thuật”.
Thậm chí họ không bao giờ làm mất lòng ai chỉ để đạt được mục đích của mình, hoặc đơn giản chỉ là để được yên thân.
M là một cô gái xinh đẹ, trẻ hơn rất nhiều so với tuổi 24 bởi khuôn mặt rất “trong sáng và ngây thơ”. Biết được lợi thế ấy, M luôn cố tạo cho dáng điệu, ánh mắt của mình cái vẻ “ngơ ngác” của một chú nai tơ. Chính vì thế, cô có rất nhiều anh chàng theo đuổi. Cô đã chọn… 2 chàng trong số những người đó để yêu. Hai chàng: một chàng ở Hà Nội còn một anh thì ở cách Hà Nội khoảng 50 cây số nên chưa bao giờ họ chạm mặt nhau. Cũng chính vì thế mà cả hai chàng ai cũng tin rằng mình là một và chỉ là “duy nhất” của M. Họ ra sức chăm lo cho M từng li từng tí một.
M bảo: “Yêu là yêu vậy thôi chứ chắc gì nó đã cưới mình nên phải bắt cá hai tay cho chắc ăn!”. Ai gặp M lần đầu tiên cũng thấy cô thật hồn nhiên, thậm chí còn “chê” cô trẻ con quá. Nhưng cô đốp lại ngay: “Bên ngoài là thỏ non, nhưng bên trong phải là cáo!”. M đọc rất nhiều sách báo dạy về “nghệ thuật sống”. Và cô đã “áp dụng” được như thế này:
Lớp tổ chức lao động công ích, M xuât hiện lăng xăng rất nhiều trước mặt mọi người nên được nhìn nhận là “tích cực và hăng hái”. Nhưng, một số bạn tinh ý lại bảo rằng M chẳng làm được tích sự gì cả. Gia đình chủ nhà, nơi M ở trọ tổ chức đám cưới cho con. Cô sang bên đó làm giúp. Chỗ nào cô cũng chạy đến và bảo “để cháu giúp cho”. Nhưng kì thực, cô chỉ ngồi đó với những động tác rất chậm chạp và uể oải. Hôm sau, xong công việc, bà chủ lên tận phòng cảm ơn chị em cô và không quên mang theo một túi hoa quả to. Nhận quà, M nháy mắt với em mình: “Thấy chưa! Lần sau cứ thế nhé! Đi làm giúp ai thì đi nhưng đừng có làm hùng hục như trâu húc mả. Chỉ cần xuất hiện thật nhiều trước mắt mọi người là được!”.
Những lúc M và một trong hai chàng của cô đi chơi, cô thường giả bộ như “vô tình” quên không sắm vài thứ nên rủ chàng “thử tạt vào siêu thị cùng em xem có mua được thứ gì không”. Cô đóng kịch rất khéo nên chàng nào cũng vui vẻ, thậm chí hãnh diện vì được dịp hào phóng trả tiền cho người đẹp.
Năm nay M bắt đầu đi làm. Đến cơ quan mới, cô vận dụng tất cả những kiến thức về “nghệ thuật sống” đã học hỏi được để “điều chỉnh các mối quan hệ một cách hài hoà”. Ai cô cũng không ngần ngại ban phát lời khen. Cơ quan có những chuyện không được tốt lắm và cần mọi người đóng góp ý kiến để xây dựng. Mọi người cãi nhau, tranh luận nhau gay gắt, nhưng cô chỉ nói vuốt đuôi theo mọi người thôi. Nếu có ý kiến thì cũng chỉ “trớt” qua và không đụng chạm, không làm ảnh hưởng đến ai cả. Vì vậy, cô luôn được yên ổn.
Lối sống nghệ thuật hình như rất được giới trẻ tán thành và tích cực học tập lẫn nhau. Không chỉ con gái mới biết “sống nghệ thuật” mà các chàng trai cũng thế. Trên báo chí ngày nào chẳng có những câu chuyện lừa tình của những chàng họ “Sở”. Có người biết rõ hoàn cảnh của chàng, thậm chí biết rất rõ rằng chàng đã có vợ và mình không bao giờ có thể bước vào cuộc đời chàng mà vẫn yêu, không dứt được ra khỏi chàng mới khổ chứ!
Một anh bạn tôi nổi tiếng về “sở trường” thay người yêu như thay áo đã rỉ tai tôi thế này: Càng giả vờ thật thà, các em càng dễ “chết”. Vì thế, mỗi lần đi cưa một đối tượng mới, tớ đều tỏ vẻ rất chân thật, không hề giấu giếm chuyện cũ của mình. Tất nhiên, cô gái nào mà chẳng xúc động khi gặp được một người “chân thành” như thế. Thế là các em “đổ” thôi. Nhưng các cô đâu biết rằng đó chính là “bài” mà tớ thường đem ra áp dụng với nhiều cô gái khác. Cậu bạn còn nói thêm: “Thật thà” cũng là một “nghệ thuật” đánh gục đối tượng.
“Nghệ thuật” trên con đường chinh phục đã là cao tay, nghệ thuật “rút lui” còn cao tay hơn. H, cô bạn của tôi đã từng khóc rưng rức khi người yêu ra trường và nói lời chia tay: “Anh ấy bảo anh ấy rất muốn cưới tớ làm vợ, nhưng còn công việc, còn gia đình nên đành phải chia tay. Hãy thông cảm cho anh ấy. Anh ấy bảo, dù không lấy được nhau nhưng vẫn yêu tớ. Cậu thử nghĩ xem, đã nói thế thì tớ còn trách gì được anh ấy nữa!”
Còn nhiều những câu chuyện về “nghệ thuật sống” của các chàng, các nàng nữa, nhưng tôi không thể kể hết ra đây được. Nếu để ý trong cuộc sống hàng ngày, các bạn sẽ gặp rất nhiều những gương mặt như thế. Không biết các bạn nghĩ gì, nhưng tôi không tán thành kiểu sống không thật lòng mình như vậy.
Thảo Hương
(Tuổi trẻ)
Camap_casau
24-04-2006, 02:20 AM
Nghĩ ngược?
Nhiều SV tỏ ra mệt mỏi với cách giảng dạy, truyền thụ kiến thức của giảng viên. Cách học đối phó, cách trả bài đầy tính khuôn mẫu, lên lớp thầy nói cứ nói, trò ghi cứ ghi... Bản thân Minh cũng bảo chính cách dạy và học ấy mà câu nói “đại học là tự học” càng có ý nghĩa. Quả thật Minh đã chứng minh được là mình có khả năng tự học tốt.
Bạn bè ra trường rồi nhìn lại quãng đường đã qua, có người nói với tôi về Minh: “Hóa ra kiểu học thụ động ở đại học lại giúp nó chủ động, tự bồi bổ kiến thức, tự rèn luyện kỹ năng chuyên môn”. Đem chuyện này trao đổi với Minh, Minh cười: “Thì đúng là cứ vứt xuống nước thì người ta phải khắc bơi được thôi. Nhưng điều đó cũng chỉ đúng một phần. Mình coi trọng tự học, tự tìm tòi sáng tạo, nhưng suốt thời SV chưa bao giờ mình thôi ước mơ được tạo mọi điều kiện, được các thầy chỉ bảo những phương pháp tốt.
Mỗi người học có thể tự mày mò thì cũng ra mọi thứ, nhưng giá phải trả về thời gian, về vấp ngã lại rất lớn. Tại sao mọi người lại nghĩ là nếu được tạo mọi điều kiện tốt, được thầy giảng dạy, hướng dẫn tận tình thì tinh thần tự lập bị thui chột mà không phải là anh ta sẽ thành công nhanh hơn và thành công hơn gấp nhiều lần?”.
Chợt tự hỏi, Minh hay các bạn của tôi, ai là người nghĩ ngược đây?
Camap_casau
24-04-2006, 02:22 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Tai_sao-Cau_hoi_thieu_cua_gioi_tre_.jpgTại sao? - Câu hỏi thiếu của giới trẻ Việt
Cách bạn đặt câu hỏi trước một sự vật hiện tượng thể hiện góc độ mà bạn quan tâm về chúng. Việc này cũng xây dựng cho bạn phản xạ trong những tình huống khác nhau.
1. Ai ? Cái gì? Thế nào?
Phan Lan Hương, một người bạn đang du học ở Malaysia đã kể cho tôi nghe một câu chuyện như thế này: Bằng thời gian này năm ngoái, cả thế giới còn đang bàng hoàng vì thảm họa sóng thần ở Đông Nam Á. Lớp Hương đang học được thầy giáo giao cho một bài tập lớn. Mỗi người phải tự chọn cho mình một khía cạnh mình quan tâm về thảm họa vừa qua để tìm tư liệu viết bài.
Hương đã đầu tư rất nhiều công sức cho bài tập đó: lên mạng lấy thông tin, lấy ảnh, trích những đoạn phỏng vấn người dân... Thậm chí cô còn nhờ vài người bạn ở Thái Lan quay tận cảnh bãi biển Phuket sau thảm họa để đưa vào slide cho sinh động.
Công phu sưu tầm, trích dẫn, tác phẩm của Hương đã tường thuật lại rất cảm động và chân thực khung cảnh điêu tàn và không khí tang thương do sóng thần gây ra. Tuy nhiên, khi nhận được điểm cho bài tập, Hương khá thất vọng: chỉ là điểm trung bình.
Trong khi đó, vài người bạn nước ngoài của cô lại đạt điểm khá, mặc dù bài làm không được công phu bằng. Vậy yếu tố quyết định ở đây là gì? Câu trả lời của thầy giáo đã làm Hương, cũng như tôi, người chỉ nghe thuật lại câu chuyện phải giật mình: Khi làm bài tập bạn đã đặt câu hỏi nào?
Hương đặt cho mình câu hỏi “Ai? ở đâu? Như thế nào?” và trả lời bằng một bài viết hoành tráng để miêu tả hiện tại. Trong khi đó, những người bạn nước ngoài lại đặt câu hỏi “Tại sao sóng thần lại gây ra hậu quả thảm khốc đến thế?” và từ nghiên cứu đó rút ra những bài học sau này.
Không thể bàn đến yếu tố chuyên môn, đúng hay sai, trong bài học mà những người bạn nước ngoài đã đề cập đến trong bài viết của họ. Tôi muốn nói đến cách họ nhìn cuộc sống. Cách họ phản ứng với nó.
“Ai? Cái gì? Thế nào?” là câu hỏi dành cho hiện tại. Tất cả chúng ta đều quen với cách hỏi ấy từ rất lâu rồi, đến nỗi nó bật ra như một phản xạ không điều kiện khi có chuyện gì bất ngờ xảy đến.
Những câu hỏi quen thuộc ấy chứng tỏ rằng bạn quan tâm đến những điều đang hiển hiện trước mắt hơn bất cứ gì khác. Trong khi bạn quên mất một điều là, nó mới dừng lại ở mức độ giúp con người nhận thức được sự việc chứ chưa thể dẫn chúng ta đến một giải pháp hay cái gì thiết thực hơn.
Trong khi đó, “Tại sao?” là câu hỏi tưởng như để tìm hiểu quá khứ nhưng thực ra lại thể hiện mối quan tâm đến tương lai. “Tại sao?” mới chính là câu hỏi quan trọng nhất. Nó giúp ta hiểu được mình đã làm gì đúng, và làm gì sai, từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết cho bản thân trong tương lai.
Trả lời được câu hỏi “Tại sao?”, bạn sẽ không bao giờ phạm lại những thiếu sót cũ.
Bạn thường hay đặt câu hỏi nào cho mình? Cuộc sống của bạn sẽ nói lên điều đó. Câu hỏi “Tại sao?” tạo cho bạn một phản xạ nhanh nhạy theo hướng tìm cách giải quyết nhanh nhất cho sự việc mới phát sinh.
Câu hỏi “Ai? ở đâu? Thế nào?” đòi hỏi bạn nhiều thời gian hơn để xác định phương hướng. Trước một đám cháy, người hỏi “Tại sao cháy?” sẽ tìm đến nguồn lửa để dập tắt. Còn người hỏi “Cháy ở đâu? To không?” sẽ còn quan tâm xem có bao nhiêu nhà bị cháy? Đó là cửa hàng nào?... Và đến khi nhận thức được việc mình cần làm thì đã quá muộn.
Trong câu chuyện của Hương, sau khi thảm hoạ xảy ra, điều chúng ta cần quan tâm là làm thế nào để khắc phục hiện tại? Làm sao để lần sau không còn thảm họa như thế xảy ra nữa? Thái độ đó sẽ thực tế hơn nhiều so với việc than khóc cho những điều đã xảy ra, không thể thay đổi được.
Những người Việt Nam đang học tập ở nước ngoài đã công nhận rằng “Tại sao?” là câu hỏi quen thuộc của những người bạn ngoại quốc. Chính vì thế mà họ có “cảm giác nhanh nhạy” hơn các bạn trẻ Việt Nam.
Việc đi tìm câu trả lời cho câu hỏi của mình giúp họ hiểu sâu hơn về vấn đề, và quan trọng là biến những kiến thức sách vở thành kiến thức “sống”. Càng trong những trường hợp khẩn cấp cần phản ứng nhanh thì “cảm giác nhanh nhạy” của họ càng phát huy tác dụng.
Phương Thảo (du học sinh ở Nhật): “Khi tôi mới sang đây, tôi khá tự tin vì mình chăm chỉ và thông minh. Tuy nhiên sau một thời gian, tôi nhận ra rằng mình chỉ mới biết những điều trong sách vở. Trong những hoạt động thực tế, vào phòng thí nghiệm hay hoạt động xã hội chẳng hạn, trong khi du học sinh Việt Nam còn rất lúng túng thì các bạn nước ngoài lại hoàn toàn chủ động!”.
Quang Việt (du học sinh Mỹ): “Khi cùng làm thí nghiệm Hoá học, nếu như kết quả ra khác với tính toán lí thuyết thì học sinh Việt Nam sẽ lo lắng tìm cách “ăn gian” cho ra đúng kết quả. Còn học sinh Mỹ thì lại mày mò tìm xem yếu tố bất thường nào đã xen vào. Thế là từ lần sau, họ biết cách điều chỉnh thí nghiệm, còn tôi vẫn cứ loay hoay tìm cách “ăn gian”!”.
2. Những câu hỏi “Tại sao?” không được khuyến khích
Tôi hỏi một người bạn thân rằng có hay hỏi “Tại sao?” trước một sự việc không? Anh cười và bảo “Đấy là câu hỏi chỉ có bọn con nít mới hay hỏi!”. Tôi thấy đúng. Chúng ta ai cũng lớn lên từ những câu hỏi “Tại sao?” thời thơ bé. Câu hỏi đó như một bản năng, ai muốn trưởng thành cũng phải tự đi tìm câu trả lời cho mình. Nhưng rồi càng lớn, chúng ta càng ít hỏi câu hỏi quan trọng nhất ấy. Đó là kết quả của cách giáo dục truyền thống mà nhiều thế hệ đã trải nghiệm.
Đứa cháu họ của tôi, mới có 5 tuổi, nhìn thấy cái gì quanh mình cũng quay ra hỏi mẹ “Tại sao lại thế?”. Lúc đầu chị còn trả lời, sau rồi khó chịu gắt bẳn làm nó khóc oà lên. Dần dần tôi không thấy nó hỏi “Tại sao?” nữa. Mẹ bảo gì là răm rắp nghe theo, thế là được khen là ngoan, được ăn kẹo, được đi chơi cuối tuần.
Chính bản thân tôi, hồi còn lớp 2, trong giờ Tiếng Việt, đã giơ tay hỏi cô giáo “Tại sao người ta lại nói là “chợ búa”?”. Cô suy nghĩ một lát rồi chẳng trả lời. Tôi hỏi lại mấy lần, bị cô giáo mắng “Còn bé mà cứ thích vặn vẹo người lớn!”. Thế là thôi, từ đấy cũng biết ... khôn ra, chẳng bao giờ vặn-vẹo-người-lớn nữa.
Lên cấp THCS và THPT, nhiều người vẫn còn giữ cho mình thói quen hỏi “Tại sao?” khi chưa hiểu điều gì trong bài giảng của thầy cô giáo. Nhưng không nhiều trong số họ nhận được sự khích lệ từ giáo viên, hay từ những người bạn cùng lớp của mình.
Trần Thanh An (ĐH KHTN, ĐHQG): “Trong những giờ Vật lý đầu tiên được học, tôi rất hay giơ tay thắc mắc khi chưa hiểu chỗ nào đó. Những gì tôi nhận được sau những câu hỏi thường là ánh mắt kì quặc của bạn bè và một thái độ không mấy dễ chịu của thầy cô”.
Nhiều khi, những câu hỏi “Tại sao?” bị gác lại đến cuối giờ hoặc để dành đến tiết bài tập, và thường bị lãng quên nhanh chóng. Hoặc là thầy cô giáo đã không đủ nhiệt tình để giải thích cặn kẽ cho học sinh hiểu. Hoặc là sức ép phải “chạy” cho hết giáo án trong vòng 45 phút đã không cho thầy cô có thời gian dừng lại.
Dần dần, Thanh An thoả hiệp với cách chấp nhận những kiến thức được dạy theo kiểu photocopy. Và với những lĩnh vực đặc biệt như giáo dục giới tính thì lại càng khó khăn hơn với câu hỏi “Tại sao?”. Bởi bức tường “tế nhị”, “nhạy cảm”... luôn nhảy ra ngăn chặn kịp thời. Thói quen hỏi cũng mất dần.
Bước vào giảng đường đại học? Không có chỗ cho những câu hỏi ngoài ... giờ thi vấn đáp. SV nhiều khi cứ học vẹt theo những dòng chữ trong giáo trình mà cũng không hiểu lắm. Chẳng mấy ai đặt câu hỏi “Tại sao nó lại thế này, thế kia?”. Sự thụ động ấy gần như đã trở thành bản chất chung cho nhiều người Việt trẻ bây giờ.
3. Không thể chỉ trách người!
Người đặt câu hỏi là các bạn. Nếu thực sự khao khát câu trả lời, các bạn có thể tự mình đi tìm trước khi có ai đó mang sẵn đến cho mình.
Trở lại câu chuyện của Trần Thanh An (ĐH KHTN ĐHQG). An có vẻ rất bức xúc khi nói đến những câu hỏi “Tại sao?” bị bỏ xó của mình từ những ngày cấp II. Nhưng khi tôi hỏi lại rằng “Bạn có tìm thêm sách tham khảo để tìm hiểu hoặc hỏi anh chị lớn trong nhà chứ?”, An tảng lờ.
Lí do An có thể đưa ra rất nhiều: “không có thời gian”, “không biết sách nào mà mua”... Nhưng đó rõ ràng chỉ là cách biện hộ. Nếu chỉ đặt câu hỏi và không có nỗ lực tự trả lời, nhiều khi câu hỏi “Tại sao?” của bạn chỉ để thoả mãn tính tò mò nhất thời.
Dù sao Thanh An cũng đã đặt cho mình câu hỏi quan trọng ấy. Còn những bạn trẻ chỉ ưa chuộng “Ai? Thế nào? ở đâu?”, họ vẫn còn giữ tâm lí đối phó. Hành động “ăn gian” của Quang Việt (du học sinh Mỹ) trong phòng thí nghiệm chính là minh chứng: đối phó với thầy giáo, quan tâm đến điểm số hơn là bản chất của thí nghiệm.
Chính trong buổi thí nghiệm đó, Việt đã thua các bạn nước ngoài. Họ học được bài học kinh nghiệm cho những lần sau, còn Việt vẫn cứ mãi phải đối phó, vẫn “gạo vì điểm”. Việt đã không nhận ra rằng những bài học lí thuyết trên lớp chỉ để phục vụ cho những hoạt động thực tiễn. Cậu chạy theo điểm để rồi lỡ mất bài học thực sự cho mình.
Xét cho cùng, sự khác nhau trong cách nhìn nhận sự việc, cách quan tâm đến cuộc sống giữa những người trẻ Việt và bạn bè thế giới đã phản ánh rất rõ sự khác nhau trong tầm nhìn. Tủn mủn với những điều nhìn thấy trước mắt là cách hành xử của tầm nhìn ngắn hạn. Đi tìm nguyên nhân, giải pháp và đúc kết bài học cho tương lai mới là thái độ của những người có tầm nhìn vượt qua “ngày hôm nay” của chính mình.
Đứng thẳng lên đi. Và hãy bắt đầu nhìn ra xa hơn với câu hỏi “Tại sao?” cho bản thân mình.
(Sinh viên Việt Nam )
Camap_casau
24-04-2006, 02:26 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/posttaoxanh/Danh_Gia.jpgDanh - Giá
Người “danh giá” trước hết phải là người có “danh”, nhưng hình như cái “danh” nào cũng có “giá” của nó cả! Cụ Nguyễn Công Trứ ngay từ khi còn rất trẻ đã viết câu thơ nổi tiếng: Đã mang tiếng đứng trong trời đất Phải có danh gì với núi sông. Ngẫm ra, ý muốn được lưu danh cũng là thói thường của người đời vậy!
Thời Xuân Thu, lý tưởng sống của tráng sĩ là “lưu danh thiên cổ”. “Chính, tà” lúc ấy dường như khó có ranh giới rõ ràng. Sang nước Vệ mà vua Vệ không dùng thì người ta có thể bỏ sang nước Trần, nước Sái, dù các nước ấy đang đánh nhau. Kẻ sĩ chỉ cần lưu danh, và để danh của mình có thể lưu thiên cổ, người ta sẵn sàng trả cái giá cao nhất là mạng sống của mình, có khi còn là mạng sống của cả gia đình mình nữa. Đọc “Sử ký” hoặc “Đông Chu liệt quốc”, ta thấy những người lưu danh như thế thật là nhiều.
Cũng có người sống không vì danh, mà vì những mục đích cao cả khác của mình. Rất nhiều thiên tài đã lưu danh sử sách nhờ những đóng góp to lớn của họ cho loài người. Nhưng dù muốn hay không, họ cũng đã phải trả giá cho cái danh mà xã hội giành cho họ. Có thiên tài nào được sống như một người thường đâu! Cả cuộc đời họ cống hiến cho sự nghiệp, không còn thời gian cho bản thân mình. Mà có lẽ, hạnh phúc trọn vẹn ở đời chỉ có khi ta được sống cuộc sống bình thường nhất!
Xem ra lẽ đời thật công bằng, nếu bạn là người danh giá, nghĩa là được mọi người vinh danh, thì cũng tức là bạn đã trả một cái giá nào đó mà nhiều khi không tự biết!
Đó là nói đến những cái danh thực mà người ta giành để tôn vinh cho những người đã hy sinh một phần hay cả cuộc sống của mình vì những người khác. Trong xã hội, còn nhiều cái “danh” khác, thường vẫn được gọi là “hư danh”, hoặc là những cái “danh” mà chủ nhân của nó biết rất rõ cái “giá” đã trả. Cái “giá” đó nhiều khi rất cụ thể, bằng tiền, hoặc bằng những thứ khác. Tôi không muốn nêu lên ví dụ, vì hai lý do. Một phần, cũng không mong chuốc lấy sự bực bội của ai đó. Phần nữa, vì chắc chắn ai trong các bạn cũng tìm ngay được quanh mình những ví dụ điển hình của việc mua danh! Đáng buồn là thế, vì đó là sự thật khá phổ biến của xã hội ta, khi mà trong khoa học, giáo dục, thể thao, trong nghệ thuật, trong chính trường... đâu đâu cũng có kẻ bán người mua. Mà hàng hóa ở đây lại là cái “danh”, và người nào mua được đều trở thành kẻ “danh giá” trong xã hội. “Danh” nào, “giá” ấy. Giá càng cao thì danh càng “oai”. Danh càng oai thì lợi càng nhiều. Bởi vậy nên nhiều người mới sẵn sàng bỏ giá cao cho cái “danh” của họ.
Dù sao, cũng vẫn còn may là “lẽ đời thật công bằng”. Nếu cái danh được trả giá bằng sự sự hy sinh những quyền lợi của cá nhân mình cho xã hội, thì cái danh ấy thật sự bền lâu. Còn cái “danh” mua được bằng “giá” nào đó, dù giá đắt hay giá hời, thì người mua được nó có còn là người “danh giá” nữa không? Không phải chờ đến khi họ hết quyền, hết lợi nhờ cái danh, mà ngay cả khi vừa mua xong danh, thì trong mắt xã hội, chẳng có cái “danh” nào kiểu đó mà người ta không định “giá” được!
Thế mới biết, không nghĩ đến danh mà thành danh thì cái danh ấy mới bền. Còn như làm đến “bậc thánh nhân” để “không lưu danh” thì thật khó quá!
Hà Huy Khoái
( Tia Sáng )
Camap_casau
25-04-2006, 04:14 AM
Trí thức và nửa trí thức: Đến cả sự nhợt nhạt cũng giống nhau đáng sợ
Trích đăng từ bài “Giáo dục, Trí thức và nửa đường còn lại” của Ngô Tự Lập (bài đăng trên Talawas) bàn về trí thức và nửa trí thức
...Cả hai hình thức giáo dục áp đặt đều được và vẫn tiếp tục được áp dụng một cách triệt để và bền bỉ ở Việt Nam. Ở trên đã nói đến Khổng Tử và Nho giáo, tôi xin dừng lại lâu hơn một chút.
Mặc dù đến Việt Nam gần như đồng thời với Phật giáo và Đạo giáo và trên thực tế chỉ có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần người Việt kể từ cuối đời Trần, ngay từ thời Bắc thuộc, Nho học đã là cánh cửa hầu như duy nhất - thông qua thi cử và đỗ đạt - để tiến thân. Trong văn học viết cũng như trong các giai thoại dân gian, chúng ta gặp biết bao nhiêu tấm gương phụ nữ tần tảo nuôi chồng hoặc nuôi con ăn học để lều chõng đi thi trong nỗi đợi chờ khắc khoải một ngày kia anh học trò vinh quy bái tổ rồi "một người làm quan cả họ được nhờ".
Có thể nói rằng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam cho đến thời Pháp thuộc, anh học trò đồng nghĩa với người học chữ Nho, tức chữ Thánh hiền, người uyên bác là người thông thạo Tứ thư Ngũ kinh và như thế, nhà Nho cũng có thể coi như đồng nghĩa với trí thức.
Nhưng đó là trí thức như thế nào? Để tìm một câu trả lời thực tế xin mời các bạn vào thăm Văn Miếu. Nền giáo dục cổ điển Việt Nam đã đào tạo hàng nghìn Tiến Sĩ, trong đó có hơn 50 Trạng Nguyên, nhưng có mấy người để lại một công tích gì đó cho đất nước ngoài một vài câu đối, một vài bài phú hay thơ Đường - thứ thơ Đường hạng hai, vừa muộn màng về thời gian, vừa non nớt về nội dung và nghệ thuật so với loại thơ Đường tầm tầm của Trung Quốc, chưa nói đến những bậc Thi Vương Thi Bá như Đỗ Phủ, Lý Bạch?..
Rợn ngợp dưới cái bóng quá lớn của các vĩ nhân, người học trò Việt Nam tự nhốt mình trong những khuôn phép bất di bất dịch, tự hạn chế mục đích của mình trong việc thi cử theo khuôn mẫu. Tính chất giáo điều của hệ thống thi cử hạn chế đến mức cao nhất tư duy sáng tạo. Kết quả là chính những người không có tư duy sáng tạo lại có nhiều cơ hội để đỗ đạt và thăng tiến.
Tình trạng này kéo dài hàng nghìn năm và chính nó đóng vai trò quyết định vào việc tạo nên tâm lý cam phận và thụ động của đại đa số người Việt, một tâm lý tiếp tục tồn tại và phát huy ảnh hưởng tiêu cực của nó ngay cả hôm nay.
Đến thăm các trường học của Việt Nam, ai cũng phải công nhận rằng học sinh Việt Nam chăm học. Tiếc thay, chăm học lại không hề đi đôi với chăm nghĩ. Vì thế có một thực tế có vẻ nghịch lý là sinh viên Việt Nam, kể cả những sinh viên du học ở nước ngoài, khi học có kết quả rất tốt, nhưng ra trường làm việc lại tồi.
Người Việt mọi thời đều khắt khe với cái mới nhưng lại khá dễ dãi trong việc nhân nhượng với quá khứ, chấp nhận đồ cũ và tôn vinh người chết. Trong lịch sử nước ta, những các nhân xuất sắc có tư duy sáng tạo thường phải chuốc lấy thảm hoạ. Tôi nhớ đến trường hợp Nguyễn Trãi. Tất nhiên những biến cố trong cuộc đời bi tráng của ông có yếu tố ngẫu nhiên, nhưng tôi cho rằng những yếu tố ngẫu nhiên ấy đã có một chất xúc tác quá mạnh là trí tuệ và tinh thần sáng tạo vô song của ông: Nguyễn Trãi là tác giả Dư địa chí, cuốn sách khoa học đầu tiên, là người làm ra "quốc thiều" và Cáo bình Ngô..., nhưng trên hết, ông là cha đẻ của văn học dân tộc bằng tiếng Việt.
Nền giáo dục áp đặt cũng dẫn chúng ta đến một sai lầm khá trầm trọng trong nhận thức khái niệm "trí thức": người ta thường cho trí thức là người lao động "trí óc", những người "có chữ", hay thậm chí đồng nhất trí thức với người có bằng cấp. Nói đơn giản, chúng ta thường coi trí thức là người có nhiều kiến thức.
Nhưng thực ra có nhiều kiến thức mới chỉ là một nửa chặng đường. Để trở thành trí thức, theo tôi, người ta ta còn phải có xu hướng tìm tòi các vấn đề mới và cách giải quyết các vấn đề ấy. Không những thế, với người trí thức, việc tìm tòi các vấn đề và tìm tòi cách giải quyết vấn đề không phải là một công việc hay nhiệm vụ, mà là một nhu cầu tự nhiên, hệt như nhu cầu ăn uống hay hít thở.
Những người có nhiều kiến thức mà không tìm ra được vấn đề mới và cách thức giải quyết chúng thì chỉ có thể tồn tại chứ không thể giúp ích nhiều cho tiến bộ. Kiến thức vô cùng cần thiết, bởi lẽ để tìm ra vấn đề và cách giải quyết, chúng ta cần phải có một lượng kiến thức nhất định.
Nhưng ngoài kiến thức còn cần phải có thiên hướng sáng tạo. Điều này, thực ra thiên hướng sáng tạo cá nhân thì ai cũng có ở mức độ khác nhau, nhưng giáo dục có vai trò quyết định trong việc nhân lên, giảm bớt hay thậm chí là triệt tiêu nó. Dĩ nhiên, vấn đề còn phụ thuộc vào năng lực năng cá nhân trong việc chống lại áp lực của quá trình nhân bản vô tính, dù vô tình hay hữu ý, về mặt tinh thần.
Đáng buồn là nền giáo dục của chúng ta luôn luôn đi theo xu hướng tồi tệ nhất. Nếu để quan sát các em nhỏ, chúng ta sẽ thấy chúng độc đáo biết chừng nào. Ngay từ trong bụng mẹ, chúng đã khác nhau. Mỗi em bé có một kiểu nghĩ, mỗi em có một kiểu ngịch ngợm. Những câu hỏi chúng đặt ra bao giờ cũng làm bố mẹ vừa đau đầu vừa thích thú, bỡi lẽ chúng đa dạng biết chừng nào.
Vậy mà cùng với những năm tháng ở học đường, những câu hỏi của chúng ít và nhạt dần. Tốt nghiệp phổ thông, chúng gần như chỉ còn suy nghĩ bằng cái đầu của kẻ khác. Cuối cùng, sau khi học xong đại học, phần lớn trở nên giống nhau như đúc. Có thể nói không ngoa rằng đến cả sự nhợt nhạt, cam chịu, cũng như những thói hư tật xấu của chúng như giả dối, ích kỷ... cũng giống nhau một cách đáng sợ.
Ở đây tôi không muốn vơ đũa cả nắm, không muốn phủ nhận sạch trơn. Nhưng những kẻ ít ỏi tiếp tục đặt câu hỏi, tiếp tục trăn trở với những vấn đề của cuộc sống thì được coi là "hâm", là vĩ cuồng hay hay thơ mộng hơn thì là "người trên mây, trên gió".
Với quan niệm như trên, theo tôi, ở Việt Nam chưa có giới trí thức mà chỉ có một số nhà trí thức riêng rẽ. Trong số các nhà Nho xưa, cũng như các vị Tiến sĩ ngày nay, phần lớn vẫn chỉ đơn thuần là những "bồ sách". Về thực chất, họ mới chỉ là nửa trí thức, khá nhất cũng chỉ đóng vai trò truyền bá các tri thức - mà trong rất nhiều trường hợp là những thứ được lượm lặt một cách ngẫu nhiên, vừa không chính xác, vừa phiến diện và cũ kỹ - trong một hệ thống giáo dục áp đặt như chúng ta vừa nghiên cứu ở trên.
Đó chính là vấn đề trầm trọng nhất của trí thức Việt Nam hiện nay, cái làm cho trí thức không có được vai trò xã hội mà đáng ra nó phải có. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, trí thức Việt Nam không ngừng kêu ca rằng họ bị coi thường, rằng chất xám ở Việt Nam được trả giá quá rẻ mạt. Nhưng tại sao chúng ta không đặt câu hỏi: "Liệu chất xám của chúng ta có đáng được trả giá cao hơn không? Và chất xám của chúng ta có thể làm được gì?"
Tôi không tin rằng cuộc sống lại thiếu công bằng đến mức trả tiền cao cho những gì vô ích và hoàn toàn quay lưng lại với những sáng tạo chân chính. Ngay cả trong trường hợp có những sáng tạo quá mới mẻ, vượt quá xa khả năng áp dụng của đất nước ta, thì chúng chắc chắn cũng sẽ tìm được nơi để áp dụng và mang lại lợi ích cho nhân loại.
Như vậy, việc xây dựng một đội ngũ trí thức, hay nói đúng hơn, việc biến đội ngũ nửa trí thức của chúng ta thành một đội ngũ trí thức thực thụ, đủ khả năng đảm đương vai trò đầu tàu của nó trong sự nghiệp phát triển của dân tộc, cũng chính là chặng đường còn lại của nền giáo dục dân tộc. Đó là một nhiệm vụ cấp bách và to lớn, không chỉ đòi hỏi nhiều tiền của, thời gian và ý chí, mà còn cả những thay đổi triệt để trong quan niệm và phương pháp giáo dục.
Ngô Tự Lập
Camap_casau
25-04-2006, 04:16 AM
Trong mỗi con người có một Mozart
“Phan Dũng là chủ của một doanh nghiệp mà sản phẩm rất đặc biệt: hao tốn ít nguyên liệu, không hề gây ô nhiễm, sản phẩm xuất khẩu lại đạt giá trị cao”. Chắc hẳn với lời giới thiệu này nhiều người sẽ ngạc nhiên khi tận mắt thấy cơ ngơi của anh: vẻn vẹn hai căn phòng nhỏ ẩn mãi trên lầu 3, khu B của Trường đại học khoa học tự nhiên thành phố HCM. Một phòng chỉ rộng 10m2 đa chức năng vừa nghiên cứu, lưu trữ vừa là nơi giám đốc tiếp khách, giao dịch với một chiếc bàn tròn to như bàn ăn của mỗi gia đình. Phòng còn lại là “cơ sở sản xuất” chính giỏi lắm chỉ chứa được khoảng 50 người.
Khởi nghiệp từ khi chưa thành danh
Trung tâm sáng tạo khoa học - kỹ thuật (TSK) của Giám đốc Phan Dũng đã tồn tại và phát triển gần 8 năm qua. Để trở thành một giáo sư- tiến sĩ vật lý hay như anh tự nhận “mình vừa là nhà khoa học, nhà giáo, vừa là nhà doanh nghiệp”, Dũng đã khởi nghiệp cách đây 22 năm. Cuối năm 1977, Dũng mới 27 tuổi. Anh quyết định phổ biến “phương pháp luận tư duy sáng tạp, đặc biệt là lý thuyết giải các bài toán sáng chế (TRIZ)” cho các bạn trẻ là công nhân. Điểm hẹn là Nhà văn hoá thanh niên, hoặc Uỷ ban khoa học kỹ thuật. Ban đầu chỉ thu hút được một số người hiếu kỳ. Chưa mấy ai tin rằng sáng tạo lại có thể đem dạy và học như các môn khác.
Bản thân Dũng trở thành sinh viên của trường Đại học sáng chế ở Ba cu (Liên xô cũ) một cách rất tình cờ. Anh sang đây để học vật lý, đang học thì biết có khoa dạy sáng tạo mà tò mò tìm đến. Giáo sư Altshuller, một nhà khoa học và nhà văiệt nam viết chuyện viễn tưởng, nhà sáng lập trường đã chấp nhận anh và 2 người Việt nam khác như một ngoại lệ. Vì đối tượng chiêu sinh chỉ dành cho những ai đã từng công tác và có những công trình sáng tạo. Dũng vừa học vật lý, vừa học khoa sáng tạo.
Anh kể: “Năm 71-73, thày Altshuller đã trực tiếp truyền cho tôi những gì ông có. ông là người thầy cực kỳ tốt bụng. Ngay trước khi mất, ông vẫn giúp đỡ tôi, thâm chí còn gửi cho tôi cả những tài liệu chưa hề được công bố”. Altshuller chính là tác giả lý thuyết về Algorit, được coi là cha để của trường phái khoa học sáng tạo của Nga.
Đã 22 năm qua, TSK mà chủ yếu là Phan Dũng và một hai công sự đã mở được 125 khoá sơ cấp, 6 khoá trung cấp về phương pháp luận tư duy sáng tạo, với hơn 10.000 lượt học viên đủ mọi thành phần. Có người là tiến sĩ kinh tế ở Paris từ 1955, có người là nữ nghệ sĩ nổi tiếng, rất nhiều người là giám đốc các doanh nghiệp hoặc các chuyên viên ngành lỹ thuật, quản lý... đã từng tốt nghiệp đại học và có người còn học phổ thông. Đặc biệt có cả những quan chức của bộ giáo dục Malaysia... Ai nấy đều khẳng định đã học được cách làm thế nào để sáng tạo. Thực tế họ đã dành được nhiều kết quả tốt đẹp trong công tác và cuộc sống.
Con đường sáng tạo không thoáng đãng
Phan Dũng không giấu giếm niềm tự hào khi khẳng định TRIZ đã được truyền bá giảng dạy ở Việt Nam từ 1977. Tuy vậy anh vẫn tỏ ra băn khoăn trước những thông tin dồn dập. Tuy chỉ mới được đưa vào Mỹ như một ngành công nghệ từ năm 1991, đến nay Mỹ đã lập được 2 viện chuyên nghiên cứu về TRIZ. Một là The Alshuller Institude for TRIZ studies tại Massasuchette và một viện là TRIZ Institude tại California. Danh sách những công ty lớn sử dụng TRIZ mỗi ngày mỗi dài. Đó là: BMW, Kodak, MC Donnal Douglas, Motorola, P&G, US Air Force, Siêmns, Intel, 3M,. Mobil – Oil, Ford...
Phan Dũng cho biết:”Ở Việt Nam gần đây số học viên của TSK phần lớn do các công ty, đơn vị nước ngoài cử đến. Vì sáng tạo là yêu cầu kỹ năng cơ bản nhất để đáp ứng yêu cầu công việc trong tương lai. Chỉ cần đọc các thông báo tuyển dụng của các công ty này đăng trên báo dù quản lý hay cho bất kỳ một công việc nào cũng yêu cầu sáng tạo”. Giá đào tạo của TSK lại quá rẻ so với các tổ chức ở nước ngoài (khoảng 20 USD/ khoá 60 tiết). Gần đây, một công ty TNHH có vốn nước ngoài ở tp. HCM mở các lớp hệ tương tự giá 250 USD/học viên...
Điều Phan Dũng tỏ ra quan tâm và lo lắng nhất, là dự báo làn sóng văn minh thứ tư sau nông nghiệp, công nghiệp và thông tin đang ập đến trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 tới. Đó là nền văn minh sáng tạo gồm công nghệ tạo ra ý tưởng (Ideas Engineering) và công cụ đưa ra khái niệm mới (conceptor) chúng ta thực sự chưa có một bước chuẩn bị. Trong lúc ở Venezuela đã có Bộ phát triển trí tuệ với hơn 100.000 giáo viên dạy tư duy đã được đào tạo. Họ đã quy định thành luật: mỗi học sinh phải học mỗi tuần 2 giờ về kỹ năng tư duy. Singapore cũng đã có chương trình dạy tư duy sáng tạo cho học sinh...
Phan Dũng thích nhắc lại một câu nói của Thomas Edison - "ông tổ" của hàng trăm phát minh cho nhân loại - coi đó là mục đích sống của mình : "Nhiệm vụ quan trọng nhất của nền văn minh là dạy con người biết cách suy nghĩ"
(Phạm Minh - Thời báo Kinh tế Việt Nam)
Camap_casau
25-04-2006, 04:17 AM
Khi con người VN đi vào thời đại văn minh trí tuệ
Cùng với thế kỷ 20 sắp đi qua, nền kinh tế vật chất, dựa chủ yếu trên cơ sở sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất, chế biến, phân phối, sử dụng sản phẩm vật chất làm nền tảng, đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, lấy việc sản xuất, truyền tải, sử dụng tri thức làm hoạt động chi phối toàn bộ các hoạt động kinh tế. Từ nay các giá trị kinh tế lớn nhất được làm ra không phải trong khu vực trực tiếp sản xuất của cải vật chất mà trong khu vực khoa học, kỹ thuật, dịch vụ. Vai trò của tài nguyên thiên nhiên và của cải vật chất sẵn có ngày càng giảm so với tiềm năng trí tuệ, tinh thần, văn hóa. Nếu 30 năm trước, sự tiêu hao vật chất và năng lượng với nhịp độ khó kiềm chế nổi của nền văn minh công nghiệp truyền thống đã khiến các nhà kinh tế thuộc câu lạc bộ Roma lớn tiếng kêu gọi các chính phủ ngừng tăng trưởng kinh tế (“tăng trưởng zero”) để ngăn ngừa thảm họa diệt vong, thì cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã đảo lộn tình hình và đưa nhân loại tiến lên một nền văn minh mới, cao hơn: nền văn minh trí tuệ, trong đó tăng trưởng không ô nhiễm môi trường sống. Trong xu thế toàn cầu hóa đi đôi với cạnh tranh quyết liệt, nền kinh tế tạo nhiều cơ hội cho những nước nghèo mà có tiềm năng chất xám, song cũng hàm chứa những thách thức to lớn, những khó khăn, rủi ro và cạm bẫy không phải luôn luôn dễ nhìn và dễ tránh. Trong các điều kiện ấy, sẽ không có gì lạ nếu tới đây bên cạnh những nước tăng trưởng mau chóng thần kỳ có thể có những nước suy sụp thảm hại và tụt hậu vô vọng.
Nói chung người Việt Nam chúng ta được đánh giá là thông minh, hiếu học, cần cù trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu. Đó là những đức tính hết sức quý báu đã giúp cho dân tộc ta tồn tại được cho đến ngày nay, trải qua không ít thăng trầm suốt mấy nghìn năm lịch sử. Do những chiến thắng vẻ vang chống ngoại xâm đưa đến tự tôn dân tộc quá đà, có thời chúng ta nói về các đức tính ấy một cách say sưa, tưởng chừng như thế đã quá đủ để bảo đảm cho dân tộc ta, một khi được giải phóng khỏi ách đô hộ bên ngoài, sẽ nhanh chóng vươn lên tiên tiến về kinh tế, văn hóa, khoa học. Thực tế cho thấy không đơn giản như vậy. Ngày càng thấy rõ, trong sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước, ngay trong khu vực Đông Nam Á này, các đối thủ của ta đâu chịu thua kém ta về các mặt kể trên.
NGHÈO TRÍ TƯỞNG TƯỢNG
Không ai chối cãi người Việt Nam hiếu học, chuộng tri thức (tuy gần đây động cơ và phương pháp tìm đến và sử dụng tri thức đã bị méo mó khá nhiều). Thời đại này tri thức lại là của báu, vậy tưởng chừng dân ta đã có ưu thế cơ bản để đi vào thế kỷ 21. Thế nhưng vẫn chưa phải. Bởi lẽ động lực hàng đầu để thúc đẩy xã hội tri thức phát triển là đầu óc tưởng tượng sáng tạo, mà – tôi xin lỗi nếu phải nói ra một điều có thể xúc phạm tự ái dân tộc của nhiều người – chúng ta còn nghèo trí tưởng tượng. Thật vậy, những ai còn nghi ngờ điều này xin hãy bình tĩnh đảo mắt nhìn qua một lượt các kiểu nhà biệt thự mới mọc lên ở thành phố trong thời mở cửa và dạo qua các cửa hiệu, các chợ đầy ắp hàng Trung Quốc, hàng Thái Lan đang nghiễm nhiên tràn ngập thị trường. Từ quần áo, đồ chơi trẻ em, đồ dùng văn phòng cho đến xe đạp, quạt máy nhiều hàng nội của ta không cạnh tranh nổi vì thua kém mẫu mã, hình dáng, chủng loại, giá cả và nhiều khi cả chất lượng, công dụng. Đâu phải kỹ thuật ta không đủ trình độ làm ra các sản phẩm như họ.
Chẳng qua chúng ta từ lâu quá quen sao chép, ít chịu khó nghĩ ra ý tưởng mới. Nhìn lại từ cái bàn, cái ghế, cái giường cho đến cây bút, cái cặp sách thời bao cấp ở miền Bắc mới thấy rõ sao mà ta tự bằng lòng dễ dàng đến vậy, có thể nói 50 năm không hề suy nghĩ thay đổi. Cả đến cách dạy, cách học ở nhà trường. Thời tôi đi học, tôi đã học toán như thế nào thì bây giờ các cháu học sinh phổ thông cũng học gần y như thế, chỉ có khác là lớp chuyên rất nhiều và học thêm, luyện thi vô tội vạ.
Einstein đã có một câu nói nổi tiếng: trí tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức. Giờ đây tại nhiều đại học ở phương Tây, câu nói ấy được coi như một khẩu hiệu, một phương châm đào tạo để bước vào thế kỷ mới, khi mà ai cũng biết và cũng tin rằng tri thức là yếu tố quyết định sự phồn vinh của các quốc gia.
Mới nghe tưởng như một nghịch lý, nhưng thật ra là chân lý rất sâu sắc, tổng kết kinh nghiệm của một nhà bác học lỗi lạc nhất mà cống hiến vĩ đại đã tạo điều kiện mở đường cho sự ra đời của nền văn minh trí tuệ. Đã đành tri thức cực kỳ quan trọng, nhưng ý nghĩa thời sự của chân lý đó là, hơn bất cứ thời nào trong lịch sử, tri thức mà thiếu sức tưởng tượng dễ biến thành tri thức chết, tri thức vô dụng, không có tiềm năng phát triển.
“Biết” và “hiểu” là rất cần để làm theo, đi theo chứ hoàn toàn chưa đủ để sáng tạo, khám phá. Thời nay hơn bao giờ hết, những tác phẩm không hồn, không cá tính, những sản phẩm không mang theo dấu ấn gì đặc biệt, nhàm chán như bao nhiêu thứ lặp đi lặp lại hàng ngày trong cuộc sống bằng phẳng thì vô luận đó là ý tưởng, dịch vụ hay vật phẩm tiêu dùng cũng đều không có sức thu hút và do đó không có sức cạnh tranh.
ĐỂ CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU HÓA
Đi đôi với trí tưởng tượng chưa đủ phong phú, một loạt đức tính cần thiết khác để cạnh tranh thắng lợi trong nền kinh tế toàn cầu hóa cũng chưa rõ rệt là mặt mạnh của người Việt Nam so với nhiều dân tộc khác: đầu óc kinh doanh hiện đại, cung cách làm ăn lớn, tính toán nhìn xa trông rộng, táo bạo, nhạy cảm và năng động với cái mới, thích ứng mau lẹ để xoay chuyển tình thế khi gặp khó khăn, bền bỉ và quyết tâm theo đuổi đến cùng một sự nghiệp được yêu thích, miệt mài học tập, ngẫm nghĩ và phân tích sâu sắc, nghiên cứu nghiêm túc để tìm hiểu cặn kẽ đạo lý của mọi vấn đề. Có lẽ do quá lâu quen sống trong cảnh nghèo thiếu nên người dân ta nhiều khi dễ nhẫn nhục an phận, dễ bằng lòng với những thay đổi nhỏ, những suy tính cá nhân hời hợt, thiển cận theo lối cò con. Vì không cực đoan nên ít có đổ vỡ lớn, nhưng dễ bảo thủ, ít dám chấp nhận rủi ro tìm con đường mới, do đó cũng dễ lâm vào trì trệ triền miên. Không có thói quen tính toán hiệu quả, thiếu đầu óc thực tế, lại ham chuộng hình thức, chạy theo hư danh viển vông, kém khả năng và kinh nghiệm hợp tác, góp sức cùng nhau thực hiện một mục tiêu, một kế hoạch lớn, cho nên ít xây dựng được êkip mạnh về một lĩnh vực nào, thường chỉ có nhiều cá nhân giỏi làm việc riêng lẻ mà không hợp lại thành những tập thể hùng mạnh, xuất sắc. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại ít có người giàu thật lớn, ít có nhà khoa học thật tầm cỡ, thường chỉ đến một địa vị nào đó là thỏa mãn, mệt mỏi, ít khi đeo đuổi tham vọng thật cao xa. Tất cả những nhược điểm trên đều sẽ trở thành những lực cản không cho phép chúng ta tiến nhanh.
Một câu hỏi đặt ra: tại sao trong chiến đấu chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam có thể tỏ ra xuất sắc vô song về trí tưởng tượng, về thông minh, tài trí, dũng cảm mà trong xây dựng thời bình chưa được như vậy? Phải chăng vì ta chưa khêu gợi, nuôi dưỡng được trong nhân dân một ý chí tự cường mạnh mẽ, một quyết tâm rửa nhục nghèo nàn lạc hậu cũng cao ngang như quyết tâm rửa nhục mất nước trước đây?
Camap_casau
27-04-2006, 02:51 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/tan%20man/Tren_hoc_le.jpgTrên học lễ!
Chỉ trong một số báo Lao Động mà thông tin 3 chuyện động trời về trường học. Tại sao có thể ngang nhiên cho học sinh nghỉ học để lấy trường học tổ chức đám cưới cho con của "quan"? Tại sao không có bằng THPT vẫn có bằng tốt nghiệp đại học? Tại sao là thầy giáo lại có thể đánh học sinh tàn nhẫn thế?
Lâu nay đã không hiếm chuyện bức xúc về giáo dục. Nào là bằng tiến sĩ rởm; nào là sách giáo khoa không sạch, đại học toàn là "mô hình" đọc chép... Cứ tưởng báo chí nói nhiều thế, cái xấu sẽ bớt đi. Nhưng không! Thật buồn giáo dục lại là một trong những ngành có số vụ tiêu cực thuộc loại hàng đầu. Về nguyên tắc, giáo dục nhất thiết phải là ngành có chỉ số sai phạm thấp nhất, vì đó là ngành được sinh ra nhằm đảm bảo cho việc "di truyền", thu nạp và phát triển văn hoá của một dân tộc. Nếu văn hoá, giáo dục bị xuống cấp thì dân tộc rơi vào con đường đi tới thảm hoạ. ảnh hưởng của ngành giáo dục đối với xã hội là vô cùng lớn, vì nó không chỉ là chuyện của 5 hay 10 năm. Chẳng lẽ những người có trách nhiệm trong ngành giáo dục đã quên lời nhắc nhở của Bác Hồ: Việc "trồng người" là lợi ích của trăm năm?
Là một người thầy, có thể ngang nhiên đánh học sinh ngay trong phòng của hiệu trưởng? Câu chuyện này phải hiểu sao đây? Ông hiệu trưởng của trường không thể không chịu trách nhiệm. Không thể có chuyện đổ lỗi quanh co. Tội ác xảy ra trong căn phòng của riêng ông, ông phải nhận lấy hậu quả. Những giáo viên khác trong trường nhìn thấy cảnh đó mà không ai có nổi một mảy may xúc động! Những người đó cũng không xứng đáng để làm thầy giáo, cô giáo. Cha ông dạy rằng, nghề nào cũng cần có tâm, nhưng "nghề thầy" phải có nhiều hơn mới được. Chữ "tâm" mà Nguyễn Du mô tả là: Một vành trăng khuyết ba sao giữa trời.
Ba sao hay ba ngọn lửa ấy được các bậc thầy trong ngành giáo dục giải thích là - một của tà tâm, một của muội tâm và một - ở giữa là chính tâm. Là thầy giáo, cô giáo phải biết gạt bớt những tà, những muội ra khỏi mình để chính tâm toả sáng. Có như thế mới có thể trồng người.
Một khi bắt cả hàng trăm học sinh nghỉ học chỉ vì cả nể một ai đó; hy sinh cái đúng của nhiều người cho cái "thích" của một người, không thể biện giải là chuyện của sự vô tình. Sự học nhất thiết phải là điều thiêng liêng nhất của những người trẻ tuổi. Một khi những người thầy biến nó thành một trò đùa, thành cái chuyện của dôi dư nước mắt từ những tiếng cười mai mỉa thì giáo dục thế nào đây?
Rõ ràng có không ít người trong ngành giáo dục không chịu hiểu rằng, tiên học lễ không phải chỉ là chuyện của học trò, mà vị "Vạn thế sư biểu" còn muốn nói những người đi trước - những thầy, cô giáo phải biết rõ lễ nghĩa mới mong dạy dỗ cho con cháu thành người. Một khi lớp người trên không biết thế nào là tâm, là nhân, là đức thì văn hoá và giáo dục phải giật mình vì chẳng mấy chốc mà ngấp nghé suy đồi!
Hà Văn Thịnh
(Báo Lao Động)
Camap_casau
27-04-2006, 02:55 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/tan%20man/Chung_ta_muon_gi.jpgChúng ta muốn gì?
Đồng hành với sự thay đổi về vai trò của bằng cấp (chứ không phải sự thay đổi nhận thức về vai trò của học vấn) là hàng loạt vấn đề mới về giáo dục - đào tạo: Chương trình quá nặng nhưng lại bất cập so với nhu cầu thực tiễn cải cách và tính hiệu quả của cải cách, lạm thu và tận thu tới mức chi phí giáo dục trở thành một gánh nặng mà người nghèo khó kham, dạy thêm và học thêm tràn lan, thể lực và trí lực của học sinh suy giảm…
Những năm 80, thập kỷ XX: Tiền đề giúp cá nhân thăng tiến, trả nợ cơm áo hoàn toàn không phải là bằng cấp… Trong nhiều trường hợp, có bằng cấp cao còn là một thứ trở ngại cho việc tiến thân vì bị liệt vào thành phần “tiểu tư sản”.
Những năm 90, thập kỷ XX: … cả xã hội bắt đầu quay quắt với bằng cấp, CBCNV trong hệ thống công quyền đua nhau đi học và trông vào nhau để học. Số cán bộ công chức có học vị Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ mỗi ngày một nhiều. Sau những “scandal” về bằng giả là những “scandal” về bằng thật nhưng học….giả.
Và lúc này là: Hàng loạt vấn nạn mới về giáo dục đào tạo: chương trình qúa nặng nhưng lại bất cập so với nhu cầu thực tế, cải cách và tính hiệu quả của cải cách, lạm thu và tận thu tới mức chi phí giáo dục trở thành một gánh nặng mà người nghèo khó khăn, dạy thêm và học thêm tràn lan, thể lực và trí lực của học sinh suy giảm…
Khoảng đầu thập niên 1980, trường Tân Thạnh (nay là trường THCS Lê Lợi) - phường 15 Tân Bình, TP.HCM (khi ấy còn là vùng ven cấp cho nội thành TP.HCM), chỉ đào tạo đến lớp 6, Cha người viết bài này cùng với vài giáo viên khác được điều về Tân Thành để trường có thể mở thêm lớp 7, lớp 8, rồi lớp 9 hoàn tất việc đào tạo bậc trung học cơ sở cho địa phương. Đó cũng là giai đoạn mà ông bắt đầu hay thở dài...
Ngoài chuyện dạy toán, ông còn là giáo viên chủ nhiệm những lớp 7, lớp 8, lớp 9 đầu tiên của trường Tân Thành. Do trẻ con ham chơi hơn ham học nên ông thường phải tìm gặp Phụ huynh của chúng… Người ta vừa cám ơn vì ông đã quan tâm đến con mình, vừa thẳng thắn thưa rằng bởi học vấn, bởi bằng cấp không đảm bảo sự no đủ cho đứa trẻ trong tương lai, nên học nữa hay không, học như thế nào là chuyện của đứa trẻ, do chính nó quyết định... Theo nghề "gõ đầu trẻ" từ năm 1958 nhưng cha tôi không đủ khả năng để thuyết phục những nông dân chất phác về ích lợi của giáo dục...
Thời đó, thu nhập hằng tháng của một giáo viên chỉ ngang với hoa lợi thu về từ một luống rau. Giáo viên bị xem là nghề "bết bát" nhất. Khi lựa chọn nghề nghiệp, học sinh xác định: "nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách khoa" chỉ khi nào "chuột chạy cùng sào, mới vào Sư phạm". Tiền đề dành cá nhân thăng tiến, trả nợ cơm áo hoàn toàn không phải là bằng cấp. Những chuyện như "Cao học Vật lý đi bán phở, cử nhân Anh văn đạp xích lô… " trở thành phổ biến đến mức được đặt thành vè, được giới thiệu trên báo. Trong nhiều trường hợp, có bằng cấp cao còn là một thứ trở ngại cho việc tiến thân vì bị liệt vào thành phần "tiểu tư sản". Thậm chí với công chức, đôi khi được cử đi học bị xem là phương thức dùng để loại trừ một cá nhân ra khỏi vị trí mà anh ta đang đảm nhiệm. Cũng vào thời đó, lý lịch trở thành tiêu chí thay cho học lực trong tuyển chọn vào đại học. Tù chuyện cha mẹ làm gì mà thí sinh dư thi đại học được xác định là đối tượng thứ bao nhiêu, thuộc nhóm nào trong bốn nhóm. Nếu thuộc nhóm 1, chỉ cần đạt khoảng 5/30 điểm, còn thuộc nhóm 4 thì điểm thi phải khoảng 25 điểm trở lên mới có cơ may trúng tuyển, chưa kể có trúng tuyền chưa chắc đã được Ban Tuyển sinh địa phương cho đi học...
Sau giai đoạn ấy, những tồn tại vừa kể được khắc phục từ từ. Việc chuẩn hóa chức danh trong hệ thống công quyền đã khiến bằng cấp trở thành một yếu tố không thể thiếu nếu cá nhân muốn thăng tiến. Từ lúc này, cả xã hội bắt đầu quay quắt với bằng cấp. Chẳng phải chỉ trẻ con mới bị buộc phải học để có thể lấy được bằng kia, chứng chỉ nọ chuẩn bị cho việc vào đời, lập thân mà ngay cả người lớn cũng bị bằng cấp chi phối. Cán bộ, công chức trong hệ thống công quyền đua nhau đi học và trông vào nhau để học. Thậm chí, cơ quan không cử đi học, người ta vẫn tự thu xếp để tìm cho mình ít nhất là một tấm bằng. Số cán bộ, công chức có học vị Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ mỗi ngày một nhiều. Kèm theo đó là vô số điều tiếng. Sau những "scandal" về bằng giả là những "scan-dal” về bằng thật nhưng học… giả. Số trường hợp chưa tốt nghiệp trung học phổ thông, thậm chí chưa tốt nghiệp trung học cơ sở nhưng có vài ba bằng cử nhân, thậm chí có cả bằng thạc sĩ… không còn là cá biệt. Theo một Giáo sư, Tiến sĩ ở Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước, vào thập niên 1970 - 1980, người ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh chỉ cần có bằng tốt nghiệp đại học của Việt Nam. Đến thập niên 1990, khi hệ thống đào tạo của Việt Nam có thêm văn bằng thạc sĩ, các nước yêu cầu người Việt Nam muốn làm nghiên cứu sinh phải có học vị thạc sĩ. Sang thế kỷ XXI, một số nước bắt đầu không công nhận bằng thạc sĩ của Việt Nam và bắt các nghiên cứu sinh Việt Nam phải thi lấy bằng thạc sĩ của họ rồi mới nhận vào làm nghiên cứu sinh... Những câu chuyện đó làm người ta vừa buồn cười, vừa muốn khóc.
Đồng hành với sự thay đổi về vai trò của bằng cấp (chứ không phải sự thay đổi nhận thức về vai trò của học vấn) là hàng loạt vấn nạn mới về GDĐT: chương trình quá nặng nhưng lại bất cập so với nhu cầu thực tế, cải cách và tính hiệu quả của cải cách, lạm thu và tận thu tới mức chi phí giáo dục trở thành một gánh nặng mà người nghèo khó kham, dạy thêm và học thêm tràn lan, thể lực và trí lực của học sinh suy giảm…
Thiên hạ vẫn xem giáo dục cơ bản là phương thức duy nhất để xây dựng các thế hệ công dân dã nhận thức và khả năng sống có ích trước hết là với chính mình, sau đó là gia đình và xã hội nhằm đảm bảo tính bền vững cho công cuộc phát triển của một quốc gia. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều quốc gia tiến hành cưỡng bức giáo dục (trẻ con bị buộc phải đến trường và học cho đến khi hoàn tất bậc nào đó, toàn bộ chi phí giáo dục sẽ do Nhà nước đài thọ, nếu đứa trẻ không đến trường, cha mẹ của nó sẽ bị chế tài, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Riêng tại Việt Nam, tử chủ trương đến cưng cách quản lý, điều hành, thậm chí định hướng và cách thức điều chỉnh hoạt động GDĐT hình như chỉ nhắm đến lợi ích của các cá nhân có liên quan đến quá trình triển khai, thực hiện, chứ không phải là quyền lợi của cá nhân thụ hưởng (học sinh, sinh viên) hay gia đình đối tượng thụ hưởng hoặc xã hội. Nhận xét này có thể dễ gây dị ứng nhưng chọn một lối nhận định khác thì sẽ giải thích thế nào về hàng loạt nghịch lý của GDĐT: nhiều học sinh không biết đọc, biết viết vẫn lên tới lớp 5. Trường học xây chưa xong đã xuống cấp. Tuyển sinh phải theo chỉ tiêu do Bộ GDĐT quyết định. Bộ GDĐT độc quyền in và phát hành hồ sơ đăng ký dự thi (giá bán cao gấp vài lần giá thành), tài liệu luyện, soạn và bán sách giáo khoa (mới đây, Nhà xuất bản Giáo dục vừa cho biết sẽ giảm giá bán để chống sách in lậu)…
Chúng ta thực sự muốn gì từ Giáo dục đào tạo? Đã có rất nhiều khẩu hiệu nhưng còn mục tiêu thực sự là gì?
Xuân Dung
(Khám phá )
Camap_casau
27-04-2006, 02:58 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/tan%20man/Lang_phi_kep.jpgLãng "phí kép"
Bộ Giáo dục - Đào tạo vừa đăng một số thông báo mời thầu tư vấn thực hiện khảo sát sinh viên các trường đại học Việt Nam và tư vấn thực hiện khảo sát giảng viên các trường đại học Việt Nam... Đáng nói là nguồn vốn của dự án được vay từ Ngân hàng Thế giới.
Tại sao ngành giáo dục - đào tạo có cả hệ thống tổ chức từ bộ đến các trường, có bộ máy và biên chế hẳn hoi và hoàn toàn có thể làm được mà lại phải bỏ tiền vay Ngân hàng Thế giới ra thuê người khác làm? Vụ Quản lý sinh viên của bộ và phòng quản lý sinh viên của các trường đại học có thể làm được việc khảo sát sinh viên. Vụ Tổ chức - Cán bộ của bộ và phòng tổ chức - cán bộ các trường đại học có trách nhiệm và hoàn toàn có thể làm được việc khảo sát giảng viên. Thuê thì phải trả tiền cao. Vay thì phải trả nợ. Điều đó ai chẳng biết.
Tổ chức, quản lý chi tiêu ở ngành giáo dục đang rất bất hợp lý. Vì vậy, mối quan tâm của người dân đối với hiệu quả đầu tư cho giáo dục - đào tạo là rất chính đáng và có cơ sở. Một số chuyên gia và khoa học đầu ngành đã từng viết rằng: Bộ Giáo dục - Đào tạo bỏ ra 1 tỉ USD Mỹ để đấu thầu các dự án biên soạn lại sách giáo khoa; nếu biết tổ chức tốt và huy động người thực tài làm thì chỉ cần 200 triệu USD Mỹ là đủ.
Hiệu quả đầu tư cho giáo dục - đào tạo không chỉ là mối quan tâm lớn của người dân, mà tại không ít kỳ họp Quốc hội, một số đại biểu Quốc hội cũng rất bức xúc và chất vấn Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo. Nhưng rất tiếc sự trả lời của người đứng đầu ngành lại không rõ ràng và thuyết phục; nhất là sau đó, hầu như chưa khắc phục được gì.
Cũng cần phản ánh một thực trạng về thu của nhà trường. Do thực hiện quyền tự thu - tự chi, có trường đã thu học phí cao ngất ngưởng. Đầu năm nay, theo quy định cán bộ công chức phải qua đợt bồi dưỡng mới được dự thi chuyển ngạch hoặc nâng bậc, nên phải đến "học" tại một "học viện" có hai ngày rưỡi, mà mỗi người phải nộp 625.000 đồng (tất nhiên là "tiền chùa" chi lại cho "chùa" thôi). Phải chăng thu bằng cách đó, mà đơn vị này được biểu dương là tự chủ tốt?
Do cách tổ chức, quản lý kém nên hiện nay, trong ngành giáo dục - đào tạo đang diễn ra tình trạng "lãng phí kép" rất lớn. Đó là chất lượng đào tạo thấp và hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn vay thấp. Không chống được lãng phí kép này thì ngành giáo dục - đào tạo không thể "cất cánh" như nhiều người kỳ vọng.
Đan Tâm
(Lao Động)
Camap_casau
27-04-2006, 03:00 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/tan%20man/Vi_nhung_Bill_Gates_Viet.jpgVì những Bill Gates Việt
"Người giàu nhất hành tinh" sang thăm nước ta là một sự kiện được nhiều người, đặc biệt các bạn trẻ chờ đón. Nhiều người Việt chào đón Bill Gates không hẳn vì ông là người giàu có nhất, mà vì những thông điệp mà ông có thể mang đến.
Dưới đây là một vài thông điệp như vậy:
Một là, sự giàu có và sự tốt đẹp không nhất thiết phải đối lập với nhau, hơn thế nữa cái trước còn là tiền đề của cái sau. Vợ chồng Bill Gates chỉ có thể trở thành những nhà từ thiện lớn nhất hành tinh bởi vì họ giàu có nhất hành tinh. (Ông Bill Gates cùng với vợ đã thành lập Quỹ Bill và Melinda Gates để hỗ trợ cho những người nghèo trên thế giới và đóng góp 29 tỷ USD cho quỹ này).
Thông điệp này là rất có ý nghĩa đối với cuộc tranh luận chính trị của chúng ta hiện nay về việc có nên cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân hay không. Làm giàu và cống hiến cho nhân dân không nhất thiết phải đối lập với nhau.
Những người đảng viên chỉ có thể cống hiến được nhiều hơn, nếu như họ biết làm ra của cải nhiều hơn. Rủi ro của việc những người đảng viên không làm kinh tế tư nhân mà vẫn trở nên giàu có mới thật là khôn cùng cho chế độ.
Hai là, nếu có một cái gì đó vô tận ở trên Trái đất này thì đó là năng lực trí não của con người. Nền kinh tế nhắm vào việc khai thác năng lực trí não của con người chính là nền kinh tế tri thức. Sự vô tận của năng lực trí não, của khả năng chia sẻ tri thức tạo nên ưu thế tuyệt đối cho nền kinh tế mới.
Những thành công của Bill Gates và Cty Microsoft của ông đã minh chứng cho ưu thế của nền kinh tế nói trên. Trong mối tương quan này, người Việt Nam chúng ta sẽ phải học cách coi trọng trí thức và nhân tài, nếu chúng ta cũng muốn xây dựng cho mình một nền kinh tế như vậy.
Ba là, Bill Gates đã trở thành người giàu có nhất hành tinh vì ông ta có được các điều kiện để trở thành một người như vậy.
Những điều kiện đó trước hết là:
1. Một nền văn hoá chấp nhận sự phá cách, sự thử nghiệm và sự sáng tạo;
2. Một môi trường pháp lý bảo đảm khoảng không gian rộng lớn cho hoạt động kinh doanh, các điều kiện cho quyền tài sản, đặc biệt là quyền tài sản trí tuệ được bảo vệ;
3. Một môi trường tài chính bảo đảm các khoản đầu tư mạo hiểm cần thiết cho các ý tưởng sáng tạo luôn luôn dồi dào;
4. Một môi trường xã hội thuận lợi, nơi hợp tác và lòng tin trở thành chuẩn mực hành xử của những con người tự do mưu cầu hạnh phúc.
Nếu Việt Nam muốn có được các Bill Gates của mình, chúng ta cũng sẽ phải xây dựng cho được các điều kiện như vậy trên đất nước của chúng ta.
Cuối cùng, Bill Gates và thành công của ông ta là câu chuyện cổ tích có thật của thời hiện đại. Chúng ta ai cũng khâm phục khi được nghe về câu chuyện cổ tích nói trên. Khâm phục là cần thiết, thế nhưng tại sao chúng ta lại không tự viết lấy cho mình những chuyện cổ tích tương tự ở trên đất nước Việt Nam?!
TS. Nguyễn Sĩ Dũng
(Tiền Phong )
Camap_casau
27-04-2006, 03:02 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/tan%20man/Muc_dich_cua_su_trung_phat.jpgMục đích của sự trừng phạt
Thưa tiến sĩ Adler,
Toàn bộ hệ thống luật hình sự và sự trừng phạt của chúng ta đang ngày càng bị xét nét cẩn thận và được đặt thành vấn đề hơn. Không chỉ án tử hình mà cả án tù và toàn bộ hệ thống trừng phạt đều bị phê phán. Thậm chí một số người còn lý luận rằng chúng ta nên loại bỏ các nhà tù và thay thế bằng những dưỡng đường để giải quyết một cách hiệu quả những yếu tố phạm tội.
Mục đích và bản chất từ xưa đến nay của sự trừng phạt là gì? Nhắm xem chúng ta đạt được kết quả gì qua việc trừng phạt tội phạm? Liệu những chuẩn mực về lẽ phải và công lý có biện minh được cho nó không?
R.L.G.
R.L.G. thân mến,
Sự trừng phạt là một hình phạt do xã hội áp đặt lên các cá nhân vì những hành động sai phạm của họ. Nhìn theo cách này thì mục đích của sự trừng phạt là cách đền bồi cho điều sai trái đã làm – ăn miếng trả miếng, mắt trả bằng mắt, hoặc một số tiền phạt thích hợp hoặc một thời hạn trong tù cho việc phạm tội. Theo quan điểm này, công lý được thực hiện khi kẻ phạm tội chịu tổn hại – về thể xác, tiền bạc, hoặc tự do – ngang với điều sai trái họ đã làm. Bất kỳ chức năng nào khác mà sự trừng phạt có thể phục vụ, vì cá nhân hoặc xã hội, theo quan điểm này, đều không thích hợp. Kant và Hegel đều giữ quan điểm đền bồi này về việc trừng phạt.
Theo một quan điểm khác, sự trừng phạt phải cải tạo kẻ phạm tội và ngăn cản những người khác có hành động tương tự. Tại một trong những cuộc đối thọai của Plato, Protagoras(1) nói rằng thật vô lý khi cộng đồng trả đũa kẻ tội phạm vì một hành động đã qua và không thể sửa chữa được. Điều đúng đắn nên làm là hướng tới tương lai và trừng phạt một người là để ngăn hắn ta hoặc những người khác không phạm phải điều sai trái nữa.
Trong một cuộc đối thọai khác, Socrates phân biệt giữa những người có thể cứu vãn và có thể cải thiện bằng việc trừng phạt với những người không thể. Ông đề nghị án tử hình chỉ cho hạng người sau. Đối với Plato, mục đích chính của việc trừng phạt là sửa chữa, cải tạo, khôi phục lại trật tự đúng cho linh hồn của người phạm tội. Ông cho rằng án tử hình chỉ nên dành cho những tên tội phạm không thể cải tạo và như một tấm gương răn đe những người khác. Quan điểm của Plato là quan điểm trừng phạt thực dụng (vị lợi), xem nó như có tính cải tạo hoặc răn đe.
Những nhà tư tưởng như Thomas D’Aquinas kết hợp quan điểm trừng phạt đền bồi và thực dụng. Aquinas cho rằng trật tự đạo đức đòi hỏi rằng những hình phạt được áp đặt để uốn nắn những điều sai đã phạm phải. Nhưng ông tin rằng sự trừng phạt cũng phải cải tạo tội phạm và răn đe những sai trái khác sau này.
Hệ thống luật pháp của chúng ta hiện nay cố đạt được cả ba mục tiêu – đền bồi, cải tạo và răn đe. Nó cố làm cho việc trừng phạt phù hợp với cả tội ác và phạm nhân. Những người phạm tội lần đầu và những người trẻ tuổi thường nhận hình phạt nhẹ hơn những tên tội phạm thường xuyên đối với cùng những vi phạm. Chúng ta có “những trại cải tạo” cũng như “những nhà lao” (penitentiaries, bắt nguồn từ chữ penance - sự hành xác để xám hối). Chúng ta có quan điểm về việc “trả nợ của mình với xã hội” của một người và chúng ta cũng có quan điểm về sự “tái hòa nhập”. Chúng ta vừa có thái độ nhìn lại quá khứ (nhìn lại tội phạm) và thái độ tương lai (hướng tới cuộc đời tương lai của kẻ tội phạm). Và chúng ta kêu án tử hình cho tội bắt cóc và gián điệp thời bình như một sự răn đe trong những tình huống nghiêm trọng.
Cuộc tranh luận giữa những quan điểm trừng phạt đền bồi và vị lợi vẫn đang tiếp tục, đặc biệt là khi chúng ta có “những làn sóng tội phạm” định kỳ. Cuộc tranh luận trở nên đặc biệt nghiêm trọng đối với trường hợp cực đoan nhất, đó là về án tử hình. Ở đây hoàn toàn không thể kết hợp cả ba chức năng trừng phạt. Cho dù có thể đạt được cả việc đền bồi lẫn răn đe bằng án tử hình, nhưng nó lại là một phương thuốc loại bỏ cả người bệnh lẫn chứng bệnh.
Ngày nay cuộc tranh luận về án tử hình khiến hai mục đích vị lợi này chống lại nhau – việc răn đe đối lập với việc cải tạo hoặc việc chữa trị. Nhưng quan điểm về việc đền bồi khách quan nào đó thường làm nền cho những luận điểm ủng hộ án tử hình. Nếu vấn đề chỉ là việc răn đe, thì những ai ủng hộ hình phạt này trong trường hợp tội giết người sẽ mở rộng nó một cách hợp lý sang cho một số những tội nhẹ hơn.
Ngành phân tâm học quan niệm việc trừng phạt như sự phục vụ một nhu cầu tâm lý tự nhiên. Theo Freud, một người cảm thấy có tội muốn bị trừng phạt để tâm hồn được bình yên. Đó có thể là những lời biện minh khách quan cho tội lỗi của hắn, và hắn có thể mong đợi một sự trừng phạt hợp lý. Nhưng trong trường hợp những nhân cách bị rối lọan, thì tội lỗi có thể không có thật hoặc được cường điệu. Những người như thế có thể tìm kiếm sự trừng phạt chỉ vì muốn bị trừng phạt hoặc công khai phạm tội để bị bắt và bị trừng phạt. Quan điểm phân tâm học bất chấp vấn đề bản chất và mục đích của sự trừng phạt. Trong trường hợp nhân cách bình thường, nó đưa ra sự ủng hộ về tâm lý học cho cả những luận điểm vị lợi lẫn đền bồi.
Camap_casau
27-04-2006, 03:04 AM
Sự im lặng tội lỗi
Lâu nay, hoá ra có nhiều sự kiện xảy ra như một vụ án, một hiện tượng tiêu cực bị phanh phui, một chân dung "sếp" bị vạch mặt... khi báo chí đưa tin, nhiều người, rất nhiều người vẫn thường nói với nhau: "Biết mà, thể nào cũng đến ngày ấy, tôi lạ gì chuyện đó...".
"Sếp" bị bắt về tội tham nhũng, thể nào nhân viên trong cơ quan, đơn vị của "sếp" đó cũng bình: "Biết ngay mà, ông ấy tham thế, cửa quyền thế, bày đặt lắm trò kiếm tiền thế, nay bị bắt chẳng oan". Một nhóm người trong đơn vị bị bắt quả tang về tội đánh bạc, vẫn người trong cơ quan đó thì thào: "Đấy, thấy chưa. Ngày nào đến cơ quan cũng đánh bạc, cũng cá cược, chết là phải".
Ngày 22.2, trong cuộc nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra Đảng, đồng chí Phan Diễn - Uỷ viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư - đã bức xúc nói rằng: Việc bố con ông Mai Văn Dâu (nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại) nhận hối lộ trong thời gian dài để cấp quota xuất khẩu hàng may mặc, trong cơ quan Bộ Thương mại không phải không biết, hàng chục doanh nghiệp may mặc đều biết. Vụ Tổng Giám đốc Bùi Tiến Dũng cá độ bóng đá hàng triệu đô, không phải anh em trong cơ quan tổng công ty không biết. Biết nhưng không ai ngăn chặn, không ai góp ý, để cho lỗi lầm của đồng chí mình trượt dài.
Ngay cả vụ cá độ bóng đá có tổ chức do Bùi Quang Hưng (nguyên cảnh sát giao thông Hà Nội) cầm đầu, không phải trong đơn vị Hưng không biết. Rồi tài sản của một số cán bộ có chức có quyền lồ lộ giữa thanh thiên bạch nhật, người ngoài không tường, nhưng cán bộ, nhân viên trong cơ quan đó không thể không biết nguồn gốc bất minh của nó. Đã từng có cuộc thăm dò ý kiến trong một số cơ quan đơn vị và kết quả cho thấy, rất nhiều nhân viên cơ quan biết rõ lãnh đạo cơ quan mình có tham nhũng, có nhận hối lộ, có sách nhiễu cấp dưới, sách nhiễu dân. Đến nhiều đơn vị, nếu ngồi cùng nhau uống chén trà, ly rượu, thể nào cũng nghe nhân viên "kể tội" thủ trưởng mình, mà toàn những tội tày trời: Bồ bịch, nhận hối lộ, móc ngoặc...
Tóm lại, mọi việc nhất cử nhất động của thủ trưởng, của cán bộ trong từng cơ quan, đơn vị, cán bộ nhân viên ít nhiều đều nắm rõ. Điều đáng nói là, trong các cuộc họp chi bộ, công đoàn, cơ quan không thấy ai nói ra những gì mình biết, tất cả đều im lặng, im lặng cho đến ngày, đến giờ vụ việc vỡ lở, người này bị bắt, người kia bị khởi tố, khi ấy trong cơ quan mới râm ran thi nhau... kể tội. Biết thủ trưởng như thế, như kia, nhưng khi bầu vẫn bầu, vẫn tín nhiệm, vẫn im lặng ủng hộ. Hỏi vì sao, người ta nói: "Bẻ gậy chống trời. Thân mình yếu ớt, nói ra chưa thấy lợi đâu đã thấy hoạ đến. Tốt nhất là im lặng, lo lấy thân mình. Ai làm sai phải chịu tội".
Biết mà im lặng - là một ẩn hoạ. Biết mà không góp ý ngay, chấn chỉnh ngay, thậm chí là tố cáo ngay để đến ngày cái lỗi trở thành sai phạm, sai phạm trở thành tội ác là một tai hoạ. Biết mà im lặng như thế để rồi "giậu đổ bìm leo" là sự im lặng tội lỗi.
Nguyễn Quang Vinh
( Lao Động )
Camap_casau
27-04-2006, 03:06 AM
Điều học được từ cuộc sống
Cuộc thăm dò với câu hỏi: "Bạn đã học được điều gì từ cuộc sống?" đã có khá nhiều câu trả lời thú vị.
Khi con vẫy tay chào ai đó họ sẽ ngừng công việc để chào lại con (9 tuổi).
Cách tốt nhất để nhìn hiểu một điều gì là rời xa nó một thời gian (14 tuổi).
Đừng bao giờ nên quá bận rộn để quên nói “làm ơn” và “cảm ơn” (36 tuổi).
Nếu không thử sẽ không học được điều gì mới (37 tuổi).
Hay để tâm đến những thiệt hại mà người khác gây cho mình nhưng lại dễ quên điều mình gây tổn thương người khác (39 tuổi).
Thử thách lớn nhất của cuộc sống là biết chọn những gì quan trọng nhất và bỏ qua những việc tầm thường khác (51 tuổi).
Thành công trong sự nghiệp sẽ vô nghĩa nếu chúng ta gặp thất bại trong gia đình (53 tuổi).
Có thể biết được nhiều điều về một người đàn ông khi nhìn gương mặt người vợ và thái độ của những đứa con (55 tuổi).
Chúng ta không mất gì để trở thành một người dễ mến (66 tuổi).
Không nên lúc nào cũng chăm bẳm vào quá khứ, trừ khi để rút ra những bài học (70 tuổi).
Hồng Bích sưu tâm
(Tuổi Trẻ)
quang-minh
30-05-2006, 12:59 AM
hic
àh , trứơc khi mình nói mình xin lỗi trứơc nhé
mong bạn đừng có ghét mình hay giận nha
mình nói thiệt, bạn post nhiều như dzậy
kô biết có mấy ngừơi thật sự đọc hết những gì bạn post
àh, xin lỗi lần nữa, mình chỉ nhận xét vậy thôi
kô có ác ý gì
Camap_casau
18-06-2006, 05:30 AM
Bàn về Đạo - Lý - Tính
Cũng như các trường phái triết học cổ điển khác của phương Tây, hễ có lập luận triết lý tất yếu phải có quan niệm về các nguyên lý và nguyên nhân của sự sinh hóa trong vũ trụ, nội dung triết học của Nho giáo cũng có xuất phát điểm lấy cái Lý làm gốc với quan niệm: Thiên địa vạn vật nhất thể và cho rằng của mọi quy trình sinh hóa trong vũ trụ đều dựa vào đó cả. Cũng theo trí tưởng tượng của người xưa, thì vũ trụ khởi thủy là một khối hỗn mang mờ mịt rối loạn. Trong quá trình vận động sẽ có một cái lý vô hình, rất huyền diệu và mạnh mẽ gọi là Thái cực, nhưng nó cụ thể như thế nào thì không ai tưởng tượng ra nổi, người ta chỉ có thể căn cứ vào sự biến hóa của vạn vật mà đoán biết qua cái động và tĩnh, hay còn gọi là dương và âm của lý. Dương lên đến cực độ thì biên ra âm, âm lên đến cực độ cũng biến thành dương và hai thể ấy cứ gắn liền với nhau, tác động, chi phối, điều hòa, thay đổi, phát triển để sinh ra trời đất thiên nhiên và vạn vật Kinh - Dịch nhận định rằng: Đạo Dịch có Thái cực Thái cực sinh ra lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, Tứ tượng sinh ra bát quái. Tuy đã hình thành khái niệm Thái cực nhưng vì nó cao siêu kỳ diệu quá không thể biết hết được. Nho giáo đành lấy nó làm tôn chỉ triết lý của dịch học, sau đó tùy theo từng phạm trù nhỏ mà áp dụng vào, phân tích trong đối tượng hẹp để người học để hiểu hơn.
Thái cực là lý nhưng trong vạn vật mỗi vật đều có Thái cực riêng và tồn tại trong một Thái cực chung không thể tách rời tuy có sự khác biệt về chất giữa các vật trong tự nhiên. Khái niệm Thái cực gặp bậc thánh hiền hiểu biết uyên thâm sẽ như hòn ngọc giữa bể nước trong, còn vào tay kẻ ngu muội thì nó tối mờ đi như hòn đá giữa ao nước đục. Cụ thể hơn nữa, có thể hiểu Thái cực trong con người ta chính là cái tính bản nhiên của mình. Tính ấy hoang sơ nguyên gốc thì ai cũng như ai: Nhân chi sơ, tính bản thiện, nhưng sau dần phát triển tạo thành tính khí chất, loại tính này tùy theo khí bẩm sinh thanh - trọc hậu - bạc mà khác nhau. Ví như theo thuyết ngũ hành chi phối thì người có chất kim khí sẽ khắc người có chất mộc khí, người hỏa khí sẽ bị người thuỷ khí át đi... chỉ có bậc thánh hiền cao minh mới có thể dung nạp, điều hoà cả 5 tính chất ấy. Ngoài ra, tính khí chất không chỉ có thanh trọc khác nhau, mà còn thuần chất hay không nữa. Ví như có người thông minh chuyện gì cũng hiểu cả là nhờ thanh khí, nhưng đến việc làm thì không trọn vẹn vì khí không thuần. Lại có người cẩn thận đáng tin nhờ có khí thuần, nhưng động đến việc đều không hoàn thành do khí không thanh. Qua đó, quan niệm thanh hay trọc, thuần hay không thuần là do thiên chất bẩm sinh, nhưng người ta có thể tự rèn giũa bản thân mà thay đổi kiềm chế tính bản năng phần nào, kết quả này cũng phụ thuộc vào công sức, thời gian tu dưỡng nữa. Dẫu sao, tính bản nhiên và tính khí chất tuy khác nhau nhưng liên quan mật thiết, không thể thiếu nhau được, bởi một tính thuộc về tinh thần, một tính thuộc về vật chất cần phải dựa vào nhau cùng tồn tại và phát triển giống như hình ảnh một chiếc gáo đựng nước: không có gáo thì không thể múc nước, nhưng có gáo mà không có nước thì gáo trở thành vô dụng. Vì vậy đã có lý là có khí và ngược lại đã có khí là phải có lý.
Lý thuyết của Khổng giáo cho rằng, tính nết con người ta do trời phú, nên phải căn cứ vào phần thiên tính ấy để sửa đạo và lập giáo. Cái gọi là đạo chỉ là theo thiên lý, tức là hợp với bản tính con người ta, vậy đạo cốt để sửa cái tính con người ta sao cho hợp thiên lý. Khổng Tử nói rằng: Đạo không xa cái bản tính của người ta, nếu theo đạo để cho xa cái bản tính của người ta thì không phải là đạo. Đạo liên quan mật thiết với bản tính con người nhưng lại khoác bề ngoài cái vẻ huyền ảo vô hạn vì người dẫu tài trí đến mấy cũng không thể biết và hiểu hết, nhưng đạo lại rất phổ thông vì người bình thường nhất cũng vẫn có thể tin và theo đạo được. Thế mới đúng bản chất đạo rất giản dị mà thật cao xa khoáng đạt, bao trùm cả vũ trụ, bên ngoài thì không có gì lớn hơn và bên trong thì không có gì nhỏ hơn được.
Khổng Tử rất tin tưởng vào tính chân - thiện - mỹ của đạo và nghiệm ra rằng trong đạo có sự vui thú vô cùng, hễ ai đã nghe hiểu một lần rồi thì dẫu chết cũng không uổng một đời, điều quan trọng nhất là đã theo đạo thì phải thành thật để con người có thể mở rộng đạo chứ đạo không có khả năng mở rộng người. Cũng vì quan điểm vươn tới sự lý tưởng, nên Khổng giáo không công nhận điều gì là bất biến và cũng không bảo thủ trong bốn điều: không có ý riêng tư, không phỏng đoán chắc chắn trước, không cố chấp, không vì bản thân mình. Cách xử sự của Khổng Tử cũng cương nhu đều được lúc kinh, lúc quyền, luôn trung hòa và hợp lý chứ không chấp nhất, vì không thế sẽ chỉ biết được, một điều mà bỏ mất trăm điều ông tóm tắt bản chất của đạo vào mấy chữ: vô khả, vô bất khả. Tinh thần câu chữ này tuy có thể phân tích và hiểu được, nhưng làm theo thì khó vô cùng, phải người nào có trí tuệ mẫn tiệp, trực giác nhạy bén mới đưa ra nhận định đúng. Có lẽ câu bàn luận của Mạnh Tử sâu sắc nhất:
Có khi nên lấy, có khi không nên lấy, khi không nên lấy mà lấy là hại cái Liêm;
Có khi nên cho, có khi không nên cho, khi không nên cho mà cho là hại cái Huệ (ơn);
Có khi nên chết có khi không nên chết, khi không nên chết mà chết là hại cái Dũng.
Theo Hà Nội ngàn năm
Camap_casau
18-06-2006, 05:32 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/tan%20man/Con_nguoi_va_tam_linh.jpgCon người và tâm linh
Tết đến, xuân về. Phần đông gia đình người Việt, trong việc "sắm Tết", hầu như chẳng mấy ai không nghĩ đến dăm bông hoa, vài nén hương lễ gia tiên. Đó là cách hành xử văn hóa thể hiện mối quan hệ truyền thống mang tính dân tộc đối với thế giới tâm linh.
Quan hệ giữa con người với thế giới tâm linh về thực chất là quan hệ giữa người với người xét trên bình diện đặc thù. Nói tâm linh là nói niềm tin, tín ngưỡng và tôn giáo. Chính sách tôn giáo của Nhà nước ta từ ngày đổi mới càng một thông thoáng, phù hợp với xu thế thời đại. Tín ngưỡng là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có những điểm phù hợp với nhu cầu xây dựng xã hội mới. Tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài.
Từ thời Trần, thời Lê trở đi, tín ngưỡng, tôn giáo từng đóng vai trò tích cực trong sự phát triển của đất nước. Mặt khác có thời kỳ nó lại là tác nhân kìm hãm tiến bộ xã hội. Lịch sử cận đại Việt Nam chịu sức ép nặng nề của các thế lực nước ngoài lợi dụng tôn giáo, Tín ngưỡng vì mưu đồ chính trị. Chúng ta mong muốn khép lại những trang quá khứ đau thương. Nhưng các thế lực chống đối đâu đã chịu từ bỏ mưu đồ mà họ biết cách thực hiện tinh vi dưới nhiều chiêu bài. Cuộc đấu tranh trên trận địa này còn gian nan, đòi hỏi cách xử lý đúng đắn. Tôn trọng tâm linh không gì khác hơn là tôn trọng con người trong niềm tin và khát vọng của họ.
Đối mặt với cuộc sống hiện đại, các tôn giáo từ lâu đã có sự điều chỉnh nhằm hòa đạo với đời, làm cho tín ngưỡng thích nghi với cuộc sống. Đạo Thiên Chúa kể từ cộng đồng Vatican II (1962 – 1965) đã ban hành một số cách tân, như cho phép tín đồ được thờ cúng tổ tiên đối với phụng sự Chúa mà theo giáo lý cổ xưa chỉ có Chúa là đấng tối thượng duy nhất phải tôn sùng. Có ý kiến bàn luận, nên chăng cho phép linh mục được lập gia đình như tất cả mọi người để dễ hòa nhập hơn vào cộng đồng tín đồ. Phật giáo chủ trương nhập thế "Sống phúc âm trong lòng dân tộc”, "Dân tộc và đạo pháp” là tâm niệm cửa người Công giáo, người Phật giáo Việt Nam. Ngày nay, tại không ít nước theo đạo Hồi, các nhà lãnh đạo thức thời chủ trương kiến tạo quốc gia Hồi giáo ôn hòa, dân chủ. Lý do: Không có gì bất biến, không có gì tồn tại nếu nó đi ngược xu thế phát triển, nếu không được sự đồng tình và hưởng ứng cửa đông đảo nhân dân bằng cả con tim và khối óc.
Người cách mạng theo thuyết vô thần. Điều này tuyệt nhiên không đồng nhất với thái độ bài bác tôn giáo, tin ngưỡng, mà ngược lại. Thuyết vô thần đòi hỏi tách tôn giáo khỏi đời sống chính trị. Trong lịch sử loài người, một thành công cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền, khờ đầu từ cách mạng Pháp 1789, là đặt tiền đề loại bỏ vai trò độc tôn của nhà thờ Công giáo, không để nhà thờ chi phối đường lối chính trị, các chính sách giáo dục, xã hội… cửa quốc gia, tiến tới Nhà nước thế tục. Nhiều nước ngày nay đa số dân theo đạo, mà họ vẫn khẳng định chính thể đứng ngoài tôn giáo, phi tôn giáo. Hiến pháp không cho phép dạy giáo lý tại trường công lập, cấm phô trương lộ liễu biểu tượng tín ngưỡng hoặc hành lễ tại cơ quan, trụ sở, nơi vui chơi công cộng... Chủ trương ấy không gì khác ngoài sự tôn trọng quyền tâm linh của mỗi cá nhân, của mỗi công đồng đa số cũng như thiểu số, có tín ngưỡng hoặc không tín ngưỡng, theo tôn giáo này hay tôn giáo khác. Đó là dân chủ. Những ai cố tình lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng làm mất ổn định xã hội, tổn hại đến dân chủ sẽ bị pháp luật nghiêm trị, và thà độ nghiêm khắc ấy ở bất kỳ đâu cũng được nhân dân đồng tình.
Ngày nay, một số thế lực tuy không thể không công nhận sự đúng đắn của đường lối đổi mới ở Việt Nam, vẫn mưu mô tìm cách lợi dụng các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện ý đồ chính trị đen tối. Nhân danh quyền tự do tôn giáo, họ lợi dụng nhiều hình thức ngụy trang dưới cáu vỏ tâm linh nhằm hạn chế, xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng , tự do tôn giáo hoặc không tôn giáo của người dân. Họ cố tình gây rối, tạo ra cớ để làm rùm beng về cái mà họ sẽ vu cáo là Việt Nam vi phạm quyền con người, cản trở tín ngưỡng. Nhân dân ta luôn luôn ủng hộ các nhà chức trách địa phương, trước những vấn đề này, có thái độ xử lý có tình nhưng kiên quyết.
Bên cạnh đó, xã hội đang tràn lan một hiện tượng không vui khác. Dường như ngày càng có nhiều cán bộ mê tín, dị đoan. Những người ấy hăng hái khôi phục lối ứng xử lỗi thời đã bị chính nhân dân vượt qua với đầy đủ ý thức trong chiến tranh, là thời gian diễn ra chết chóc, mất mát, bi thương. Điều không bình thường là sự thờ cúng đang vô tư lan tỏa tận công sở, cơ quan. Có nơi, vừa bước qua phòng thường trực đã nhìn thấy bát hương và đã ngũ quả. Tranh thần, ảnh thánh, bùa yểm vô tư dán bất kỳ đâu. Dịp lễ Tết, ngày sóc vọng, công việc đầu tiên khởi đầu công vụ của một số ít người nào đó là thắp nén hương xì xụp lễ lạy, khấn vái cầu lộc cầu tài, cầu lên chức tăng lương, tiền của vào như nước. Hành xử ấy không những trái với nhân sinh quan cách mạng mà còn vi phạm hiến chế. Pháp luật Nhà nước, quy chế cơ quan, đều lệ đoàn thể không cho phép làm những việc đó Không ai ngăn cản ai thờ cúng, tuy nhiên việc hành lễ phải làm tại nhà riêng, ở nơi dành cho tế tự. Càng không nên để những việc ấy diễn ra trong tám giờ vàng ngọc, là thời gian người công bộc được trả lương để làm công bộc.
Theo Sức khỏe & đời sống
Camap_casau
18-06-2006, 05:36 AM
http://i12.photobucket.com/albums/a233/muadongboy/tan%20man/Dao_Khong_con_hop_voi_thoi_nay_khon.jpgĐạo Khổng còn hợp với thời nay không?
Trước đây, dưới thời Pháp thuộc, đã từng có những đợt nghiên cứu và đánh giá lại Nho giáo với các học giả có tên tuổi như Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh… Rồi đến khi nổ ra cuộc “cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc, với phong trào “phế Khổng, phê Lâm” thì ở nước ta lại rộ lên cuộc tranh luận “quét sạch tàn dư của Khổng giáo” (xem Xưa & Nay số 197, tháng 10/2003). Gần đây, trong mối giao lưu và hội nhập ngày càng được đẩy mạnh với các nước trong khu vực, nhiều học giả đã quay trở lại với việc đánh giá vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam thời hiện đại. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn đọc tổng hợp một số ý kiến của các học giả nước ngoài, và quan diểm của một số nhà nghiên cứu Việt Nam đối với vấn đề trên.
Ở Nhật Bản, ngày 6/4/1868 Minh Trị Thiên Hoàng long trọng tuyên bố cai trị theo ý nguyện của dân và đề ra cương lĩnh hành động trong đó có điểm mấu chốt: "Học tập nước ngoài để xây dựng đất nước". Phong trào Âu hóa đất nước phát triển rầm rộ vào những năm đầu thời Minh Trị. Nhà nước Nhật Bản đã tiếp thu mạnh mẽ những thành tựu của phương Tây, đã muốn giáo dục con em họ theo nội dung đạo đức Châu Âu. Họ say mê tân học bài xích cựu học. Nhưng đến giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XIX chủ nghĩa Âu hóa lại bị dân chúng phê phán vì không phù hợp với xã hội Nhật Bản. Họ đòi phục hồi lại những giá trị truyền thống của Nhật Bản - giáo dục theo Nho giáo, lấy Nhân - Nghĩa –Trung - Hiếu làm nòng cốt.
Nguyên Điều Vĩnh Phù- một nhà giáo dục nổi tiếng Nhật Bản thời đó viết: Điều quan trọng của giáo dục là phải minh xác các điều Nhân - Nghĩa - Trung - Hiếu, phải nghiên cứu hiểu biết các tri thức, nghề nghiệp, phải thực hiện đầy đủ đạo làm người, đó là phương châm lớn từ trước đến nay của đất nước ta, tồn tại từ trên xuống dưới ở khắp mọi người. Nhưng có thể nêu ra tình hình là gần đây lại có thói tôn sùng tri thức nghề nghiệp, rơi vào chỗ sau chót của sự văn minh khai hóa, làm tổn hại nhiều đến phẩm hạnh, phong tục. Có thể nêu lên rằng những người đi hàng đầu muốn phá vỡ tập quán vốn có từ xưa mở rộng tri thức ra toàn thế giới, nhất thời tiếp thu chỗ mạnh của phương Tây, đặt Nhân - Nghĩa - Trung - Hiếu ở sau, phải đặt nó trên cơ sở giáo huấn kinh điển của tổ tiên, phải xác đinh rõ ràng việc học trung hiếu đạo đúc, lấy Khổng Tử, lấy việc mọi người phải tôn sùng sự thành thục, phẩm hạnh làm điều trọng yếu..." (Giáo học thánh chỉ) (l).
Trong lúc tân học bài xích cựu học thì nhờ có Minh Trị Thiên Hoàng là bậc minh quân cương quyết đã điều hòa giải quyết gìn giữ tinh thần đạo đức cổ truyền mà lại nghiên cứu văn minh khoa học đã đưa nước. Nhật yếu kém, chỉ trong vòng mươi năm vượt lên đứng ngang hàng với các nước Âu Mỹ. Ngày 30/10/1890 trong chỉ dụ Minh Trị Thiên Hoàng đã tỏ rõ lập trường cải cách của mình: “Các tiên đề đã sáng lập nước trên nền tảng rộng rãi chắc chắn, nền tảng ấy là nhân đức mà các đấng muốn cho ăn sâu rễ vào lâm hồn quốc dân, thần dân ta nhất tề trung hiếu từ đời này sang đời khác đã chứng tỏ việc các đấng tiên đế là mỹ hảo và đó là vinh dự của nước ta. Nguồn mạch giáo dục của giống nòi cũng do cái đức trung hiếu mà phát khởi. Hỡi các thần dân, đối với cha mẹ, các ngươi hãy hiếu thảo, đối với anh chị em, các ngươi yêu thương, trong gia đình hãy hoà hợp, trong sự giao du với bạn bè, các ngươi hãy trung thành. Hãy ăn ở cho nhã nhặn tiết độ, hãy hảo tâm thiện chí với một người, hãy luyện tập các khoa học và nghệ thuật, hãy tiến triển các khả năng tri thức. Hãy phát huy các lực lượng luân lý. Hãy quan tâm đến công lợi, công ích, hãy kính trọng hiến pháp, hãy giữ gìn luật lệ khi cần thiết hãy đưa vai gánh vác giang sơn, hãy ân cần bảo vệ nền thịnh vượng của quốc gia. Làm như vậy các ngươi sẽ là những công dân tốt và giúp vào việc duy trì nền văn minh thịnh vượng khiến cho dân tộc Đại Nhật hãnh diện với các nước văn minh" (2).
Để hưởng ứng ý nguyện canh tân của nhà vua, thân sĩ và nhân dân Nhật đều phấn khởi chung lo việc nước. Toàn quốc thành lập nhiều hội Tư Văn để đào tạo tư cách con người. Ai nấy đều lo tự tỉnh tự cường, giữ gìn tinh thần đạo đức cổ truyền lại tiếp thu văn minh khoa học Âu - Mỹ.
Bây giờ chúng ta quay lại Trung Hoa cội nguồn phát sinh ra học thuyết Nho giáo để nghiên cứu sự thăng trầm của Nho giáo trong thời cận, hiện đại. Sau khi cách mạng Tân Hợi thành công (1911), chế độ phong kiến tồn tại hàng mấy ngàn năm bi lật đổ, Trung Hoa Dân quốc được thành lập Thái Nguyên Bồi nhận chức Tổng trưởng Giáo dục. Do thấy trong tôn chỉ giáo dục đời Thanh có hai điều là: "Trung quân và tôn Khổng, mà trung quân thì không hợp với chính thể cộng hòa, tôn Khổng thì trái ngược với tự do tín ngưỡng nên xóa việc tôn thờ Đức Khổng Tử. Mùa thu năm Dân Quốc thứ năm (1916), Khang Hữu Vi đệ thư lên cho Lê Nguyên Hồng và Đoàn Kỳ Thụy yêu cầu lấy Khổng giáo làm quốc giáo, đưa vào hiến pháp. Bởi những việc đó gây cản trở cho phong trào dân chủ nên dẫn tới sự chống đối của Trần Độc Tú. Trần Độc Tú cho rằng Khổng giáo không dung hòa được với chế độ lập hiến, do vậy đạo Khổng đi ngược với cuộc sống hiện đại. Lý lẽ đó hợp với tâm lý ghét chế độ đế chế của thanh niên và trí thức đương thời dẫn đến sự công kích toàn diện truyền thống Nho giáo (3). Do vậy, họ bỏ học thuyết duy lý nhã nhặn, kín đáo của Khổng Tử, đi theo học thuyết duy lý máy móc của phương Tây. Vả lại đạo Khổng bảo thủ, dung hòa được sự hăng hái của tuổi trẻ và sự thận trọng của tuổi già. Cách mạng chỉ biết có tuổi trẻ, và mỉm cười trước lời khuyên này của Khổng Tử "Người nào cho những bờ đê cũ là vô ích và phá bỏ đi thì một ngày kia sẽ bị tai hại của nạn lụt lội” (4).
Khi phong trào chống Nho gia đạt đến cao trao thì Lương Thấu Minh là người mở đầu cuộc cách mạng tư tưởng, dựng ngọn cờ Nho giáo bắt đầu đề xướng Khổng học. Năm Dân Quốc thứ bảy (1918), Lương Thấu Minh mở một cuộc "Hội thảo triết học Khổng Tử” ở sở Nghiên cứu triết học. Ông đã nói lên quan điểm lập trường của ông khi mở cuộc hội thảo triết học ấy"… ở Trung Quốc ngày nay có người đề xướng Tây học, có người đề xướng Phật học, chỉ về Khổng Tử là ngượng mồm không ai đám nói đến. Sự thật về Khổng Tử nếu tôi không đề xướng thì chẳng ai đề xướng? Đó là duyên cớ bức tôi tự mình đến sống ở nhà họ Khổng” (5).
Trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Trung Quốc, để đoàn kết nhân tâm cùng nhau chống Nhật, chủ nghĩa dân tộc được hình thành. Nhà nước cũng nêu cao tinh thần dân tộc, khôi phục đạo đức vốn có. Quốc Dân Đảng thúc đẩy phong trào đời sống mới, việc đó được xây dựng trên luân lý truyền thống. Chính trong không khí chân hưng luân lý truyền thống này, năm Dân Quốc thứ 23 (1934) khôi phục lại ngày lễ kỷ niệm Thánh Đản của Đức Khổng Tử đã bị Thái Nguyên Bồi bãi bỏ từ năm đầu Dân Quốc (1912). Trong lễ kỷ niệm nay người được mời nói về học thuyết của Khổng Tử chính là Lương Thấu Minh - người đầu tiên nêu ngọn cờ phục hưng truyền thống Nho giáo (6).
Trong các thập kỷ 50, 60, 70 ở Trung Quốc vẫn tiếp tục phê phán Nho giáo. Nhưng vì nghiên cứu theo định hướng trước nên thiếu phần khách quan trong phân tích và nhận định không có sức thuyết phục. Trong thời kỳ này người ta biết phê phán, học thuật thành phê phán chính trị, người ta gắn “phê phán” Khổng Tử với phê phán các nhà chính trị, quân sự đương đại của Trung Quốc. Họ phủ nhận sạch trơn Nho học, Nho giáo theo chủ nghĩa hư vô, thậm chí oán ghét quá khứ, đập phá quá khứ (7).
Ngày nay, ở Trung Quốc vai trò của Nho giáo đã được căn bản khẳng định. Giới học thuật Trung Quốc đã có Tạp chí nghiên cứu riêng về Khổng Tử. Hàng trăm đầu sách nghiên cứu về Nho học - Nho giáo ở Bắc Kinh, Thượng Hải và các tỉnh đã được xuất bản. Các học giả nổi tiếng như Lý Trạch Hậu, Trương Đại Niên, Thái Thượng Tư, Trương Lập Văn, Thang Nhất Giới, Phương Lập Thiên... đều lên tiếng "phản tư” (suy nghĩ lại). Họ khẳng định những giá trị xã hội của Khổng Tử, Mạnh Tử, đồng thời chỉ ra những nhân tố hợp lý và những nhân tố còn hạn chế của Nho giáo (8).
Nho học - Nho giáo là thành tố văn hóa truyền thống của nhiều nước Đông Á. Ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc cũng đã có nhiều cuộc thảo luận về Nho học Nho giáo. Các học giả nghiên cứu Nho học - Nho giáo ở Đài Loan như Dư Thời Anh, Phó Bội Vinh, Thẩm Thanh Tùng, ở Nhật Bản như Morishima Michio, Hoàng Sơn Mẫn Thu, ở Hàn Quốc như Lý Hữu Thành, Di Ngư Thuần đều có những công trình nghiên cứu sâu sắc về Nho giáo, đều nêu lên những ưu điểm nổi trội của Nho giáo như về các vấn đề gia đình, đất nước về học thuyết Nhân và Lễ. Ở Pháp giáo sư Léon Vandermeerch cũng khẳng định tác dụng tích cực của Nho giáo ở các nước Đông Á. Rõ ràng gần đây có cái "nhiệt Nho giáo” trong nghiên cứu khoa học xã hội hiện đại ở nhiều nước (9).
Ở Nhật Bản và "bốn con rồng Châu Á" nhiều tác giả và các Nhà quản lý lại cho rằng, Nho giáo có nhiều yếu tố tích cực giúp cho các nước này tăng trưởng và phát triển.
Singapore là một xã hội đa nguyên, đa dân tộc, đa tôn giáo, người Hoa chiếm đa số. Tháng 2/1982 các nhà đương cục về giáo dục Singapore tuyên bố đưa các môn luân lý học và nho giáo vào các khóa trình tôn giáo để các học sinh năm thứ 3 và thứ 4 trung học lựa chọn. Tháng 6/1982 phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục Ngô Khánh Thụy cầm đầu một phái đoàn sang Hoa Kỳ bàn với các học giả Nho giáo người Mỹ gốc Hoa về những nguyên tắc và kế hoạch thúc đẩy việc thực hiện luân lý Nho giáo. Tháng 7/1982 có 8 vị học giả từ Mỹ đến Singapore để tìm hiểu tình hình, giúp các học giả Singapore thực hiện việc đó. Các nhà lãnh đao Singapore là Lý Quang Điệu và Ngô Khánh Thụy đã phát biểu ý kiến nhấn mạnh tầm quan trọng của luân lý Nho giáo và mối quan hệ sâu sắc giữa tư tưởng Nho giáo với xã hội người Hoa. Năm 1987 các học giả Singapore và Trung Quốc tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế lớn về Nho học ở Khúc Phụ quê hương Đức Khổng (l0).
Tại Hội nghị khoa học quốc tế về nghiên cứu Khổng Tử và Đại hội thành lập liên hiệp Nho học quốc tế nhân kỷ niệm 2.545 năm sinh Khổng Tử tháng 10/1994 ở Bắc Kinh, Lý Quang Diệu - nguyên Thủ tướng Singapore đã nói lên mối quan hệ xã hội Singapore và Nho giáo. Ông cho rằng, nội dung giáo dục con người hiện nay ở nước ông là phát huy các giá trị quan và quy phạm luân lý Nho gia: "76% nhân khẩu Singapore là người Hoa. Văn hóa dân tộc Hoa chú trọng ngũ luân, cũng tức cha - con có tình thân, vua - quan thì có nghĩa, chồng - vợ có khác biệt, trưởng - ấu có thứ tự, bạn - bè có điều tin. Họ xem lợỉ ích xã hội cao hơn lợi ích cá nhân, do đó không tiếp thu chủ nghĩa cá nhân vô hạn độ của Mỹ" (11).
Ông Lý Quang Diệu nêu rõ một số ý kiến về kết quả thực tế về giá trị quan Nho giáo đưa lại: "Từ kinh nghiệm quản lý nước Singapore, đặc biệt là trong những ngày gian khổ từ năm 1959-1969 khiến tôi tin tưởng sâu sắc rằng, nếu không phải là đại bộ phận nhân dân Singapore, đặc biệt là trong đại bộ phận nhân dân Singapore được hun đúc giá trị quan của Nho học thì chúng tôi không có cách gì có thể khắc phục được những khó khăn và trở ngại đã vấp phải (12).
Cũng tại hội nghị trên ông Cốc Mục, Hội trưởng Hội nghiên cứu Khổng học Trung Quốc cũng đã nói triển vọng của Nho học - Nho giáo trong phạm vi quốc tế: "Nho học, văn hóa truyền thống cổ xưa của phương Đông này có khả năng thu hút được giá trị mới, gây được ảnh hương tích cực trong sự phát triển mới của xã hội loài người trên thế giới ở một khu vực rộng lớn (13).
Năm 1995, Hội nghị quốc tế về Nho giáo tồ chúc tại Bắc Kinh đã bầu ông Lý Quang Diệu làm Chủ tịch Hội Khổng học thế giới. Còn ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu Nho giáo như thế nào? Gần đây ở Việt Nam việc nghiên cứu Nho giáo lại có chiều hướng mở rộng với các học giả Trần Văn Giàu, Nguyễn Khắc Viện, Vũ Khiêu, Nguyễn Tài Thư, Quang Đạm, Lê Sĩ Thắng… riêng giáo sư Nguyễn Tài Thư thuộc Viện Triết học là thành viên tham dự Hội thảo quốc tế về Khổng Tử tại Bắc Kinh năm 1994.
Ý kiến của các nhà nghiên cứu Việt Nam nói trên có điểm không thống nhất ngay từng học giả riêng biệt cũng không nhất quán, hiện tại không giống trước kia: Nói chung các nhà nghiên cứu chỉ tập trung phân tích sâu sắc ảnh hưởng tích cực và những hạn chế của Nho giáo ở Việt Nam. Nội dung nghiên cứu của Nho học và Nho giáo trong gần thập kỷ 90 của thề kỷ trước chủ yếu là tìm hiểu hệ thống giá trị của Nho giáo, sự bất lực của nó đối với xã hội trong thời gian khoảng hơn thế kỷ vừa qua. Trên thực tế các nhà nghiên cửu Việt Nam chưa đề cập nhiều đến vấn đề lịch sử phát triển của Nho giáo ở Việt Nam và đặc điểm Nho giáo Việt Nam giống và khác với Trung Quốc ở điểm nào (14).
Kế thừa tinh hoa Nho học - Nho giáo hoàn toàn không có nghĩa là quay trở lại với xã hội Nho học - Nho giáo ngày xưa. Xã hội phong kiến đã qua không bao giờ trở lại những tinh hoa của Nho giáo vẫn là công cụ hữu ích cho quá trình phát triển xã hợi ngày nay. Để kết thúc tôi xin mượn lời của Will Durant nhận xét về học thuyết tư tưởng Khổng Tử: Không nên trách Khổng Tử về tất cả những nhược điểm ấy. Không ai lại đòi một triết gia phải suy tư cho hai chục thế kỷ. Trong một đời người làm sao có thể tìm được con đường đưa tới tri thức cho hết thảy các đời sau. Mà rất ít người làm nhiệm vụ ấy một cách đầy đủ như Khổng Tử. Càng hiểu rõ ông, chúng ta càng ngạc nhiên rằng chỉ có một phần nhỏ trong đạo của ông là không hợp với khoa học, với những sự biến đổi do thời gian. Khi ta nhận thấy rằng ngay ở thời đại chúng ta, ông vẫn còn là người chỉ đường chắc chắn cho chúng ta thì chúng ta quên những lời đôi khi hơi nhàm của ông và đức độ quá hoàn toàn của ông làm cho ta có lúc chịu không nổi.
Theo Tạp chí Xưa & Nay
Powered by vBulletin® Version 4.1.8 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.