findsomethingforme
27-01-2009, 02:02 PM
Tết là một sinh hoạt văn hóa cổ truyền quan trọng của người Kinh nói chung và của các dân tộc thiểu số nói riêng. Mỗi dân tộc khác nhau sẽ mang bản sắc văn hóa, phong tục đón tết khác nhau. Nhưng tựu chung họ đều hưởng về những gì linh thiêng nhất, mang hơi thở của cuộc sống mới và cầu mong những điều hạnh phúc nhất.
Lễ cúng thần lúa của người Cơ Tu
Người Cơ Tu là một sắc tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer. Sắc tộc này có khoảng 37.000 người, cư trú chủ yếu trên dãy núi Trường Sơn tại các huyện Đông Giang. Tây Giang? (Quảng Nam), A Lưới, Phú Lộc (Thừa Thiên Huế).
Người Cơ Tu thường ăn Tết sau vụ thu hoạch, họ mở hội vui chơi trong ngày lễ cúng thần lúa gọi là Tết Pro-giê-râm. Đây là lễ lớn nhất trong năm. Trước Tết một tuần, dân làng thường tổ chức đi bắt cá tập thể ở những con sông lớn. Họ ngâm các loại trái, vỏ, rễ cây làm cho cá bị say tự động nổi lên mặt nước rồi tha hồ bắt.
Thực phẩm của người Cơ Tu trong ngày Tết chủ yếu là món ăn do đồng bào tự tay làm ra như nếp, lúa, sắn, ngô... Rượu cần và rượu tà vạt là thứ không thể thiếu trong ngày Tết của họ. Nào việc ủ rượu, phụ nữ Cơ Tu còn lo giã nếp, hái lá đốt để làm bánh sừng trâu (đặc sản của họ), nấu nhiều cơm lam để ăn và đãi khách. Ngoài ra, họ còn làm thêm món Za zá, một món ăn cũng được xem là đặc trưng của dân tộc. Họ dùng các loại rau, măng, lá môn, chuối xanh, thịt rừng hoặc cá, ếch nhái... trộn lại với nhau rồi cho vào ống nứa tươi và đốt lửa bên ngoài. Đây là món ăn dùng nhắm với rượu tà vạt.
Bên cạnh việc chuẩn bị nhiều món ăn, người Cơ Tu còn tổ chức các hoạt động văn hóa vui chơi như lễ hội đâm trâu, đánh cổng chiêng, nhảy điệu Za zá... Đây là điệu múa thiêng trong nghi lễ hiến sinh của người Cơ Tu, thể hiện sự vui mừng, lòng biết ơn đối với thần linh. Hiện nay, các cộng đồng dân tộc Cơ Tu sống rất gắn bó với người Kinh do đó những nghi thức truyền thống của họ đang bị giảm và mất dần.
Trước Tết một tuần, dân làng thường tổ chức đi bắt cá tập thể ở những con sông lớn. Họ ngâm các loại trái, vỏ, rễ cây làm cho cá bị say tự động nổi lên mặt nước tha hồ bắt.
http://tintuconline.com.vn/Library/myImages/15/2009/01/21/phongtuctet.jpg
Tết Bỏ Mả của người gia rai
Dân tộc Gia Rai thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo, có khoảng 4000 người. Họ sinh sống và cư trú chủ yếu tập trung ở tỉnh Gia Lai (90%), một bộ phận ở tỉnh Kon Tum (5%) và phía bắc tỉnh Đăk lăk (4%).
Tết của dân tộc Gia Rai còn gọi là tết Bò Mả. Lễ hội này giống với tục tảo mộ tết thanh minh của người Kinh và giống tết nhà Mả của đồng bào Ba Na nhưng được tổ chức lớn hơn nhiều. Khi lễ Bỏ Mả bắt đầu, ngoài nghĩa địa sẽ vang lên tiếng cồng, chiêng, trống và thanh la của đồng bào báo hiệu lễ Bỏ Mả đã đến. Mọi người trong buôn kéo nhau đến bên mồ mả của gia đình và dòng tộc, trên tay cầm đuốc sáng rực. Trước nhà mồ, người ta cắm một cây nêu treo những lá bùa xanh đỏ. Thầy cúng hoặc gia chủ lầm rầm khấn vái Giàng (trời), mong linh hồn của người chết được siêu thoát, về chung vui với những người ta bày rượu cần, thịt và đốt lửa ăn uống, vui chơi, nhảy múa thâu đêm suốt sáng.
Mọi người trong buôn kéo nhau đến bên mồ mả của gia đình và dòng tộc, trên tay cầm đuốc sáng rực
Tục vỗ mông của người H'Mông
Dân số của dân tộc H'Mông khoảng 558.000 người, cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang. Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An.
Người H'Mông có một hệ lịch riêng, vì vậy Tết của họ vào khoảng cuối tháng 11 đầu tháng 12 âm lịch. Tuy nhiên, ngày nay đa số đồng bào H'Mông đã ăn Tết Nguyên Đán như người Kinh, chỉ trừ một bộ phận nhỏ người H'Mông ở Mộc Châu vẫn duy trì song song Tết theo hệ lịch riêng của họ..
Như người Kinh, khoảng 25,26 tháng Chạp mọi người bắt đầu nghỉ ngơi chuẩn bị đón Tết. Với người H'Mông, ba món không thể thiếu trong mâm cỗ ngày tết là thịt, rượu và bánh ngô. Tuy nhiên, họ không đón giao thừa như người Kinh. Tối hoặc nửa đêm 30, mỗi nhà đều phải làm lễ cũng "ma nhà" (tổ tiên) bằng một con lơnkj sống, một con gà còn sống (phải là gà trống tơ). Sau khi cúng xong, đem lợn và gà đi giết thịt, rồi cúng một mâm thịt chín. Sau đó mới được ăn và uống rượu đến khi nghe thấy tiếng gà gáy đầu tiên. Đối với họ, tiếng gà gáy sáng sớm của mùng Một mới đánh dấu một năm mới bắt đầu.
Bên cạnh đó, Lễ hội Sải Sán hay Gầu Tào (hội cầu phúc) trong ngày tết là lễ hội lớn nhất trong năm và thể hiện nét đặc trưng văn hóa không thể thiếu của người H'Mông. Lễ hội này thường diễn ra vào ngày mùng Hai nhằm tạ ơn tổ tiên về mùa màng, súc vật, cầu cho con cháu đầy đàn. Hội có thể kéo dài ba ngày nếu một năm tổ chức một lần hoặc chín ngày nếu năm tổ chức một lần. Trong lễ hội, diễn ra rất nhiều hoạt động văn hóa như ném pao - một trong những trò người H'Mông rất thích, múa khèn, múa ô, hát ống, hát giao duyên...
Đặc biệt, vào ngày Tết, trai gái người H'Mông thường hay tụ tập dưới chân núi để vui xuân. Khi người con trai ưa người con gái nào đó, sẽ vỗ vào mông cô ta và dắt tay tìm chỗ tâm tình thâu đêm suốt sáng.
Tục gọi hồn của người Thái
Người Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái, có khoảng hơn một triệu người. Họ sống và cư trú chủ yếu ở Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An.
Thường 25 tháng Chạp là phiên chợ cuối cùng, lớn nhất trong năm của người Thái. Sau vài ngày dọn dẹp nhà cửa, tối 29 họ bắt đầu gói bánh chưng. Ngoài bánh chưng như của người Kinh, người Thái còn có thêm một loại bánh chưng màu đen. Để làm bánh chưng này, họ đốt rơm, lấy tro giã lẫn gạo nếp rồi sàng sạch muội tro mà vẫn giữ được màu đen. Đến tối 30 gia đình, bạn bè, bà con sum họp đông đủ bên mâm cơm tất niên. Sau lễ cúng giao thừa, mọi người uống rượu suốt đêm và canh cho nhang khói trên bàn thờ tổ tiên chay liên tục. Nhà nào có chiêng, cồng thì mang ra gõ tại nhà.
Một phong tục không thể thiếu trong ngày Tết của người Thái là gọi hồn. Thường vào tối 29 hoặc 30, mỗi gia đình thịt hai con gà, một để cúng tổ tiên, một để gọi hồn cho mọi người trong nhà. Đầu tiên, thầy cúng lấy một cái áo của mỗi người trong gia đình, bó lại một đầu với nhau, vắt lên vai, tay thầy cầm một cay củi đang cháy, mang ra đầu làng gọi hồn hai ba lần, sau đó về chân cầu thang lại gọi một lần nữa. Xong việc, thầy cúng đích thân thuộc một sợi chỉ đen vào tay mỗi thành viên gia đình để trừ tà, sợi chỉ đó phải để tự đứt, nếu tự ý đứt ra thì chủ nhân sẽ dễ bị ốm.
Bữa cơm Tết của người Thái có một món không thể thiếu là cá. Họ thường ăn kèm với các món nướng, chua, khô...
Thầy cúng đích thân buộc một sợi chỉ đen vào tay mỗi thành viên gia đình để trừ tà, sợi chỉ đó phải để tự đứt, nếu tự ý dứt ra thì chủ nhân sẽ dễ bị ốm.
http://tintuconline.com.vn/Library/myImages/15/2009/01/22/phongtuctet1.jpg
(Ảnh: http://tintuconline.com.vn/Library/myImages/@logo/Xomnhiepanh.gif (http://www.xomnhiepanh.com/))
Người nùng kiêng gói bánh vào ngày chẵn
Ngôn ngữ của người Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, dân số khoảng gần một triệu người. Họ cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Hoàng Liên Sơn... Một số ít đã di cư vào Lâm Đồng và cư trú rải rác ở các huyện như Đơn Dương, Đức Trọng...
Tết của người Nùng thường kéo dài từ những ngày cuối của năm cũ đến hết 30 tháng giêng năm sau. Tết của người Nùng không cầu kỳ tốn kém nhưng chu tất và thịnh trọng. Thứ không thể thiếu trong phong tục ngày Tết của người Nùng là gà trống thiến và bánh khảo. Từ đầu tháng chạp, nhà nhà đã lo nhốt gà vào lồng để vỗ béo. Người Nùng kiêng gói bánh chưng vào ngày chẵn, theo họ đó là những ngày không tốt, nương ruộng dễ bị vỡ lở, sâu bọ phá hoại mùa màng. Đối với họ, bữa cơm chiều 30 Tết là lớn nhất trong năm, gia đình sum họp, thắp hương tưởng nhớ ông bà. Sáng mùng Một tết, người ta cắt những băng giấy đỏ dán lên tất cả những công cụ lao động trong gia đình và mỗi góc cây trong vườn nhà, chuồng trại... và thắp hương cầu thần linh phù hộ cho mọi việc đều tốt đẹp trong năm mới.
Người chăm hảo khách phương xa
Trên lãnh thổ Việt Nam có trên 120.000 người Chăm sinh sống. Một nửa người Đông Chăm sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và một số tỉnh khác như Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định. Một nửa Tây Chăm sinh sống ở An Giang, Đồng Tháp và Tây Ninh và một số ít cư trú ở Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong một năm, người Chăm có hai lễ lớn là Păng - Kate và Păng - Chabư xem như là hai Tết lớn của họ. Păng - Kate cử hành vào ngày 1 tháng 7 theo lịch Chăm tức khoảng tháng 9 dương lịch và Păng - Chabư cử hàng vào ngày 16 tháng 9 theo lịch Chăm tức vào khoảng tháng 2, tháng 3 dương lịch.
Sáng mùng Một tết, các chức sắc Chăm cùng toàn thể bà con xa gần đều tề tựu về ba nơi: đền Pô Nưgar, tháp Pô Rômê ở huyện Ninh Phước (Ninh Thuận) và tháp Pô Klông Garai ở thị xã Phan Rang - Tháp Chàm để hàng lễ. Các thầy cả và các bà Bóng ngồi theo phẩm trật, thứ tự cao thấp trong căn nhà dựng trước cửa đền hay cửa tháp.
Người Chăm gồm có 2 ngành: Ngành theo đạo Bà la môn rất kiêng thịt bò, còn ngành theo đạo Hồi thì kiêng ăn thịt lợn. Ngày tết, người Chăm theo đạo Hồi thường đến nhà thờ đạo Hồi vào ngày đầu năm để nghe chức sắc độc kinh Coran, cầu nguyện đấng Alah. Sau đó các tin hữu ra sông, ra suối tắm tẩy uế những cái xui, cái xấu của năm cũ và rước cái hay, cái tốt lành của năm mới.
Ngày Mồng 2 Tết là ngày dành riêng cho các chức sắc tết tại nhà. Họ giết lợn, giết gà vịt, bày đủ loại hoa quả, bánh trái. Người Chăm rất hảo khách phương xa, những người lạ không quen biết vẫn có thể đến chung vui một cách thoải mái. Họ còn tổ chức các trò vui chơi như múa quạt, tổ chức đánh cồng chiêng, ca hát uống rượu, bắn cung...
Người K"Ho - ăn mừng sau vụ găt
Người K"Ho sinh sống chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng. Họ gọi ngày Tết là Nholir-bông cũng là Tết mừng lúa mới, cơm mới nhưng không diễn ra đôi ba ngày như các dân tộc khác mà kéo dài cả tháng trời. Đây là tháng nghỉ ngơi sau vụ gặt. Trước khi diễn ra Tết Nholir-bông, người ta tổ chức lễ cúng thần gió, cầu cho mưa thuận gió hòa để mùa gặt năm sau của họ được bội thu. Vào Tết Nholir-bông, nhà nào cũng giết trâu, bò, lợn, gà làm thịt, rượu cần cúng mừng có thóc mới. Khi K"ho có tục lệ cắt tiết gà, lấy máu gà bôi lên bồ đựng thóc, các cửa lớn, cửa sổ: trộn máu gà với củ nghệ, mối đất, vỏ cây đa, cỏ tranh giã nhỏ, sau đó bôi lên ngực, lên trán của những người thân trong gia đình, bôi lên các đồ gia dụng với ý nghĩa cầu may, trừ tà.
Trong tháng tết, cả buôn làng kéo nhau đi từ nhà này sang nhà khác ăn uống, chúc mừng, nhảy múa rất sôi động.
Tục đánh thức gia súc của người Lô Lô
Người Lô Lô là một sắc tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang và một số ít ở tỉnh Cao Bằng. Họ đón Tết khá giống người Kinh. Từ ngày 29,30 Tết, nhà đã đều dọn dẹp sạch sẽ, chuẩn bị lợn gà, bánh trái để cúng tổ tiên. Chiều 30 Tết, các gia đình cũng sum họp đông đủ bên mâm cơm cuối năm, cúng kính tổ tiên và chúc phúc cho các thành viên trong gia đình.
Họ đón giao thừa bằng cách đánh thức tất cả các gia súc... cùng chung vui.
Tuy nhiên, người Lô Lô cũng có những phong tục riêng. Họ đón giao thừa bằng cách đánh thức tất cả các gia súc...cùng chung vui. Đồng thời, những đồ dùng trong gia đình và cây cối trong vườn đều được dán giấy màu vàng hay màu bạc để chúng nghỉ ngơi trong ba ngày Tết. Không ai được đụng đến hoặc di chuyển đi chỗ khác. Từ trẻ đến già đều thức thâu đêm suốt sáng hòa vào không khí nhộn nhịp chung của cả dân làng.
Theo Phong Vân
http://tintuconline.com.vn/Library/myImages/@logo/mythuat.gif
Lễ cúng thần lúa của người Cơ Tu
Người Cơ Tu là một sắc tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer. Sắc tộc này có khoảng 37.000 người, cư trú chủ yếu trên dãy núi Trường Sơn tại các huyện Đông Giang. Tây Giang? (Quảng Nam), A Lưới, Phú Lộc (Thừa Thiên Huế).
Người Cơ Tu thường ăn Tết sau vụ thu hoạch, họ mở hội vui chơi trong ngày lễ cúng thần lúa gọi là Tết Pro-giê-râm. Đây là lễ lớn nhất trong năm. Trước Tết một tuần, dân làng thường tổ chức đi bắt cá tập thể ở những con sông lớn. Họ ngâm các loại trái, vỏ, rễ cây làm cho cá bị say tự động nổi lên mặt nước rồi tha hồ bắt.
Thực phẩm của người Cơ Tu trong ngày Tết chủ yếu là món ăn do đồng bào tự tay làm ra như nếp, lúa, sắn, ngô... Rượu cần và rượu tà vạt là thứ không thể thiếu trong ngày Tết của họ. Nào việc ủ rượu, phụ nữ Cơ Tu còn lo giã nếp, hái lá đốt để làm bánh sừng trâu (đặc sản của họ), nấu nhiều cơm lam để ăn và đãi khách. Ngoài ra, họ còn làm thêm món Za zá, một món ăn cũng được xem là đặc trưng của dân tộc. Họ dùng các loại rau, măng, lá môn, chuối xanh, thịt rừng hoặc cá, ếch nhái... trộn lại với nhau rồi cho vào ống nứa tươi và đốt lửa bên ngoài. Đây là món ăn dùng nhắm với rượu tà vạt.
Bên cạnh việc chuẩn bị nhiều món ăn, người Cơ Tu còn tổ chức các hoạt động văn hóa vui chơi như lễ hội đâm trâu, đánh cổng chiêng, nhảy điệu Za zá... Đây là điệu múa thiêng trong nghi lễ hiến sinh của người Cơ Tu, thể hiện sự vui mừng, lòng biết ơn đối với thần linh. Hiện nay, các cộng đồng dân tộc Cơ Tu sống rất gắn bó với người Kinh do đó những nghi thức truyền thống của họ đang bị giảm và mất dần.
Trước Tết một tuần, dân làng thường tổ chức đi bắt cá tập thể ở những con sông lớn. Họ ngâm các loại trái, vỏ, rễ cây làm cho cá bị say tự động nổi lên mặt nước tha hồ bắt.
http://tintuconline.com.vn/Library/myImages/15/2009/01/21/phongtuctet.jpg
Tết Bỏ Mả của người gia rai
Dân tộc Gia Rai thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo, có khoảng 4000 người. Họ sinh sống và cư trú chủ yếu tập trung ở tỉnh Gia Lai (90%), một bộ phận ở tỉnh Kon Tum (5%) và phía bắc tỉnh Đăk lăk (4%).
Tết của dân tộc Gia Rai còn gọi là tết Bò Mả. Lễ hội này giống với tục tảo mộ tết thanh minh của người Kinh và giống tết nhà Mả của đồng bào Ba Na nhưng được tổ chức lớn hơn nhiều. Khi lễ Bỏ Mả bắt đầu, ngoài nghĩa địa sẽ vang lên tiếng cồng, chiêng, trống và thanh la của đồng bào báo hiệu lễ Bỏ Mả đã đến. Mọi người trong buôn kéo nhau đến bên mồ mả của gia đình và dòng tộc, trên tay cầm đuốc sáng rực. Trước nhà mồ, người ta cắm một cây nêu treo những lá bùa xanh đỏ. Thầy cúng hoặc gia chủ lầm rầm khấn vái Giàng (trời), mong linh hồn của người chết được siêu thoát, về chung vui với những người ta bày rượu cần, thịt và đốt lửa ăn uống, vui chơi, nhảy múa thâu đêm suốt sáng.
Mọi người trong buôn kéo nhau đến bên mồ mả của gia đình và dòng tộc, trên tay cầm đuốc sáng rực
Tục vỗ mông của người H'Mông
Dân số của dân tộc H'Mông khoảng 558.000 người, cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang. Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An.
Người H'Mông có một hệ lịch riêng, vì vậy Tết của họ vào khoảng cuối tháng 11 đầu tháng 12 âm lịch. Tuy nhiên, ngày nay đa số đồng bào H'Mông đã ăn Tết Nguyên Đán như người Kinh, chỉ trừ một bộ phận nhỏ người H'Mông ở Mộc Châu vẫn duy trì song song Tết theo hệ lịch riêng của họ..
Như người Kinh, khoảng 25,26 tháng Chạp mọi người bắt đầu nghỉ ngơi chuẩn bị đón Tết. Với người H'Mông, ba món không thể thiếu trong mâm cỗ ngày tết là thịt, rượu và bánh ngô. Tuy nhiên, họ không đón giao thừa như người Kinh. Tối hoặc nửa đêm 30, mỗi nhà đều phải làm lễ cũng "ma nhà" (tổ tiên) bằng một con lơnkj sống, một con gà còn sống (phải là gà trống tơ). Sau khi cúng xong, đem lợn và gà đi giết thịt, rồi cúng một mâm thịt chín. Sau đó mới được ăn và uống rượu đến khi nghe thấy tiếng gà gáy đầu tiên. Đối với họ, tiếng gà gáy sáng sớm của mùng Một mới đánh dấu một năm mới bắt đầu.
Bên cạnh đó, Lễ hội Sải Sán hay Gầu Tào (hội cầu phúc) trong ngày tết là lễ hội lớn nhất trong năm và thể hiện nét đặc trưng văn hóa không thể thiếu của người H'Mông. Lễ hội này thường diễn ra vào ngày mùng Hai nhằm tạ ơn tổ tiên về mùa màng, súc vật, cầu cho con cháu đầy đàn. Hội có thể kéo dài ba ngày nếu một năm tổ chức một lần hoặc chín ngày nếu năm tổ chức một lần. Trong lễ hội, diễn ra rất nhiều hoạt động văn hóa như ném pao - một trong những trò người H'Mông rất thích, múa khèn, múa ô, hát ống, hát giao duyên...
Đặc biệt, vào ngày Tết, trai gái người H'Mông thường hay tụ tập dưới chân núi để vui xuân. Khi người con trai ưa người con gái nào đó, sẽ vỗ vào mông cô ta và dắt tay tìm chỗ tâm tình thâu đêm suốt sáng.
Tục gọi hồn của người Thái
Người Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái, có khoảng hơn một triệu người. Họ sống và cư trú chủ yếu ở Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An.
Thường 25 tháng Chạp là phiên chợ cuối cùng, lớn nhất trong năm của người Thái. Sau vài ngày dọn dẹp nhà cửa, tối 29 họ bắt đầu gói bánh chưng. Ngoài bánh chưng như của người Kinh, người Thái còn có thêm một loại bánh chưng màu đen. Để làm bánh chưng này, họ đốt rơm, lấy tro giã lẫn gạo nếp rồi sàng sạch muội tro mà vẫn giữ được màu đen. Đến tối 30 gia đình, bạn bè, bà con sum họp đông đủ bên mâm cơm tất niên. Sau lễ cúng giao thừa, mọi người uống rượu suốt đêm và canh cho nhang khói trên bàn thờ tổ tiên chay liên tục. Nhà nào có chiêng, cồng thì mang ra gõ tại nhà.
Một phong tục không thể thiếu trong ngày Tết của người Thái là gọi hồn. Thường vào tối 29 hoặc 30, mỗi gia đình thịt hai con gà, một để cúng tổ tiên, một để gọi hồn cho mọi người trong nhà. Đầu tiên, thầy cúng lấy một cái áo của mỗi người trong gia đình, bó lại một đầu với nhau, vắt lên vai, tay thầy cầm một cay củi đang cháy, mang ra đầu làng gọi hồn hai ba lần, sau đó về chân cầu thang lại gọi một lần nữa. Xong việc, thầy cúng đích thân thuộc một sợi chỉ đen vào tay mỗi thành viên gia đình để trừ tà, sợi chỉ đó phải để tự đứt, nếu tự ý đứt ra thì chủ nhân sẽ dễ bị ốm.
Bữa cơm Tết của người Thái có một món không thể thiếu là cá. Họ thường ăn kèm với các món nướng, chua, khô...
Thầy cúng đích thân buộc một sợi chỉ đen vào tay mỗi thành viên gia đình để trừ tà, sợi chỉ đó phải để tự đứt, nếu tự ý dứt ra thì chủ nhân sẽ dễ bị ốm.
http://tintuconline.com.vn/Library/myImages/15/2009/01/22/phongtuctet1.jpg
(Ảnh: http://tintuconline.com.vn/Library/myImages/@logo/Xomnhiepanh.gif (http://www.xomnhiepanh.com/))
Người nùng kiêng gói bánh vào ngày chẵn
Ngôn ngữ của người Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, dân số khoảng gần một triệu người. Họ cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Hoàng Liên Sơn... Một số ít đã di cư vào Lâm Đồng và cư trú rải rác ở các huyện như Đơn Dương, Đức Trọng...
Tết của người Nùng thường kéo dài từ những ngày cuối của năm cũ đến hết 30 tháng giêng năm sau. Tết của người Nùng không cầu kỳ tốn kém nhưng chu tất và thịnh trọng. Thứ không thể thiếu trong phong tục ngày Tết của người Nùng là gà trống thiến và bánh khảo. Từ đầu tháng chạp, nhà nhà đã lo nhốt gà vào lồng để vỗ béo. Người Nùng kiêng gói bánh chưng vào ngày chẵn, theo họ đó là những ngày không tốt, nương ruộng dễ bị vỡ lở, sâu bọ phá hoại mùa màng. Đối với họ, bữa cơm chiều 30 Tết là lớn nhất trong năm, gia đình sum họp, thắp hương tưởng nhớ ông bà. Sáng mùng Một tết, người ta cắt những băng giấy đỏ dán lên tất cả những công cụ lao động trong gia đình và mỗi góc cây trong vườn nhà, chuồng trại... và thắp hương cầu thần linh phù hộ cho mọi việc đều tốt đẹp trong năm mới.
Người chăm hảo khách phương xa
Trên lãnh thổ Việt Nam có trên 120.000 người Chăm sinh sống. Một nửa người Đông Chăm sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và một số tỉnh khác như Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định. Một nửa Tây Chăm sinh sống ở An Giang, Đồng Tháp và Tây Ninh và một số ít cư trú ở Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong một năm, người Chăm có hai lễ lớn là Păng - Kate và Păng - Chabư xem như là hai Tết lớn của họ. Păng - Kate cử hành vào ngày 1 tháng 7 theo lịch Chăm tức khoảng tháng 9 dương lịch và Păng - Chabư cử hàng vào ngày 16 tháng 9 theo lịch Chăm tức vào khoảng tháng 2, tháng 3 dương lịch.
Sáng mùng Một tết, các chức sắc Chăm cùng toàn thể bà con xa gần đều tề tựu về ba nơi: đền Pô Nưgar, tháp Pô Rômê ở huyện Ninh Phước (Ninh Thuận) và tháp Pô Klông Garai ở thị xã Phan Rang - Tháp Chàm để hàng lễ. Các thầy cả và các bà Bóng ngồi theo phẩm trật, thứ tự cao thấp trong căn nhà dựng trước cửa đền hay cửa tháp.
Người Chăm gồm có 2 ngành: Ngành theo đạo Bà la môn rất kiêng thịt bò, còn ngành theo đạo Hồi thì kiêng ăn thịt lợn. Ngày tết, người Chăm theo đạo Hồi thường đến nhà thờ đạo Hồi vào ngày đầu năm để nghe chức sắc độc kinh Coran, cầu nguyện đấng Alah. Sau đó các tin hữu ra sông, ra suối tắm tẩy uế những cái xui, cái xấu của năm cũ và rước cái hay, cái tốt lành của năm mới.
Ngày Mồng 2 Tết là ngày dành riêng cho các chức sắc tết tại nhà. Họ giết lợn, giết gà vịt, bày đủ loại hoa quả, bánh trái. Người Chăm rất hảo khách phương xa, những người lạ không quen biết vẫn có thể đến chung vui một cách thoải mái. Họ còn tổ chức các trò vui chơi như múa quạt, tổ chức đánh cồng chiêng, ca hát uống rượu, bắn cung...
Người K"Ho - ăn mừng sau vụ găt
Người K"Ho sinh sống chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng. Họ gọi ngày Tết là Nholir-bông cũng là Tết mừng lúa mới, cơm mới nhưng không diễn ra đôi ba ngày như các dân tộc khác mà kéo dài cả tháng trời. Đây là tháng nghỉ ngơi sau vụ gặt. Trước khi diễn ra Tết Nholir-bông, người ta tổ chức lễ cúng thần gió, cầu cho mưa thuận gió hòa để mùa gặt năm sau của họ được bội thu. Vào Tết Nholir-bông, nhà nào cũng giết trâu, bò, lợn, gà làm thịt, rượu cần cúng mừng có thóc mới. Khi K"ho có tục lệ cắt tiết gà, lấy máu gà bôi lên bồ đựng thóc, các cửa lớn, cửa sổ: trộn máu gà với củ nghệ, mối đất, vỏ cây đa, cỏ tranh giã nhỏ, sau đó bôi lên ngực, lên trán của những người thân trong gia đình, bôi lên các đồ gia dụng với ý nghĩa cầu may, trừ tà.
Trong tháng tết, cả buôn làng kéo nhau đi từ nhà này sang nhà khác ăn uống, chúc mừng, nhảy múa rất sôi động.
Tục đánh thức gia súc của người Lô Lô
Người Lô Lô là một sắc tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang và một số ít ở tỉnh Cao Bằng. Họ đón Tết khá giống người Kinh. Từ ngày 29,30 Tết, nhà đã đều dọn dẹp sạch sẽ, chuẩn bị lợn gà, bánh trái để cúng tổ tiên. Chiều 30 Tết, các gia đình cũng sum họp đông đủ bên mâm cơm cuối năm, cúng kính tổ tiên và chúc phúc cho các thành viên trong gia đình.
Họ đón giao thừa bằng cách đánh thức tất cả các gia súc... cùng chung vui.
Tuy nhiên, người Lô Lô cũng có những phong tục riêng. Họ đón giao thừa bằng cách đánh thức tất cả các gia súc...cùng chung vui. Đồng thời, những đồ dùng trong gia đình và cây cối trong vườn đều được dán giấy màu vàng hay màu bạc để chúng nghỉ ngơi trong ba ngày Tết. Không ai được đụng đến hoặc di chuyển đi chỗ khác. Từ trẻ đến già đều thức thâu đêm suốt sáng hòa vào không khí nhộn nhịp chung của cả dân làng.
Theo Phong Vân
http://tintuconline.com.vn/Library/myImages/@logo/mythuat.gif