View Full Version : Tuyển tập 2 của Cafe_alone
cafe_alone
07-03-2006, 04:23 PM
Cây bàng tuổi thơ - Lê Xuân Hoa
Chị được thừa hưởng từ mẹ mái tóc dài óng ả, nụ cười hiền hậu và những vần thơ xinh xinh cùng cả cái mác sinh viên khoa văn trường Tổng hợp. Thơ của chị không gửi đăng báo, chỉ viết cho bạn bè và người thân. Mỗi lần đọc xong những vần thơ dịu dàng ấy không biết nên buồn hay nên vui, thì cũng nắng, cũng mây, cũng gió… có lẽ là thứ cảm giác nhẹ nhàng kiểu như ta đang đứng ở sụ giao thoa giữa những cung bậc nhạt nhòạ Bởi vậy vui lên một chút cũng được hay buồn đi một tẹo cũng chẳng saọ
Em không biết làm thơ. Với em thơ chỉ là trò chơi cút bắt của những ngôn từ đỏng đảnh mà em thì chưa bao giờ tập cho bản thân thói kiên nhẫn. Bù lại thỉnh thoảng truyện ngắn của em cũng được xuất hiện trên báo này báo nọ, đủ để lũ bạn có cớ bắt em mở hầu bao cho những khoản chi bất ngờ không được tính đến trong dự toán ngân sách. Theo truyền thống gia đình em cũng học tổng hợp nhưng lại ngành luật. Ước mơ được trở thành một vị thẩm phán đã đeo đuổi tuổi thơ của em.
Gia đình chỉ có bốn người nhưng khoảng thời gian duy nhất để cả nhà sum họp đầy đủ chỉ dồn lại vào bữa cơm tốị Thì thời buổi kinh tế thị trường làm trong giờ, làm ngoài giờ, học trường chính, học trường phụ, thế mới mong đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hộị Bố thông báo “Tối nay họp gia đình”. Em cười “Chính phủ vừa ra nghị quyết mới hả bố?”. Mẹ nhăn mặt “im nghe bố mày nói”. “Sang năm mẹ về hưụ Thôi cống hiến thế cũng đủ rồị Tháng sau bố sẽ gọi thợ đến chặt cây bàng đi làm thêm gian ngoài cho mẹ mày bán hàng, chạy ra chạy vào có việc cũng đỡ buồn”. Chị thảng thốt “Chặt cây bàng hả bố?”. Lặng lẽ em đứng lên bước ra ngoài sân. Trăng đầu tháng chênh vênh như con thuyền độc mộc giữa biển sao lung linh. Tán lá bàng xanh mướt âu yếm xòa xuống. Em úp mặt, vòng tay quanh thân cây xót xa nghe những ngày thơ ấu vọng về.
Ngôi nhà của em nằm trên con đường ngoại ô nghiêng nghiêng hàng xà cừ xao xác lá. Cả phố chỉ có duy nhất một cây bàng trước cửa nhà em. Cây bàng ấy bằng tuổi chị. Bố kể ngày chị đầy tháng bố đã xin nó về, hì hụi mất cả buổi chiều để trồng và dựng xung quanh hàng rào tre kiên cố. Cây hàng lớn lên là niềm kiêu hãnh của em. Nó đã gắn bó với tuổi thơ của chị và em, đã đi qua những nỗi buồn và chia sẻ những niềm vui con trẻ. Cũng dưới gốc bàng này em xúng xính trong chiếc áo lấy trộm của mẹ, đầu choàng khăn bóng bay của chị, loay hoay ôm chiếc chổi quét nhà giả làm hoa cô dâu trước ngực. Thằng Hà nhặt những bông hoa vàng dịu li ti rắc lên tóc em. Nó ghé vào tai em thì thầm giọng nghiêm trang “Thi này, khi lớn lên - thật đấy – tao sẽ cưới mày làm vợ”. Ngày ấy em mới năm tuổị Hai năm sau gia đình Hà chuyển nhà. Nơi ở mới nghe đâu xa xôi lắm. Em không được làm nhân vật chính trong trò chơi cô dâu – chú rể nữạ Chị đùa “Thi bị mất chú rể rồi”. Nhưng trong em cây bàng vẫn mãi là nhân chứng cho lời tỏ tình thiêng liêng ấỵ
Giọng bố vang lên “Vào nhà đi con”. Em cắn môi “Không để cây bàng lại được hả bố?” “Thời đại kim tiền mà, mình không thể là ngoại lệ đứng ngoài guồng quay được. Rồi sẽ quen thôi”.
Mẹ xin ở đâu về được một con mèọ Nó có bộ lông vàng mượt và chỉ nhỏ bằng hai nắm taỵ Chị vui vẻ “may mà có con mèọ Dạo này nhà mình nhiều chuột quá”. Em nhìn con mèo run rẩy chui tít vào gầm giường đầy thất vọng “Kiểu này không khéo chuột nhà mình ra “chít” một cái mèo ngã lăn đùng. Sốc quá. Nhồi máu cơ tim luôn”. Mẹ gắt “Ăn nói hay nhỉ”. Em cười “nhà mình ấy hả, phải mua mèo rôbốt mới được”. Và dù không vồ được chú chuột nhắt nào, suốt ngày chỉ nằm dài phơi nắng nhưng chú miu vẫn giành được sự quan tâm, thương yêu của mọi người, dù sao nó cũng là thành viên nhỏ nhất trong gia đình. Bố bảo “Có nó cũng vui cửa vui nhà”. Mẹ gọi nó bằng “meo”, cái tên cúng cơm của họ nhà mèọ Chị nhất quyết kêu bằng “miu”, nghe thế mới dễ thương. Em kiếm được quả chuông nhỏ đeo vào cổ, mỗi khi nó chạy kêu leng reng khắp nhà và đặt tên cho nó là “Em lười”. Chị cười “Chẳng biết mèo lười hay Thi lười”. Em giận dỗi “Được rồi từ mai em sẽ chăm sóc cho nó” nhưng chỉ được vài ngàỵ Em Lười có vẻ quấn quít chị hơn. Em hay quên cho nó ăn, chỉ tại cái thời gian biểu của em không bao giờ chính xác. Mà mẹ vẫn bảo em là người thất thường đấy thôị
Em cầm cuốn sách làm văn trên tay giọng đều đều “hôm nay học bài nghị luận”. Học trò giở sách loạt xoạt, không thèm che đậy cái ngáp dàị “Em buồn ngủ à?”. “Thưa cô không ạ”. Em ngao ngán lấy hơi đọc một tràng “Nghị luận là…”. Học trò thò lấy tay di di lên mặt bàn. “Có hiểu cô vừa đọc gì không?”. Học trò gật đầu ngoan ngoãn “Thưa cô có ạ”. Em đặt sách xuống bàn thầm ngạc nhiên “Thế mà mình lại không hiểu mình đang đọc cái gì…”
Nghỉ giải laọ Học trò có vẻ tỉnh táo hơn “Cô có thích học văn không ?”. “Có chứ. Còn em?” “Em ghét cái môn này lắm, chẳng giúp được gì. Tại bố mẹ em cứ bắt học… mà cô học văn giỏi thế sao không học văn mà lại học luật?”. Không chờ em trả lời, học trò đã hí hững “À, em biết rồị Học luật kiếm được nhiều tiền hơn phải không cô?”.
Cho học trò nghỉ sớm 15 phút, em lấy xe đạp vòng quanh qua các dãy phố. Hà Nội của em thay đổi với tốc độ tên lửạ Đâu đâu cũng nhà cao tầng gắn những tấm kính đen xì. Báo chí ra sức kêu gọi tuyên truyền bảo tồn văn hóa dân tộc. Cơ chế thị trường mà. Vậy thì em còn tiếc cái cây bàng không sinh ra lợi nhuận ấy làm gì?
Em đạp xe về nhà, lo sợ vẩn vơ đến một ngày nào đó bọn trẻ con sẽ hỏi “Hà Nội mùa thu, cây bàng lá đỏ là gì hả cô?”.
Ngoài sân chất ngất gạch cát, xi măng ngổn ngang. Bố bận rộn trông coi đám thợ thỉnh thoảng lại than thở “Đấy không có con trai khổ thế đấy, làm việc nặng nhọc không có ai đỡ đần cho”. Em bước vào nhà. Mẹ bận bịu bên đống nồi niêu xoong chảọ “Mẹ, cây bàng của con…”. Mẹ xua tay “Cho hết rồị Cái cây đấy vô tích sự. Gỗ chỉ chẻ ra làm củi đun thôi”. Em đứng lặng. “Lên gác xem chị mày hôm nay làm sao ấy - mẹ hạ giọng – hình như buổi sáng nhận được thư. Chắc là của thằng Trung”.
Chị đứng ngoài ban công. Em Lười cuộn tròn ngủ ngon lành trên gốị Em đứng sau lưng chị, bàng hoàng nhận ra khoảng trống cây bàng để lạị Cả một khoảng không gian như chới với Chị quay lạị Mắt đỏ hoẹ Em dè dặt “Chị vừa nhận được thư bên Sydnây gửi về?”. Chị ngồi xuống giường ôm chú miu vào lòng, giọng mệt mỏi “Thi, chị muốn ngủ một chút”.
Buổi tối, bố cẩn thận lấy tiền ra đếm rồi đút vào phong bì. “Bố đi họp về?” “Họp hành gì, chuẩn bị đi cống nạp thì có”. Mẹ lạch xạch xếp bát đĩa vào mâm “Lúc nãy có mấy anh bên giao thông công chính lại cả phường nữa…”. “Mình có giấy phép cơi nới nhà cửa rồi mà”. “Muốn gây khó dễ cho mình thì thiếu gì lý do”. Em hùng hổ “Bố không phải đi đâu cả. Việc mình làm đúng pháp luật. Nếu cần con viết đơn khiếu nại ngay”. Bố cười “Luật nào cũng không bằng luật phong bì. Trong khi chờ giải quyết khiếu nại người ta đình chỉ thi công công trình lại chẳng hóa hỏng bỏng không à? Thôi con cứ học đi, vào đời sẽ thấy muôn hình vạn trạng chẳng sách vở nào dạy đâu”.
Em hậm hực bỏ ra ngoài sân. Lần đầu tiên cảm thấy mình bất lực… hụt hẫng. Trước kia mỗi lần bực bội em thường ngồi dưới gốc cây bàng, tựa đầu vào vỏ cây xù xì, nâu đen của thời gian.
Ngày mẹ khai trường cho cửa hàng kinh doanh thập cẩm đủ thứ từ sách vở đến đường sữa, mì ăn liền thì cũng là ngày em xin nghỉ dạy ở trung tâm gia sư. Không phải vì em không còn tìm thấy tình yêu trong văn học, cũng không phải vì chưa bao giờ phụ huynh học trò thực sự tôn trọng em như cô giáo mà chỉ vì em phải dành nhiều thời gian hơn cho công việc gia đình. Chị tốt nghiệp đồng nghĩa với thất nghiệp nay quay sang ngoại ngữ, tin học. Hơn nữa cái gian hàng thập cẩm của mẹ lúc nào cũng cần nhân công. Nhưng dù sao em cũng không quen được với hình ảnh mẹ đon đả mời khách, bận rộn tính toán sau cái ngăn kéo đựng tiền treo lủng lẳng ổ khóa Việt Tiệp xinh xinh. Ngày trước, tủ của bố mẹ không bao giờ phải dùng đến khóạ Bố an ủi “Bán hàng đủ mọi loại khách mẹ phải cẩn thận chứ”. Mặc dù đã luôn tự nhắc nhở phải thích nghi với hoàn cảnh nhưng em vẫn không khỏi chạnh lòng khi bữa cơm tối vắng người này, người kia (thì chưyện hàng họ, tiền nong có bao giờ chừa giờ cơm để không đến đâu). Lâu rồi, chị không viết được vần thơ nàọ Ở nhà thỉnh thoảng lại “What is wrong?” “Pardon? Not at all” làm em muốn điên đầụ Lâu rồi, mẹ không còn theo dõi “sự nghiệp văn chương” của em trên báo chí, không góp ý cho em điều này điều kiạ
Em ngỡ ngàng nhìn chị. Mái tóc đen dài óng ả nhường chỗ cho kiểu đầu Nhật tém ngang tai đang thịnh hành. Chị kéo em lên phòng thì thào “Hôm nay là ngày cưới của anh Trung đấy” “Cái gì?”. Chị cười, bình thản lôi ra một đống thư từ ngả màu, dúi vào tay em lá thư cuối cùng cách đây đã sáu tháng. Trang giấy hoen ố, đôi chỗ bị nhòe (nước mắt của chị?) chỉ vỏn vẹn một dòng “Đừng chờ anh nữa”. Em sững sờ “Đơn giản thế thôi ư? Ba năm yêu thương, bốn năm đằng đẵng thư từ, xa xôi cách trở là vậy chỉ thế là xong à?”. “Tuần trước mẹ anh Trung đến. Bác bảo Trung lấy một cô tóc vàng, mắt xanh và định cư ở bên ấy luôn… Thôi em giúp chị đem tập thư này đốt đị Đầu tháng chị sẽ bắt đầu đi làm. Tất nhiên chỉ là nhân viên trực văn phòng chi nhánh của công ty giày dép thể thao của Đức”. Em thẫn thờ “Còn cái bằng cử nhân văn chương của chị?” rồi lại buông xuôị Biết đâu như thế lại tốt hơn. Chị sẽ không còn thời gian để buồn phiền.
Một tuần. Em Lười không về nhà ăn cơm. Em cuống cuồng. Mẹ gắt “Người không xong còn đâu thời gian lo cho mèo”. Bố góp ý “Nếu cái Thi thích thì mua con khác. Chắc là nó bị bắt bán cho quán tiểu hổ rồi”. Chị cười “Em Lười của Thi đi theo tiếng gọi của tình yêu thì có. Mà Thi cũng chọn cho mình một người trong đám trai đi không khéo thành bà cô đấy”. Em vênh mặt định nói “Chọn mẫu người như anh Trung hay như anh trưởng phòng bây giờ của chị?” Nhưng rồi lại thôị Nào có ích gì đâu, chỉ đau lòng thêm.
Em đứng trên ban công khóc òa – cho cả cây bàng tuổi thơ, cả những vần thơ của chị và cả em Lười, con mèo đã từng một thời được coi là thành viên nhỏ nhất trong gia đình. Bố đặt tay lên vai em “Cuộc sống mà con”. Em lau khô nước mắt . Em không có thói quen khóc trước mặt người thứ haị “Mình không thể đứng ngoài guồng quay của xã hội đúng không bố?”.
Tổng kết rút kinh nghiệm hóa ra em lại là người khó thích nghi với sự thay đổi của hoàn cảnh. Có lẽ em sẽ không viết truyện ngắn nữạ Ngân sách sẽ không bị mất cân đối bởi những khoản chi bất ngờ và chép miệng giống hệt bố. “Thời đại kim tiền mà rồi sẽ quen thôi”.
cafe_alone
07-03-2006, 04:28 PM
Thôn xóm lạnh lẽo này hầu như bị lãng quên. Bây giờ lại có những người ở đoàn phim, cộng với máy móc kỳ khôi. Từ nơi nào rầm rộ kéo nhau tới “dán” lên bức tranh tĩnh tại này, khá nhiều số phận khác thường.
Vai nam chính của bộ phim là một ông già xấu xí. Ông diễn viên này đóng... vai trưởng thôn. Phim được quay khoảng một tuần, ông ta nhập vào vai sống động tới nỗi ai cũng kêu ông ta là trưởng thôn, rồi lần hồi trông ông ta không còn phân biệt đâu là trong phim, đâu là ngoài đời. Ông ta cứ mặc suốt một bộ trang phục, cái nón nỉ và mang đôi giày cao su dính đầy bùn nhão. Cả khi về thị trấn, vào khách sạn qua đêm, ông ta vẫn như vậy. Ông diễn viên này khoảng năm mươi tuổi, một người đàn ông vô danh, thấp đậm, có gương mặt buồn hiu, nhưng nhìn lâu thấy vui vui. Ông diễn như không diễn, đó là điều mà tay đạo diễn rất cần. Trong phim, trưởng thôn lúc nào cũng lo lắng, hay ngồi một mình lắc lắc đầu, bẻ bẻ mấy ngón tay. Cứ lo lo làm sao, nỗi lo hằn khắc thường trực trong mắt, trên mặt, lo nhiều thứ, mưa to gió lớn, lo con suối sâu kia nhiễm hóa chất của nhà máy giấy trên thượng nguồn, lo chuyện cô giáo trẻ gầy gò thiếu thốn. Dù lo, nhưng chuyện lo đó chỉ riêng ông, sau đó cô giáo cũng bỏ trốn về thành phố.
Bộ ba nhân vật nòng cốt trong phim: Trưởng thôn thật thà, xấu trai, lận đận, lật đật, tốt bụng siêng việc. Ông nhà văn già hết thời, nghiện ngập, song còn giữ tướng tá cao đẹp, ăn nói kiểu cách, cố chấp, khó tánh. Ông muốn mọi người thấy mình “bị thời cuộc gì đó” phải sống cô độc với chiếc máy chữ cũ, những cuốn sách rách long cả bìa. Và một người đàn ông trung niên thầm lặng, ít nói, lo lắng, khắc khổ, có vẻ bí ẩn, trốn tránh. Họ là ba con người đầu tiên “nhập cư” khai hoang lập xóm.
Bây giờ là công việc của ông chủ nhiệm phim. Ông ta đi với ông trưởng thôn thật, nhờ ông trưởng thôn nói với chủ các ngôi nhà. Có ba ngôi nhà mà hai người tại chỗ cho mượn, một nhà trên nền đất cao làm... nhà trưởng thôn (trong phim), hai là căn nhà phải trồng thêm hoa trước sân, cho văn sĩ khó tánh, chỉ cách nhà trưởng thôn mấy bước chân. Và ba là căn nhà thật xa kia, nếu như còn muốn gọi cái nơi dột nát, như chuồng bò bỏ hoang đó là nhà. Muốn tới đó phải lần hồi bước xuống một cái vực sâu thăm thẳm, như là xuống âm tì, đường nhỏ trơn trượt, vách núi lạnh băng. Nhà này hoang phế, cây rừng chèn cứng trước sau, nơi này dành cho vai người đàn ông trung niên bí ẩn, mà quá khứ là một con Bướm Vượt Ngục. Trưởng thôn thật, một chàng trai người Mèo, cứ chăm chú nhìn ông trưởng thôn giả, anh ta cười lớn phô ra hàm răng nhỏ rít, trắng phau. “Ông ngoại sao giống ông trưởng thôn trước kia quá mạng”- anh ta kể, có một ông trưởng thôn tiền nhiệm, và rồi ông này xin nghỉ hưu non, để chú tâm lo cái vườn cà phê bé tẹo của ông bên kia đồi. Anh ta lại kể và rồi lại cười tủm tỉm... Kể một lúc hai con mắt nhỏ tròn xoe, không giấu nổi ngạc nhiên - “Ủa mà sao cô giáo thật trong thôn cũng buồn buồn, đang dạy học trò thật kia... cũng có ý bỏ trường về miền xuôi. Còn một ông trưởng thôn khác hơn, lúc trước cũng trốn biệt cửa”.
Viên công an khu vực vùng cao và hoang vu này, theo chân anh trưởng thôn, cứ quan sát trong nhà, chung quanh. Anh cho mọi người trong đoàn phim biết an ninh trên con đường đèo. Cũng như các con dốc khúc khuỷu khác, cả khu vực ngôi nhà hoang này, vào lúc chiều tối, mấy hôm nay thật sự không ổn, có sự xuất hiện một nhân vật, không thua truyện phim đang quay. Một “sát thủ” thật sự, vừa mới thoát ra khỏi bệnh viện, khi người ta đưa y tới đó điều trị. Hiện y đang lẩn trốn chung quanh những đồi cà phê. Có khi vài người hái trà và một đứa con nít đi học về trông thấy y đang ngồi nhai bắp sống, hay dùng tay đào củ mì ăn ngấu nghiến. Người đàn ông này có đặc điểm không cao và khuôn mặt hằn lo âu.
***
Thị trấn miền núi ngập trong mưa lớn, không còn thấy những chiếc áo dài trắng hay áo len xanh, cỡi xe đạp tới trường, và gió lạnh buốt mọi nơi, dù là sau bức tường dày. Ông đạo diễn đẩy cửa phòng diễn viên đóng vai nhà văn:
- Ông đóng vai trưởng thôn đâu?
Căn phòng nhỏ ẩm thấp, hai cái giường, tủ ngầm ẩn trong vách, sau phòng vệ sinh, không có bàn, không có ghế. Ông nhà văn là một diễn viên già khó chịu, mặc áo dày, chân mang vớ, đắp mền lên tận cổ, tay cầm cuốn kịch bản gạch xanh đỏ, ông ta đang học thoại:
- Mấy ngày nay chả ở lại trong thôn rồi. Mà nè cậu đạo diễn, cậu lượm được ông ta ở xó nào... mà hay vậy.
- Tuyển hơn bốn chục ông già, trong nghề có, ngoài nghề cũng có. Cuối cùng đang chạy xe ngoài đường chộp được ngay ông trưởng thôn này. Ông ta không chơi với ai, nín thinh, nhưng thuộc loại diễn viên bẩm sinh, không cần nói nhiều, vậy tốt rồi. Tôi chỉ cần những gì bên trong đôi mắt sương khói của ông ta.
Ông nhà văn cười:
- Mấy ngày đầu ở chung, thấy người lạ, kỳ kỳ, khó chịu, nhưng mấy ngày nay, tôi nhớ chả. Nói thiệt với bạn, trong đời tôi chưa gặp ai kỳ đời bằng cha này. Lâu lắm mới có dịp vui, chà chà đây là một con người dễ thương, một con người sống kỳ lạ. Coi nè, phòng có hai giường, tôi một, chả một, có ảnh hưởng chi tới ai đâu. Bạn biết sao không, chả nằm trên giường nệm, quạt máy, cứ thở ra nhìn tôi như xin lỗi. Nửa đêm tôi thức dậy không thấy chả đâu, nhìn xuống chỗ này... hà hà...
Ông nhà văn đưa tay chỉ xuống nền gạch, ẩm thấp:
- Chả trải cái võng mền, gối đầu trên cái ba lô, nằm đọc sách suốt đêm, lạ là có một cái đèn nhỏ, gắn trên trán như thợ mỏ, xài bình ắc-quy. Tôi cũng chưa thấy ai dành cho mình những tiện nghi như vậy: sách, đèn, dao nhỏ, nhíp, cắt móng tay, khóa mở đồ hộp, thuốc tây, băng bông cá nhân, đường muối, sữa hộp, v.v... Thứ nào chả cũng có, có điều là đồ hộp, sữa và thuốc tây hơi bị nhiều. Như là đi thăm nuôi bệnh.
Ông nhà văn nói chuyện ngắc chữ, không quen thì khó hiểu hết, nhưng quả là ông đang vui khi nói về người khác, mà ông cho là thú vị.
- Bây giờ ông trưởng thôn ngủ trong rừng. Tôi nhớ chả quá, ít khi nhớ tới ai mà tôi vui. Nè anh bạn đạo diễn, ông trưởng thôn mình có cái nết lạ, bao nhiêu nước nóng trong bình thủy, ông ta đều cho vô mấy chục chai nước suối không, đem theo vô rừng uống, cha này kỹ tánh. Nhưng vui không sao!
***
cafe_alone
07-03-2006, 04:29 PM
Cơn bão rớt vẫn chưa dứt, hai ngày rồi đoàn phim vẫn nằm chờ ngoài khách sạn nơi thị trấn mịt mờ mưa. Trưởng thôn không ngủ như nhà văn nói, một tay ông vịn cành cây cà phê, tay cầm con dao dài đi rừng, ông lần bước xuống vực và lia ánh đèn pin trên trán tìm đường, bên kia núi, giờ chỉ thấy cái ngọn sừng sững đen nhẻm, có ánh chớp lạ kỳ và tiếng ai lăn cái gì đó rất nặng trên trời. Theo con suối vẫn ầm ầm chảy, ông tìm ra con đường đầy gai, tay ông cầm chặt cán dao, ông chỉ phạt một ít dọn đường, sao cho vừa để vào tận cửa ngôi nhà hoang. Nơi mà ngày mai, nếu trời tạnh ráo, đoàn phim sẽ tới để quay cảnh sau cùng, phân đoạn chót gúc mắt của bộ phim, cảnh trưởng thôn gặp và khuyên nhân vật anh chị Năm Búa ra đầu thú.
Còn bây giờ, trước mắt ông là cánh cửa lạnh, ông đẩy nhẹ cửa, tiếng cánh cửa kẽo kẹt than phiền, cùng với gió cuốn dưới chân ông vào trong, kéo theo mấy cái lá khô. Ông khẽ mỉm cười nhìn một bếp lửa nhỏ, vài nhánh củi rừng mà mấy ngày trước ông lén đem vào nhà, cũng đã kịp khô, đang bén cháy lách tách, bập bùng soi, khi tỏ khi mờ khuôn mặt râu ria của một người đàn ông đang ngủ vùi. Bên cạnh vài củ khoai nướng, những trái bắp vẫn còn sống. Ông trưởng thôn treo chiếc võng, lấy trong ba lô mấy chai nước mà ông chiết ra từ cái bình thủy trong khách sạn, đoạn đổ vô một cái ca sắt cũ, khéo đặt nó trên bếp. Trong khi chờ nuớc sôi, ông khui một hộp sữa, soạn ra những viên thuốc, bông băng, rồi ngồi nhìn người nằm ngủ một cách trìu mến.
***
Vẫn còn mưa nhưng trời sáng, trong mưa là tiếng cô thư ký trường quay la chí chóe. Người ta phải khiêng cái máy đèn không nhỏ lắm, máy quay phim và nhiều thứ đồ nghề khác vào tận rừng sâu, nơi có căn nhà vô chủ. Anh chàng trưởng thôn thật và viên công an khu vực thật, đứng ngoài suối. Đạo diễn có vẻ cáu bẳn, mồi điếu thuốc vào bếp lửa. Ông ngước nhìn diễn viên trưởng thôn. Trong khi chờ cơn bão qua, ông già đã ở đây một thời gian khá dài. Đạo diễn thầm nghĩ, ông già không ở một mình. Ông nhìn chung quanh, chỉ tay ra hiệu cho ánh sáng đặt lại một hộp đèn, chính ông cơi nhẹ lại cái bếp, cho lửa nhỏ hơn để nguyên ly sữa còn một nửa, bông băng, vỏ hộp thuốc tây, một lúc sau ông khe khẽ nói: “Quay”.
Trưởng thôn ngồi trên một thân gỗ tròn, tranh tối tranh sáng, trông ông không khác cây gỗ, sần sùi im lặng cúi nhìn bếp lửa. Năm Búa xuất hiện bằng cái bóng to lớn, ngả nghiêng trên vách phên tre. Ngoài trời tiếng sét nổ bùng, không phải do tổ ánh sáng làm mà trời đánh thật, và mưa rào trên mái lá, những giọt nước mưa long lanh nhỏ xuống căn nhà tối. “Diễn”. Ánh lửa bập bùng trong mắt trưởng thôn song vẫn không thấy bên kia, khuôn mặt Năm Búa khắc khổ, im lặng, lầm lì. Cô thư ký trường quay ngồi trong bóng tối. Đèn đỏ của ba cái máy quay phim vẫn sáng, nó sẽ thu hình chéo góc, một lúc ba kiểu ảnh, đặc tả, trung cận và toàn rộng, đạo diễn nói với trưởng thôn:
- Đổi thoại một chút. Trưởng thôn kêu Năm Búa bằng “chú em”.
Thư ký trường quay có vẻ phản đối. Đạo diễn nghiêm khắc nhìn cô ta, và cô lúng túng chuẩn bị ghi lại lời thoại. Một tiếng nấc nghẹn phát ra từ vai trưởng thôn:
- Năm Búa, chú nên đầu thú sớm. Ở trong đó ít lâu, khi nào ra, về đây sống với tôi.
- Không được, tôi còn phải nuôi con tôi cho lớn đã, nó đang học khá.
Trên màn hình trực của đạo diễn song hành ba cỡ ảnh, mắt của trưởng thôn nghiêm khắc nhưng nhân hậu, Năm Búa nóng nảy bực dọc, vì căn nhà chật, máy thu hình cho thấy chân đèn và nửa khuôn mặt đạo diễn. Ông ta cũng trông thấy mình trên đó, và thấy ở ngưỡng cửa xuất hiện anh trưởng thôn thật, khuôn mặt căng thẳng. Viên công an khu vực chăm chú nhìn Năm Búa. Cô thư ký trường quay vỗ nhẹ vai đạo diễn. Ông nói nhỏ: “Cho quay luôn, cắt làm ba, dựng sau”. Năm Búa quay lại nhìn thấy viên công an, ánh lửa trên tóc và đôi mắt đục ngầu vì cơn sốt nặng, anh ta vội đứng lên và chồm tới. Trưởng thôn nhìn anh ta nói nhỏ nhẹ:
- Chú Năm ngồi xuống, chuyện đâu còn đó. Đừng nghĩ tới người đàn bà đó mà nghĩ tới con trai của chú.
Năm Búa lưỡng lự, ba cái máy chéo góc vẫn đỏ đèn. Trên ba mẫu hình chỉ còn một mình Năm Búa, khuôn mặt lần hồi dịu lại, vẻ khắc khổ hằn học mất đi, hiện lên một người đàn ông đầy trắc ẩn. Ông đạo diễn chỉ còn có mỗi mẩu thuốc lá cụt sát môi, may thay nó cũng tắt lịm đi từ lúc nào, ông thở dài nói vào điện đàm “cắt... ốp máy”.
Đoàn phim ra khỏi căn nhà hoang, đi men theo dòng suối lên trên vực vào một buổi chiều mưa. Bên kia ngọn núi, ánh lên những tia sáng lạ, còn ngọn núi thì vẫn đen nhẻm. Cô thư ký trường quay tới bên ông đạo diễn cho biết còn sót một cảnh nhỏ, khi mọi người đã lên xe, và chờ ở chân đèo. Chỉ còn một anh quay phim đi theo ông đạo diễn ra con đường độc đạo vào thôn, nơi cái giếng nước mới đào... Đạo diễn cho đặt máy quay, ông trưởng thôn nhỏ bé ngồi bên thành giếng nước, giếng giả do họa sĩ thiết kế cho đào, phục vụ bối cảnh phim, nhưng nó đã dâng đầy một nguồn nước trong vắt, rồi đây những người trong thôn thật sẽ dùng nước này khi đoàn phim ra đi. Từ nơi giếng nước, trưởng thôn đi dọc theo một hàng rào gỗ, ông lang thang giữa mây trời và núi cao, trên con đường bùn nhão quánh dưới chân. Ông cúi xuống nhìn dưới chân mình, rồi ngước nhìn màu trời xám than nhỏ: Trời ơi, sao bữa nay tôi buồn quá vậy trời!
Đạo diễn cùng đi với trưởng thôn. Đằng xa, những chiếc xe của đoàn phim đang lún vào bùn nhão. Hôm nay là ngày ốp máy, khó có khi trở lại bối cảnh cũ, không nói nhưng ai cũng có vẻ bùi ngùi. Thư ký trường quay hỏi nhỏ: “Sao vậy?”. Cô không hiểu sao đạo diễn thay đổi bất ngờ những lời thoại, và cảnh cuối cùng không đúng như kịch bản. Ông đạo diễn nói:
- Sao là sao? Chuyện của tôi viết là giả, còn mới đây mới là... điện ảnh thật sự!
Truyện ngắn của Mạc Can
cafe_alone
07-03-2006, 04:32 PM
Cũng như bao đứa trẻ khác cùng làng, tôi lớn lên với hương lúa chín của làng quê nhỏ bé miền trung dụ Tuổi thơ của tôi là bà nội, là những bông hoa gạo rực lửa đốt cháy cả dòng sông lạnh ngắt. Những đêm đông, tôi thiếp đi trong hương trầu thơm nồng, trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa bà kể. Những tối hè nằm trên chiếc chõng tre, tiếng ru của bà cùng tiếng gió từ chiếc quạt nan đưa tôi vào giấc ngủ. Tất cả cứ thế bình lặng và yên ả trôi theo tiếng thở của thời gian. Và cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi trong trí óc non nớt của tôi, bà là tất cả.
Tôi không có mẹ - hay nói đúng hơn - mẹ đã ra khỏi cuộc đời tôi từ khi tôi mới là đứa bé hai tuổị Còn cha – tôi chỉ nhớ đó là người đàn ông dong dỏng caọ Mỗi khi tết đến, người đàn ông đó lại về thăm bà và tôi, đi cùng một người đàn bà và hai đứa trẻ. Mọi người bảo đấy là cha và dì của tôị Nhưng thường thì tôi chẳng quan tâm lắm đến họ, tôi chỉ thích chơi với hai đứa bé thôị Đứa bé gái mặc chiếc váy trắng viền đăng ten - chiếc váy mà cả trong giấc mơ, tôi cũng chưa bao giờ mơ được mặc. Thằng con trai mặc áo trắng bỏ thùng. Lúc ấy trong đôi mắt của tôi, chúng là thiên thần, còn tôi chỉ là một con nhóc xấu xí. Hơn thế chúng lại có rất nhiều kẹọ Những chiếc kẹo xanh đỏ thật hấp dẫn khác hẳn với thanh chè lam bà thường cho tôi ăn. Thế nhưng tôi chỉ dám đứng nhìn mà thôị Tôi không dám xin vì chúng như hoàng tử với công chúa, còn tôi chỉ là người hầu hạ mà người hầu thì chẳng bao giờ được ăn kẹo cùng hoàng tử, công chúa cả.
Những lúc ấy, bà thường gọi tôi vào bếp, dúi cho một thứ gì đó như nắm xôi hay quả ổi rồi bà bảo: “Ăn kẹo vào là đau bụng đấy”. Chỉ cần bà nói thế là tôi đã chẳng còn thích những chiếc kẹo ấy nữa, nhưng tôi vẫn luôn có những câu thắc mắc “chẳng hiểu sao hai đứa kia ăn nhiều kẹo thế mà không đau bụng”. Và cuối cùng thì tôi cũng tìm được câu trả lời và cứ thế ngốc nghếch tin rằng mình đúng “chắc ông thần kẹo chẳng thích mình”.
Theo thời gian trôi, tôi không còn là đứa bé chỉ biết quẩn quanh bên chân bà nữạ Tôi đã đến tuổi đi học. Ngày đầu tiên được cắp sách đến trường quả là một ngày vô cùng trọng đại đối với tôị
Sáng hôm ấy, bà gọi tôi dậy từ sớm. mặc cho tôi bộ quần áo đẹp nhất rồi bà đưa tôi đến trường. Có lẽ lúc ấy tôi đã nín thở để chặn sự hồi hộp đang òa vỡ trong lòng. Tôi se sẽ nắm lấy tay bà – bàn tay nhỏ bé nằm gọn trong bàn tay với những đường gân xanh nổi lên làn da nhăn nheo - khẽ khàng từng bước đi theo bà. Đến trước cổng trường tôi ngơ ngác trước sự tưng bừng, náo nhiệt mà tôi chỉ thấy vào những ngày lễ hộị Bọn bạn tôi đứa nào cũng được bố mẹ dắt đến, chúng ăn mặc đẹp và vui cười hớn hở. Tự nhiên tôi cảm thấy mình buồn lạ lùng khi hôm nay bố không đi cùng tôị Tôi lặng lẽ nấp sau lưng bà - chẳng hiểu sao tôi muốn bỏ về quá. Và hình như bà cũng nhận thấy sự thay đổi của tôi nên bà cúi xuống cài lại cúc áo cho tôi, rồi bà bảo:
- Bà biết cháu buồn nhưng cháu không thích bà đi cùng hay saỏ
- Không, cháu thích đi với bà lắm nhưng nhìn thấy bố mẹ chúng nó thì cháu nhớ bố cháu thôị
Bà cười rồi bà đẩy tôi lên phía trước:
- Hãy dũng cảm lên cháu của bà.
- Tan học, tôi là người chạy ra khỏi lớp đầu tiên. Tôi muốn viết cho bà xem chữ “O” đi liền với câu nói quen thuộc của bà “O tròn như quả trứng gà” và thật ngạc nhiên khi tôi thấy bà đang ngồi dưới gốc cây đa, tay bà cầm chiếc nón phe phẩy quạt. Bà đến đón tôị Tôi nhón chân nhẹ nhàng vòng ra sau lưng bà rồi ghé mặt thơm môi một cái rõ tọ Bà giật mình nhìn tôi rồi bà cười:
- Cha cô, định trêu bà hả?
Nhanh thật là nhanh, thế là đã 9 năm trôi qua từ sau buổi học đầu tiên đáng ghi nhớ ấỵ Bây giờ tôi đã là nữ sinh lớp 9 – tôi đã lớn – không còn buồn vì không có bố đưa đi học như ngày xưạ Thế nhưng với bà, tôi vẫn luôn là con bé chíp hôi như ngày nàọ Còn với tôi, bà là tất cả những gì mà tôi có. Bà là bà tiên ban phép lành trong câu chuyện cổ tích. Cha mẹ và dì chỉ còn là những cái bóng rất mờ nhạt trong tiềm thức tôị Cũng có đôi lần bà hỏi “Cháu có nhớ mẹ không?”.
Lầo nào tôi cũng dựa vào lưng bà rồi khẽ lắc đầu "Cháu có bà rồi, cháu chẳng cần mẹ nữa, nhưng mẹ cháu là ai hả bà?". Bà ôm tôi vào lòng, bà cười nhưng giọng nói của bà lại nghẹo ngàọ Dường như chúng vương cả vị mặn của nước mắt: “Cháu tôi tội quá!”, Và bà chỉ nói một câu duy nhất ấy thôi, chẳng bao giờ bà trả lời câu hỏi của tôi cả. Tôi cũng chẳng thắc mắc nhiều về mẹ. Đối với tôi, từ “mẹ” sao quá mơ hồ, như một điều không có thực trên đời, lại cao xạ Tôi luôn luôn được nghe người khác gọi mẹ, nhưng có lẽ cả cuộc đời không bao giờ tôi được thốt ra lời gọi mẹ ngọt ngào âu yếm ấỵ Vì thế, tôi bằng lòng với tất cả những gì tôi hiện có. Tôi cần bà và tôi đã có bà, vậy là đủ.
… Cầm sắc đỏ hoa gạo, tôi đặt lên mộ bà. Hôm nay tôi đến chào tạm biệt bà vì ngày mai tôi sẽ ra thành phố ở cùng bố và dì. Thế là bà xa tôi gần hai tháng rồi, nhưng tôi vẫn không thể nào quen được với sự thật. Tôi luôn nghĩ rằng bà đi đâu đấy rồi một lát nữa bà sẽ về. Những lần đi học chẳng ai nhắc tôi đội mũ, mang áo mưa và đi học cùng tôi, bởi thật đơn giản: bà đã mãi mãi đi xa chỉ vì một căn bệnh rất đỗi kỳ quặc - bệnh tuổi già. Ngày bà mất, tôi chẳng còn biểt mình đã nghĩ gì, làm những gì, nhưng duy nhất một điều mà tôi biết là tâm hồn tôi trống vắng, hoang vụ Mất bà cũng gần như tôi đã mất tất cả.
Tôi lặng lẽ ngồi bên mộ bà mặc cho làn gió khẽ mơn trớn lam tung bay mái tóc rốị Mái tóc mà ngày trước mỗi lần gội xong, bà lại chải cho tôi “Tóc cháu bà đẹp lắm, nhưng phải chăm gội bồ kết đấy nhé”. Thế mà ngày mai tôi đã phải xa bà rồi, phải xa miền quê nhỏ bé mà tôi đã gắn bó, miền quê đã ban tặng cho tôi một người bà, tôi đã qua những tháng năm ngây thơ chạy nhảy chẳng biết phải chịu đựng những ánh mắt không mấy thiện cảm của dì và tiếng thở dài của cha, nhưng chắc chắn tôi sẽ vượt qua được tất cả vì bà luôn ở bên tôị Bà sẽ giúp đỡ tôi, bà sẽ truyền cho tôi nghị lực để tôi vững bước bởi vì trong trái tim tôi – bà là tất cả.
Mặt trời đang từ từ xuống sau dãy núi phía xạ Từng ánh nắng vàng đục vương len mộ bà cứ nhạt dần, nhạt dần rồi mất hẳn. Mùi nhang thoảng bay trong gió làm sống mũi tôi cay caỵ Hoàng hôn bao trùm mọi cảnh vật, tất cả thật yên ắng, chỉ còn lại khúc đồng ca xào xạc của rừng laụ
Một ngày đã trôi quạ
cafe_alone
07-03-2006, 04:35 PM
Làng quê thật nghèo, heo hút nơi đồng khô cỏ cháy. Con đường lộ đất chạy dài giữa làng. Những căn nhà lá nhỏ thưa thớt nằm nép mình sau tre trúc, già trẻ bé lớn ngồi đan lát, rổ rá lờ lọp chất đống cạnh bên. Trời đã xế chiều nắng vẫn còn gắt, đang giữa tháng tư, thỉnh thoảng lộ ra sau hàng tre trúc cánh đồng chói nắng, mặt ruộng khô nẻ xác xơ rơm rạ. Xa tít đường viền chân trời lô nhô những dãy núi xanh mờ.
Nam đi giữa đường làng. Một đám trẻ quần áo rách rưới chạy đuổi nhau làm tung bụi mù. Một con sông bờ dốc dựng đứng, chiếc cầu tre cheo leo đong đưa. Đám trẻ leo thoăn thoắt qua cầu, cười nói rí ré. Nam tháo giày đi từng bước một. Ủy ban xã bên kia cầu, gian nhà mái tôn vách lá, mặt sân lầm bụi, đám trẻ nhào vô chạy nhảy, chun qua lại giữa bầy bò.
Đã hết giờ làm việc nhưng vẫn còn người, hai ông bà già, một người phụ nữ bồng con, một người đàn ông chân gỗ đi tới lui thình thịch. Đứa nhỏ khóc ngằn ngặt, chị phụ nữ vạch vú nó ngậm một chút nhả ra lại khóc, người đàn ông giậm chiếc chân gỗ dọa nạt, nó nhoẻn miệng cười rồi lại khóc.
Tiếp khách là người đàn ông ngồi ở bàn có biển đề ''phó chủ tịch", trạc tuổi trung niên cười nói vui vẻ. Hai ông bà già xin chứng nhận giấy tờ hộ khẩu, chị phụ nữ bồng con xin giấy khám bịnh, người phó chủ tịch giải quyết tất cả. Người đàn ông chân gỗ không xin giấy tờ, đến tìm đứa cháu nhân viên bỏ vợ, ông đến lôi đầu nó về. Ủy ban giấu nó đâu, sao lần nào ông đến cũng không thấy nó? Người phó chủ tịch cười nói giấu làm gì giấu làm gì, ai giấu chi thằng bỏ vợ.
Nam bước lên nói anh không xin giấy tờ, ở thành phố lặn lội mấy ngày trời về đây chỉ để thăm nhà một người...
Nam cố không lên giọng, tuy thấy nghẹn ở cổ. Hơn hai mươi năm anh chờ giây phút này, về đây tìm nhà người bạn thân, một chiến sĩ có công trạng, hồi ở đơn vị Nam viết bản báo công cho anh ấy, anh ấy hy sinh Nam gần như độc quyền nắm giữ những tư liệu quý giá sau ngày hòa bình. Sau ngày hòa bình Nam viết nhiều bài báo, đi đây đó nói chuyện, giờ về quê hương heo hút này nghe bà con kể chuyện thời thơ ấu của anh ấy, và chính Nam cũng có nhiều chuyện để kể, những giây phút hào hùng, những ngày tháng gian lao khổ cực.
Nhưng có vẻ Nam không được chờ đón nồng nhiệt. Hai ông bà già đang cần giấy tờ chứng nhận. Người phụ nữ bồng con cũng vậy. Ông chân gỗ đang cáu giận đứa cháu bỏ
vợ, bắt đầu sinh sự tranh cãi. Thừa lúc mọi người ngưng một chút Nam chen vào nói tên họ người bạn, phiên hiệu đơn vị, năm được phong danh hiệu, rằng anh muốn đến thăm nhà... Người phó chủ tịch trố mắt nhìn Nam như chưa hiểu ra:
"Cái gì? Ở đâu? À phải rồi, nhà anh ấy đằng kia nhưng không còn gì đâu. Bà má chết từ lâu, người chị lấy chồng xa, người ở nhà không biết bà con như thế nào, mẹ con anh ấy ở đậu nhà người ta. Ở nhà anh ấy tên Đực, hồi nhỏ chăn trâu dở ẹt, gặt lúa đập lúa cũng dở, không hiểu sao đi bộ đội lập được công như vậy''.
“Anh ấy được phong danh hiệu có huy chương loại cao - Nam nói - Chính tôi là người làm bản báo công".
"Phải rồi, mỗi người mỗi việc'', người phó chủ tịch nói, cốt cho vui. "Như tôi đây chỉ có ký tên''.
Nam thấy chán nản mệt mỏi. Hơn hai mươi năm chờ đợi bỗng thấy hụt hẫng. Cũng lâu quá rồi, cuộc sống vẫn phải tiếp tục, anh chỉ là người ở xa ghé qua.
Nam ra ngồi ngoài sân, chút sau người phó chủ tịch đi ra xoa tay cười:
“Xong rồi, mệt quá! Thôi để tôi đưa anh đến nhà anh ấy, cũng nên ghé qua một chút, đã tới đây rồi. Rồi về nhà tôi ngủ, tối rồi còn đi đâu nữa".
Nam ôm đít người phó chủ tịch trên chiếc xe gắn máy chạy lọc xọc hết con đường làng, tiếp tục băng đồng, theo con đường mòn nhỏ đầy những cây hoang cỏ dại. Rồi không
thấy đường đâu nữa, xe chạy bừa qua những bãi cát bờ đất khóm sim khóm mua mọc lưa thưa, đổ xuống lòng con suối cạn, leo lên bờ dốc dựng đứng. Nhà người bạn chiến đấu như ở tận cùng trời cuối đất. “Đây rồi”, người phó chủ tịch nói, xe vẫn chạy, lên xuống lồi lõm, một căn nhà lá nhỏ hiện ra dưới triền dốc, xe chạy đâm sầm vào dừng lại ở sân. Trong nhà có nhiều người già trẻ bé lớn, mấy đứa nhỏ chạy đến nhìn tận mặt. Nam nói mấy lời thăm hỏi, bà già ngồi trong góc tối nói vọng ra:
“Đây không phải nhà thằng Đực, má con nó không có nhà ở đậu nhà tụi này. Rồi thằng Đực đi hoang, con chị đi lấy chồng, má nó bị bịnh nằm liệt giường tụi này phải nuôi, mấy năm sau má nó chết tụi này chôn cất, có bàn thờ kia...”
Im lặng một lúc rồi bà già nói tiếp: "Thằng Đực hồi nhỏ ở đây đi chăn trâu, làm lò rèn, lò gạch, đập đá, gặt đập lúa, làm đủ chuyện, một dạo đi len trâu rồi lại đi đập đá. Nó chỉ có đập đá là giỏi, dang sức ra mà đập, nhiều chuyện khác chẳng nên thân gì. Nó cũng không nuôi má nó ngày nào, đi đập đá không thấy gởi tiền về, lần cuối cùng đập đá trong hẻm núi rồi đi luôn. Rồi con chị đi lấy chồng, má nó bịnh tụi này phải tốn tiền thuốc, không phải bà con họ hàng cũng người ở chung nhà...''.
Ngưng một chút rồi bà già tiếp tục:
“Nghe tin thằng Đực có mề-đay công trạng nhà này mừng lắm, không phải bà con họ hàng cũng mừng. Nhưng rồi mấy năm sau có tốp cán bộ đến ngó căn nhà bàn chuyện làm nhà tưởng niệm, tụi này sợ quá, nói không phải đâu mấy ông ơi, đây không phải nhà thằng Đực, má con nó ở đậu nhà tụi này, nó bỏ đi chị nó đi lấy chồng, má nó bịnh tụi này phải nuôi, chết tụi này phải chôn, mấy ông lập bàn thờ thì được, làm nhà tưởng niệm không được...''.
Bà già thò đầu ra nhìn Nam dò xét:
"Ông đến đây làm chi? Có định lấy nhà tụi này làm nhà tưởng niệm không?”.
Nam chào từ giã ra đi, ôm đít người phó chủ tịch về nhà. Nhà có khách năm bảy người, đám thôi nôi đứa cháu ngoại, khách ngồi hai bên chiếc bàn tre giữa sân, có cả ông chân gỗ ở đó, không biết được mời theo kiểu nào. Nam được mời ngồi vào đầu bàn, được giới thiệu "đồng chí trên về'', mấy đứa nhỏ chạy tới nhìn tận mặt. Thức ăn dọn ra, vài dĩa đồ xào thịt trâu luộc, cá nướng chấm muối, rau rừng để trên mặt bàn. Chủ nhà bồng đứa con trai ở truồng đen thui đi vòng quanh, mọi người nựng nịu đứa nhỏ chòi đạp la hét. Cuộc tiệc bắt đầu, rượu rót ra uống chuyền từng đôi, người này người kia kể chuyện đám khỉ trên núi xuống phá rẫy, chuyện một bà góa có chửa, bà mẹ chiến sĩ ở một mình không ai nuôi. Ông chân gỗ nói chuyện đứa cháu bỏ vợ. Nam ngồi lọt thỏm giữa mọi người, không có chuyện gì để kể, không ai chú ý tới, đầu óc mông lung không một ý nghĩ.
Cuộc tiệc kéo dài, rượu lạt uống nhiều cũng nóng mặt, Nam không còn mong gì, cố gắng ngồi tàn cuộc tiệc ngủ một chút sáng ra về. Nhưng cuộc tiệc vẫn kéo dài, người ta lại nói chuyện mùa màng thời tiết đan lát. Có ai đó nói chuyện xây một cây cầu. Ông già choàng dậy ngơ ngác:
“Cầu nào? Ai xây cầu?''.
Mọi người cười rộ:
"Xây cầu cho ông đi học, ông già ơi! Trường học bên kia kìa''.
Một người đàn ông tuổi trung niên vấn khăn rằn sấn sổ đi vào chống nạnh tay, xưng tên Tư Cò cất giọng oang oang:
“Ai muốn nghe chuyện thắng Đực? Tôi là anh nó đây, không bà con họ hàng cũng là anh, là người bảo ban nó mọi việc. Tôi nới: mày len trâu không nên thân, đếm sừng trâu còn không biết, gặt lúa đập lúa cũng dở, làm thợ rèn thợ mộc không có tay nghề, mày chỉ có sức đi đập đá là tốt. Nó nghe lời tôi đi đập đá, mỏ đá bên kia dãy núi, tôi đi theo cầm tay chỉ từng chút một, cách quai búa cách giật khuỷu tay, vậy rồi ngay ngày đầu tiên nó đập què chân thằng cặp-rằng...''.
Tư Cò uống liền hai ly rượu, càng lúc càng lớn tiếng:
“Nó đập đá suốt ngày tối đến đi mò gái. Đúng ra con gái mò nó. Cũng không phải con gái, là mấy mụ góa. Xứ này những năm đó con gái góa nhiều lắm, công việc nổ đá bắn đá đàn ông bị đá văng trúng dập đầu gãy cổ chết là thường, các bà vợ góa nhiều khi chưa quá hai mươi. Thằng Đực suốët ngày gục đầu gò lưng đập đá, đám vợ góa qua lại mê lưng và vai nó. Nó không phải là thằng ham gái, cũng không dại gái, chỉ tội nhẹ dạ. Đám vợ góa nói chuyện dai nhách, rù rì rủ rỉ, nói gì nó nghe nấy, nó có tình yêu bao la yêu được nhiều đàn bà. Nhưng rồi có chuyện các bà đánh ghen khiến nó phải bỏ đi...".
“Đi bộ đội?'', Nam hỏi.
"Không. Đi sang mỏ đá khác, tôi lại đi theo kèm cặp chỉ bảo nó, mừng không thấy có chuyện đàn bà góa nữa, con gái tơ cũng không. Nó có vẻ tu tỉnh, ăn uống đạm bạc, để dành tiền gói kỹ trong miếng giấy báo. Vậy rồi một hôm nó đem cúng hết cho một nhà chùa, phát thệ đi tu. Trên đỉnh núi có một ngôi chùa, nó tu hành thành tâm lắm, thức khuya dậy sớm gõ mõ tụng kinh. Một buổi sáng mỏ đá chuẩn bị cho nổ đá, bỗng thấy một hàng dài nhà sư áo cà sa vàng rực đi từ trên đỉnh núi xuống, đi đầu là thằng Đực quần áo đập đá rách bươm, nón lá sùm sụp. Hàng người tới chỗ nổ đá thì dừng lại. Vậy là biểu tình đây, phản đối chuyện phá đá động đến chùa chiền thần kinh, đầu trò là thằng Đực".
Cuộc tiệc tàn mọi người ra về. Nam được cấp chiếc võng ngủ ngoài hàng hiên. Trời lạnh không thể ngủ được, rạo rực mãi những hồi ức xưa cũ. Có tiếng động, ông chân gỗ hiện ra lập bập điếu thuốc cháy đỏ.
"Tôi biết chuyện biểu tình đó'', ông chân gỗ nói, lót dép ngồi cạnh đầu võng. ''Để tôi kể tiếp anh nghe. Thằng Đực bị bắt liền sau đó,bị nghi “làm chính trị'', tuy chỉ trò ngông quậy phá của nó thôi. Xưa nay người ta vẫn tu hành vẫn phá đá làm đường xây nhà, mắc mớ gì lôi sư sãi sắp hàng xuống núi như vậy. Tôi dạo đó chăn trâu cho một lão địa chủ, có chuyện rắc rối với bầy trâu, bị tù gặp nó trong tù. Tôi hỏi: “Có đúng mày muốn đi tu không?''. Nó cười không đáp, vẫn gò lưng đập đá, không thấy có động tịnh gì, rảnh rỗi liên hệ với sư sãi trên chùa hốt thuốc cho người bịnh, người trong tù cũng như ngoài tù. Cánh nhà chùa ngày càng thêm tin tưởng nó, sư sãi xuống núi vào trại thăm nó, tới giờ cơm cùng ăn, bằng lòng một lần ngã mặn. ...
cafe_alone
07-03-2006, 04:38 PM
Rồi xảy ra một chuyện. Trại tù không nghiêm ngặt lắm trong chuyện canh giữ, rùng núi hoang vu chẳng trốn đi đâu, thằng Đực giỏi dụ sư sãi cũng giỏi tán tỉnh đám cai tù, đập đá suốt ngày, chiều đến nó xin phép đi đâu đó, giường ngủ của nó cạnh giường tôi thường khi trống không. Nó xuống núi vào xóm mua trâu về xẻ thịt bán lại cho đám cai tù, buôn thêm vải vóc kim chỉ, mật ong và khô dê, rượu trắng và đường thốt nốt. Rồi nó tuyên bố lập quán, bữa trước bữa sau thấy căn nhà mọc lên ở ngã ba đường, phía trước có sạp bày hàng, phía sau có buồng ngủ rèm che, một cô gái trẻ bận áo ngắn đầu trùm khăn vuông tươi cười đi tới lui, thằng Đực lăng xăng ra vào bưng bê sắp xếp. Rồi mấy hôm sau nghe tin ngôi chùa trên núi biến mất một cô vãi, rằng chính cô chủ quán đầu trùm khăn vuông ấy, không tin giở chiếc khăn vuông ra coi. Vậy là có chuyện thằng Đực dụ dỗ cô vãi hoàn tục, nhà chùa nổi giận chấm dứt việc xuống núi nấu thuốc tụng kinh, nghe đâu còn đâm đơn kiện tụng. Nhưng chính quyền sở tại, bọn lính cai tù bắt đầu ham vui với chiếc quán và cô chủ quán, bỏ ngoài tai coi như không nghe thấy.
Tôi lúc đó cũng mãn hạn tù, chẳng vì chuyện mượn tạm mấy con trâu mà ở tù mãn kiếp, không biết đi đâu tôi chuyển sang đập đá cho mỏ đá, tháng tháng lãnh lương đem cúng hết cho quán thằng Đực. Cuộc biểu tình sư sãi của nó đã có kết quả, tuy chậm mất hơn năm, mỏ đá chuyển qua hướng khác, ngôi chùa được yên bề tụng niệm. Chuyện cô vãi hoàn tục cũng đi vào quên lãng, tóc đã mọc lại rồi chẳng mất công giở khăn vuông ra coi làm gì. Nhưng một hôm thằng Đực biến mất vào trong hẻm núi không thấy ra nữa. Trong đó nghe nói đầy những hang hốc, thằng Đực hẳn đã thăm dò từ lâu, nó biến mất cùng nhóm bạn tù chính trị, cô chủ quán cũng bỏ đi luôn. Vậy là đã có kế hoạch từ trước. Bọn lính tỏa đi bao khắp quanh núi chặn hết các ngõ ngách, đốt lửa hun khói vào các hang hốc, ba ngày sau thằng Đực thò đầu ra, đầu tóc quần áo nám khói, cánh chính trị biến mất luôn không biết theo ngõ ngách nào, cô gái cũng bặt tăm. Thằng Đực chuyển sang tù cấm cố và tôi bặt tin nó từ đó...”.
Sáng sớm Nam bám đít xe người phó chủ tịch trở về văn phòng ủy ban nhờ người đưa ra lộ đón xe về thành phố, rề rà mãi lại thấy có người phụ nữ đến tìm. Đó là chị của anh ấy, người đàn bà luống tuổi trông gian lao dầu dãi, ăn bận nâu sòng, vẻ bận rộn gấp rút, chưa ngồi xuống đã kể một thôi dài:
“Thằng Đực ở tù cấm cố, ban đầu không dính líu gì với đứa con gái bán quán, lôi con nhỏ xuống núi mở quán chỉ muốn con nhỏ có cơ ngơi lấy chồng sanh con. Sau đó nó tổ
chức nhóm tù trốn trại, bị bắt bị tù cấm cố, con nhỏ đi thăm nuôi một dạo hai đứa thương nhau, tổ chức lễ cưới, thằng trong tù cưới con ngoài tù. Rồi chúng có con, thằng Đực chuyển sang đập đá, chân bị xiềng, từ mỏ đá này sang mỏ đá khác, con nhỏ ôm con đi theo mở quán cạnh trại tù. Một lần tôi ghé quán thăm hai má con, thằng con trai to đùng cứ đập tay vào mặt tôi, trên đường về tôi hay thằng Đực lại trốn trại, lần này mọi việc suôn sẻ, do có tổ chức chu đáo từ bên ngoài...".
Người đàn bà ngưng một chút rồi nói tiếp, có vẻ đây mới là điều chính yếu:
“Chuyện thằng Đực là như vậy. Giờ nó đã chết rồi, má tôi cũng chết, chỉ còn mình tôi sống cực khổ, cả đời vất vả không nên thân, nhà cửa không có, không biết công trạng thằng em tôi có giúp tôi được gì không?”.
“Giúp gì?'', Nam hỏi.
“Xin căn nhà chẳng hạn, kiểu nhà tình nghĩa ấy. Cả đời má tôi rồi chị em tôi không có nhà, đến giờ cũng vậy, tôi chỉ cần có căn nhà nhỏ lập bàn thờ em tôi má tôi, anh xin giùm được không?”.
Buổi trưa nắng đổ lửa. Người phó chủ tịch chở Nam ra lộ đón xe, thở phì phò một lúc rồi nói:
“Anh thấy xã tụi này nghèo quá không? Thấy cây cầu cheo leo kia không? Thương đám trẻ quá, ngày nào cũng leo qua lại, anh về tành phố viết bài báo nói khéo xin cho tụi này cây cầu được không?”.
“Được tôi sẽ nói, tôi sẽ viết...”.
Nam thấy giờ đây đó là điều chính yếu, những việc bình thường với những con người bình thường. Chuyện xưa đã qua lâu rồi. Những người dân ở đây không hề quên người chiến sĩ của họ, nhớ như in không sót chuyện nào. Nhưng họ còn phải sống, và trước tiên họ muốn người chiến sĩ của họ cũng giống như họ, cũng là người bình thường.
cafe_alone
10-03-2006, 12:44 PM
Một buổi sáng thức dậy, cha tôi bảo: "Đêm qua tau đã nhìn thấy con mang trắng trên núi Cà Tang!". Những giấc mơ như thế thường trở đi trở lại trong ông. Nỗi khát vọng mênh mông không giấu được đã chiếm hết hai phần ba đời người. Bất cứ ai sống dưới chân ngọn núi huyền bí này đều có một khao khát truyền đời giống nhau như vậy.
Núi Cà Tang cao bảy trăm năm mươi tám mét so với mực nước biển. Ban ngày, đỉnh núi phủ một màu mây trắng. Những đêm trời sao, ngọn núi lẩn vào muôn vì tinh tú. Nằm trong nhà, nhắm mắt lại bạn sẽ nghe con suối Lớn rì rào ca hát. Muông thú đi ăn đêm lạc bầy gọi nhau khản giọng. Những buổi trời quang, người già dắt trẻ con ra sân chờ xem các ông tiên từ trời hạ xuống đỉnh núi chơi cờ. Trăm phần trăm con trẻ trong làng đều bị niềm tin mơ mộng kia dẫn dụ vào một vương quốc bao la đầy rẫy những vị tiên râu dài tóc trắng, nhan nhản cây hiền trái ngọt ăn vào trường thọ ngàn năm và những giếng nước trời chữa được bách bệnh.
Tôi mười một tuổi, học lớp sáu trường Cây Phượng. Trường ở gần nhà, đi qua hai con dốc, một cây cầu và một ngôi miếu hoang. Buổi sáng tôi đi chăn trâu, buổi chiều đi học. Tôi thích đi chăn trâu hơn đi học. Cha tôi bảo: "Kiểu này lớn lên mi chỉ có nước đi xách dép cho đàn bà!". Tôi nghĩ cũng được. Chỉ sợ bọn đàn bà không cho tôi xách dép. Ông già tức điên lên lấy cây roi dâu trên mái nhà xuống quất ba phát vào mông. Roi thứ nhất, phải học hành tử tế. Roi thứ hai, đi chăn trâu phải chăn đường hoàng. Roi thứ ba, không được xách dép đàn bà.
Hỏng! Tôi xuống bến sông, vạch quần ra xem thấy ba vệt lằn trên mông đỏ như máu. Nuớc lạnh ngấm vào đau ê ẩm. Tự dưng tôi bật khóc. Tôi thấy mình cô đơn. Hình như tôi không thích hợp với cả gia đình lẫn nhà trường. Cha tôi không bao giờ hiểu tôi nghĩ gì. Những khao khát thầm kín của tuổi thơ chẳng biết bày tỏ cùng ai. Thực tình tôi chỉ thích hợp với việc chăn trâu. Ra đồng, tôi muốn suy nghĩ gì cũng được, muốn làm gì thì làm, không có bài bản nào.
Có lần tôi cho trâu ăn lúa của người ta. Người ta bảo tôi là thằng mất dạy. Tôi thấy tôi đúng là thằng mất dạy. Thâm tâm tôi chẳng nghe lời ai. Tôi không muốn ai dạy dỗ tôi. Tôi thích hành động theo một tiếng gọi bí ẩn nào đó từ trong sâu thẳm tâm hồn mình.
Tổng kết học kỳ một, tôi xếp hạng thứ bốn mươi mốt. Cả lớp có tất cả bốn mươi ba học sinh. Cha tôi biết được và bảo: "Mày đội bốn chục cái đít trên đầu mà không nghe nặng à?". Tôi lại ra bến sông, cởi áo quần trèo lên ngọn cây sung nhảy xuống ùm một cái. Tôi có cảm giác mình đang bay, trên đầu nhẹ tênh. Không thấy chút nào nặng nề. Mặc dầu lúc đó tôi nghĩ đến đứa con gái xếp trên tôi một bậc mới chừng ấy tuổi đầu mà cặp mông bự chảng. Chẳng sao cả. Nó có vẻ còn êm ái nữa!
Học kỳ đội đít đã qua. Cả trường được nghỉ ăn Tết. Tuần đầu tiên của năm mới, trường phát động học sinh đi bứt bông đót về nộp làm quỹ công ích nhà trường. Phụ huynh học sinh miền núi chẳng có tiền nên phải nộp bằng sản phẩm. Mỗi em mười ký lô bông đót khô. Nghe nói bông đót bán hữu nghị cho hội người mù mỗi ký bốn nghìn đồng. Vị chi mỗi học sinh nộp sản phẩm tương đương bốn chục bạc. Tôi thấy tự mình làm ra được tiền mà chẳng phải ngửa tay xin gia đình nên cả mừng.
Buổi sáng, tôi bảo mẹ gói cho tôi một mo cơm và nắm muối mè. Trời còn mờ đất tôi đã trở dậy. Sương sớm bay là là khắp mặt đất. Sương đọng trên cành cây cao nhỏ từng giọt lộp độp xuống những tàu lá chuối. Tôi ra chuồng trâu trèo lên lưng con trâu Sinh đánh vào đồng cỏ Hố Lớn. Mùa xuân, cỏ non nhú lên mơn mởn cả cánh đồng. Tôi vòng dây thừng quanh cổ trâu mấy bận rồi thả ra. Mặt trời vừa mọc, tôi một mình xăm xăm tìm lối lên đỉnh Cà Tang theo đường con suối Lớn. Nước suối trong vắt, chỉ xăm xắp bàn chân. Cứ chảy xuống một đoạn nước tụ thành một vũng sâu xanh đen bí hiểm. Có những chỗ mấy tảng đá nhô ra tạo thành hàm ếch trông rờn rợn. Có thể trong hàm sâu có một lão cá chình mọc râu tua tủa đang sống. Bộ râu của nó thính nhạy hơn lỗ mũi của con người mà con người không biết. Có thể trong hàm sâu có một cụ cua đá đôi càng to như bàn tay lực sĩ. Đôi càng cua mạnh như chiếc cần cẩu mà con người không hay. Có thể trong hàm sâu có một con ếch biết nói tiếng người. Con ếch có khả năng tiên tri mà con người thì bất khả tri... Có thể... có thể... và cũng có thể. Tôi suy nghĩ vẩn vơ.
Quá ngọ, tôi đã trèo lên khá xa. Phía trước một rừng đót trổ cờ trắng xoá. Tôi lật cơm ra ăn một mình. Miếng cơm khô rang. Nuốt nửa chừng thì nghẹn họng trào nước mắt. Một con sóc nâu từ trên cây chò nhảy xuống gần. Đôi mắt con sóc như mắt của nhà hiền triết nhìn tôi cười cợt. Tôi tức điên lên, nhặt một hòn đá ném nó một cái. Con sóc chạy biến lên tàng cây rậm kêu "choọc, choọc..." có vẻ trêu ngươi. Ngay lúc đó, tôi quên khuấy mất việc mình phải đi bứt bông đót về nộp cho nhà trường. Tôi chợt nhớ đến con mang trắng thần tiên. Một nỗi nhớ truyền đời tha thiết.
Người già kể: Con mang trắng thần tiên sống trên đỉnh Cà Tang. Đêm đêm nó hiện ra ăn lộc non rừng đót. Lộc non đọng đầy những hạt sương đêm. Trời đang nắng mang trắng tát thì trời mưa. Trời đang mưa nó tát thì trời nắng. Bộ lông của nó trắng mịn như nhung. Đôi mắt nó lấp lánh như vàng. Hơn bốn trăm năm lập làng Cà Tang Hạ này, chỉ duy nhất có một tay thợ săn lão luyện diễm phúc nhìn thấy nó. Chỉ nhìn thấy một lần tình cờ thôi. Nó đi như bay trong ánh chiều tà. Đôi mắt vàng rực nhìn người thợ săn thôi miên. Ngọn giáo trên tay người này chợt gãy làm đôi. Đàn chó săn thiện xạ chịu không nổi ánh mắt của nó bỗng lăn quay ra rền rĩ ư ử trên mặt đất. Về đến nhà, người thợ săn ngã bệnh. Lúc hấp hối, đôi mắt người bệnh lấp lánh những tia sáng màu vàng. Người thợ săn để lại di ngôn nếu ai trong làng có cơ may nhìn thấy con mang trắng lần nữa thì phải tuyệt đối giữ bí mật cho riêng mình.
Tự dưng tôi khát khao được nhìn con mang trắng. Nó ở đâu? Tôi cầm chiếc liềm trên tay băng băng qua rừng đót trèo lên đỉnh mặc kệ gai cào chảy máu đầy mình. Đường lên mỗi lúc mỗi khó khăn. Trong đầu tôi vang vang sự thôi thúc cuồng nhiệt. Phải vượt lên. Phải nhìn thấy bằng được nó. Phải tìm ra nó. Con mang trắng thần tiên. Con mang trắng tri giác. Con mang trắng đêm đêm hiện về trong giấc mộng du của ông già tôi, của cả cộng đồng dưới chân ngọn núi huyền bí này.
Tôi đi. Tôi đi tìm mãi. Trời đã ngả về chiều. Đỉnh Cà Tang mây bay trắng xoá. Một vùng cây trà mọc lúp xúp ngang bụng người. Dưới chân tôi mặt đất ẩm ướt chi chít những đống phân lợn rừng. Con sóc nâu lại hiện ra cười cợt. Con mang trắng đâu rồi? Con mang trắng ở đâu? Lạy trời, chỉ nhìn thấy một lần. Lạy trời được nhìn thấy, dù chỉ một lần để thoả niềm tiếc nuối của cả làng mấy trăm năm nay. Tôi sẽ là đứa trẻ con đầu tiên nhìn thấy nó. Tôi quá tự hào. Nhưng biết làm sao? Không thể nào nhìn thấy được.
Khi tôi sắp phát khóc lên vì tuyệt vọng thì con sóc nâu thôi cười cợt. Nó chạy đến bên chân tôi và ngước đôi mắt thông tuệ nhìn lên tỏ vẻ an ủi. Tôi đang đứng trên đỉnh núi cao, buổi chiều mây trắng bay qua từng chặp. Xa xa, dưới cánh đồng Hố Lớn con trâu chỉ nhỏ bằng quả trứng. Con người thu lại như ngón tay vô danh. Con đường giống những sợi chỉ ngang dọc... Tất cả như vừa hữu hình lại vừa vô hình. Tất cả rất lờ mờ nhưng cuốn hút lạ kỳ.
Đêm đó về nhà tôi ngã lăn ra sốt. Trong cơn mê man tôi có cảm giác một bàn tay ấm nóng đặt lên trán mình. Đâu đấy, văng vẳng lại giọng nói của mẹ tôi. "Chắc nó đi lên núi chơi gặp phải ông bà đi săn bắn trúng nhằm tên. Tối nay mình làm mâm lễ cúng ngày mai chắc sẽ bớt!". Không ngờ, sau này tôi mới biết trận ốm kéo dài cả hàng tháng trời. Tóc tai tôi rụng sạch trơn để lộ cái đầu tròn lẳn và láng như đầu ông thầy Năm ở chùa Trung Phước. Đau khổ, xấu hổ.. Tôi bỏ học một tháng nữa nên bị ở lại lớp. Năm đó tôi lên mười một, học lớp sáu trường Cây Phượng. Trường ở gần nhà, đi qua hai con dốc, một cây cầu và một ngôi miếu hoang. Buổi sáng tôi đi chăn trâu buổi chiều đi học. Tôi vẫn thích đi chăn trâu hơn đi học. Mặc dù học kỳ hai năm lớp sáu lần sau tôi vươn lên đứng đầu lớp.
Nhà tôi ở làng Cà Tang Hạ sát dưới chân núi Cà Tang. Ngọn núi cao bảy trăm năm mươi tám mét so với mực nước biển. Buổi sáng vừa mở mắt ra đã nhìn thấy trời xanh mây trắng... Trời xanh, xanh đến nôn nao. Mây trắng, trắng đến rợn người. Làng tôi quá nghèo. Con người ở đây sống thật đơn sơ. Đàn ông ngày ngày lên rừng đốn củi hoặc làm rẫy. Đàn bà lo chăm sóc ruộng nương, nuôi tằm đệt vải và thêu thùa. Trẻ con chỉ biết đi chăn trâu cắt cỏ. Người già khi qua đời chẳng có của cải gì để lại ngoài những câu chuyện huyền thoại đạm bạc của một vùng núi hoang vắng.
Những câu chuyện như vậy cứ truyền mãi từ đời này sang đời khác. Cho đến tận hôm nay nó vẫn còn tiếp tục truyền miệng cho thế hệ sau với rất nhiều dị bản.
cafe_alone
10-03-2006, 12:47 PM
Lâu lắm, tôi mới về thăm nhà. Vừa đặt chiếc xe mi ni cà tàng gửi trong toa tàu bê bết phân trâu xuống đất, tôi đã ráng hơi vén sức cố đạp trên con đường lăm nhăm đá sỏi, vừa thở hồng hộc và tưởng tượng ra giây phút gặp lại mẹ mình.
Con đường nhỏ chênh vênh đã hiện ra phía trước. Bên này là hàng rào gỗ mục của một gia đình có con đi Đức, bên kia là hố sâu nham nhở những mũi ngoạm của chiếc xe xúc ủi mở đường. Nhà tôi nằm hun hút giữa đồi cao, mùa này trơ vơ giữa gió Lào và nắng xối. Tôi về nhà đúng lúc mẹ đang lượm củi lau nhau để đun nồi cám lợn ở góc vườn. Chị Hiên đang ngủ. Ngủ mà mắt vẫn mở, nhìn đâu xa vắng. Mẹ không nói gì, cũng không tỏ thái độ. Người giận tôi về nghỉ hè muộn mấy ngày.
Tôi theo mẹ ra lượm củi dưới cây ổi sẻ giờ đã già xơ xác. Cây ổi nằm ngay trên con đường mòn dẫn ra ngoài đồi, lấp đầy lá rụng, dường như rất hiếm những bàn chân. Nghĩa trang của xã cách nhà tôi mấy bước cũng bị người ta hạ đất dời dở nhở nham khắp chốn. Vườn khoai nhà bà Lan thì như một mảnh đất hoang ngập ngầy cỏ úa. Mẹ gọi giật, cấm tôi ra vườn đồi. ở ngoài đó, mẹ bảo, bây giờ chắc vẫn còn thằng Đúa.
Thằng Đúa... Trong trí nhớ tôi vụt hiện lên một cái đầu tròn trĩnh, trọc lóc, trơn bóng mà lại xanh mờ như quả dưa non chín héo. Một gương mặt lồi lõm trứng cá, hai con mắt kéo khít gần nhau vừa gian gian lại vừa ngây ngô, ngờ nghệch. Đi kèm là nụ cười ngớ ngẩn một cách đáng sợ, khoe hàm răng trắng ởn dính đầy bựa vàng, không bao giờ thiếu vắng cái bầm bập, chèm chẹp tứa nước miếng thành dòng của điếu thuốc sâu kèn to tổ bố. Thằng Đúa... Hóa ra trong ký ức của mình, tôi chưa bao giờ quên hắn.
***
Đúa bị bệnh tâm thần bẩm sinh. Nghe đâu, mẹ hắn cũng tâm thần. Mẹ hắn đi lang thang khắp phường trên xã dưới, lê lết ở xóm chợ Mỹ Đức không biết đã bao năm. Chẳng hiểu một gã vô lương nào đã cưỡng hiếp người đàn bà điên bẩn thỉu chỉ biết bịt cái ấy của mình bằng hai mảnh giẻ buộc dây chuối, hay cũng có thể một gã có lương tâm nào đó đã ra ơn mưa móc cho người đàn bà bất hạnh ấy một vài giây sung sướng rồi cao chạy xa bay.
Mẹ Đúa sinh hắn trong một đêm đông rét mướt sau khi mang thai mười ba tháng một ngày. Chào đời, cái đầu hắn đã trọc lông lốc như quả bóng nhựa trẻ con đá. Hắn có lẽ được thừa hưởng nhiều nhất từ mẹ là đôi mắt. Đôi mắt vừa gian giảo như thằng lưu manh, lại ngây ngô, dài dại đáng thương của một kẻ bất bình thường. Nhiều người bảo hắn hủi. Hủi gì mà hủi! Có mà hủi cái miệng lu loa của ai hồ đồ!
Đúa dẫu có bị chốc ghẻ đầy mình cũng không giấu đi đâu được những ngón tay chuối mắn núc ních đầy khát sống. Mẹ hắn bớt điên, lê lết qua nghề lùng măng vầu, tre nứa để bẻ trộm những mầm non đem về cân cho hàng măng chua cuối chợ. Hắn lớn lên, vừa lẫm chẫm biết đi biết chạy thì trong một lần đi ăn trộm măng tre, mẹ hắn đã bị một cặp rắn trắng đang giao hoan quấn tít trên đọt tre bổ nhào xuống phun nọc phì phì vào mặt. Về nhà chưa được nửa ngày đã sưng vù nửa người rồi lăn đùng ra chết. Đúa được lão Sung, lão già có tuổi đời cao nhất làng, chuyên gia nhặt phế liệu về tái chế nhận làm con nuôi. Ông lão mới giải nghệ, không vợ không con nên thương Đúa như con đẻ. Nhưng chỉ được mấy năm. Ông lão qua đời để lại hắn một mình với ngôi nhà rách nát ghép toàn bằng phế liệu nhặt được. Đúa trở thành đứa cầu bơ cầu bất.
Hắn lớn lên ở làng như con chó, con mèo, ăn dăm ba miếng cơm thừa canh cặn, củ sắn củ khoai mọi người thương tình bố thí. Khi bắt đầu mạnh tay, mạnh chân, cái tuổi ăn tuổi ngủ giục giã dạ dày hắn, bắt hắn phải làm liều. Hắn rình trộm gà, khoai sắn, chuối chăng... tất tật những thứ ăn được. Một hai lần thành quen, hắn ngày càng liều lĩnh. Lúc đó nhà nhà trong làng đều nghèo, chỉ biết mùi rơm rạ, chưa biết đến xi măng, sắt thép. Càng nghèo người ta càng chăm cúng giỗ lễ bái từ ông cụ kỵ đời nảo đời nao đến ông bà ông cử. Đúa chỉ việc chờ nhà nào cúng giỗ, rình sẵn đầu chái, đợi người ta sắp đồ, thắp hương là vạch liếp chui vô, lẹ làng chén sạch rồi chuồn, để lại hàng hàng chén đĩa trên bàn thờ. Người làng bắt được đôi ba lần, bận nào cũng đánh cho hắn nát thịt nhừ xương mà chẳng chừa. Đúa vẫn chứng nào tật nấy, vẫn sống nhơn nhơn trong con mắt ghẻ lạnh của người đời.
Có lẽ cuộc đời hắn sẽ còn mãi quẩn quanh nơi xó làng nghèo hèn, chật hẹp ấy, chẳng long đong trôi dạt đến tận đất Phú Mỹ này, nếu không có sự xuất hiện của bà chủ hàng buôn gạo. Một lần về thăm làng, đang giữa buổi cúng chạp họ, ông trưởng họ Nguyễn nhà bà Lan bắt được thằng Đúa đến chén lộc. Bà Lan đứng ra xin, cứu thoát hắn khỏi một trận đòn, bảo lãnh Đúa rời khỏi làng, cũng là để đỡ phí của giời cái sức lực sĩ của hắn. Bà làm giấy tờ xin xã cho bà nhận Đúa làm con nuôi. Đúa còn được cấp giấy chứng nhận là người mồ côi tàn tật không nơi nương tựa, mỗi tháng được nhận tiền trợ cấp theo chế độ hai linh hai của nhà nước. Dĩ nhiên, hắn chẳng biết cầm tờ giấy đọc ngang hay dọc. Tiền nhận về, bà Lan chỉ cần đổi năm trăm đồng thành mấy tờ hai trăm, một trăm con hay tờ một nghìn thành mấy xu bạc hai trăm trắng giao cho hắn là hắn đủ mừng quýnh. Nghiễm nhiên, số tiền còn lại phải về tay bà chủ.
***
Chân ướt chân ráo vừa nhập tịch đất Phú Mỹ, Đúa được phân công chăn dắt đàn bò một đực ba cái. Ngoài ra, hắn còn thêm nhiệm vụ chăm vườn khoai nho nhỏ cỡ chừng một héc-ta rưỡi. Đất hoang không làm cũng phí. Khoai ruộng lạ càng tốt, càng cho dây mập, củ to. Ban đêm, Đúa được đặc cách đi đón bà chủ ngoài ga tàu, đón luôn chiếc xe bò chở đầy gạo về nhà. Công việc và cái nắng rút người trên đồi Phú Mỹ chẳng hề làm suy suyển sức trai của hắn. Ngược lại, Đúa càng ngày càng khoẻ. Sức ăn của hắn cũng tợn như công bỏ ra. Đến bữa, hắn cắm đầu ngồi ăn, mắt không nhìn vào đâu ngoài nồi cơm đại và chậu canh rau đầy ắp. Hắn có thể lùa một lúc bảy bát cơm, hụp một chậu canh và ăn thêm được rổ khoai lang tú hụ không cần bóc vỏ.
Ăn nhiều, làm nhiều, hắn vẫn mau đói. Thi thoảng, làng lại mất con gà con qué. Nhà tôi ở gần đồi, đôi khi thấy khói lá sim, lá mua bay lên là đã thấy thoang thoảng mùi thịt nướng thơm đến túa nước dãi. Thằng Đúa cứ mỗi lần dỡ khoai lang lại vào nhà tôi mượn nồi bắc trộm. Mẹ tôi vốn hay thương người, thôi thì đành tặc lưỡi. Đôi khi, còn nấu cơm đột xuất nhiều hơn ngày thường, ủ một tô đầy ắp, thấy hắn lảng vảng góc vườn là gọi vào cho ăn. Tôi ghét cay ghét đắng cái trò đó. Ai đời cái mặt nham nhở như gò mả của hắn, ăn thì một thúng uống thì một thùng mà lại vục vào tô sứ Hàng Châu quý giá, nom đã thấy tơm tởm. Nhưng tôi ghét cứ ghét, mẹ vẫn thương hắn, vẫn cho hắn ăn, rồi lại lụi cụi đi rửa chén. Nhà không có đàn ông, có lúc mẹ cũng nhờ được hắn bổ cho vài thanh củi, kéo cho vài gàu nước từ cái giếng sâu hun hút mười lăm mét. Mà hắn cũng chỉ biết làm mấy việc đó. Chẳng bù cho mấy lần bốn con ba đực một cái của hắn xông vào tàn phá vườn rau. Hắn cười khì mà trừ. Mẹ tôi đố đòi hắn đền được nửa đồng xu mẻ.
Làng tôi từ mất con gà con qué lâu dần chuyển sang mất mít, mất chuối, đến cả xoong nồi thau chậu. Cả làng nhao nhao như sôi lửa. Người ghét thằng Đúa không mấy nhưng căm bà chủ hàng gạo thì nhiều. Con người đẫy đà trơn mượt như chạch ấy mồm năm miệng mười cũng gớm. Bà cứ bem bẻm nhai trầu, nhổ trét trẹt xuống đất rồi xỉa năm ngón tay vào không khí, xia xía cặp môi dày đỏ choét mà rằng: Bắt được tay day được trán, ừ thì bà cho hắn ăn trộm, bà cho hắn chết đói, bà làm giàu nhà bà, ai làm gì được bà...Thế là làng đành chịu, chỉ biết canh chừng cẩn thận hơn.
Thằng Đúa được thể làm già. Đến nhà tôi hắn cũng chả từ. Cửa nhà bếp vừa bị hư chốt hai ngày chưa kịp sửa, hắn vào xin nước uống chiều hôm trước hôm sau đã bốc hơi hai cái nồi đồng. Mẹ tiếc của cứ đi ra đi vào lẩm bẩm mỗi một câu: "Chẳng biết hàng đồng nát có trả cho hắn được nhiều tiền không?". Trời đất! Tôi phát cáu lên suýt nữa thì chạy bay xuống nhà bà Lan chửi cho hắn một trận. May mà sực nhớ sáu giờ sáng thằng Đúa đang dong ruổi một mình trên khe đá trong rừng với hai con bò đực để kéo về một xe củi đầy chất ngất.
***
Ngày tháng cứ dần trôi đi. Lại sắp đến mùa dỡ khoai. Thích nhất là được ngồi sắp những lớp khoai bùi bùi trong trong lên cái mủng lớn, đem phơi cho kịp nắng rồi bỏ vào hũ hoặc tiềm, nút kỹ lá chuối tránh mốc để mùa đông có cái độn cơm hay làm lương khô, quà vặt gặm dần. Làng bỗng dưng thôi mất trộm. Tất cả đều như lắng lại để bước vào vụ khoai tới. Tôi phát giác ra một điều khủng khiếp: ngày nào chị Hiên cũng luộc giùm một rổ đầy khoai cho thằng Đúa. Trời ơi! Chị Hiên, người con gái đẹp nhất làng mà nhà nào có con trai đến tuổi dựng vợ gả chồng cũng đều gấm ghé, xa gần với mẹ tôi để xin rước chị về làm dâu. Nhìn mái tóc bồng bềnh đen như mây đổ đầy bờ vai đang rủ xuống bên rổ khoai nghi ngút, lại lột vỏ từng củ khoai đưa cho thằng Đúa, tôi thấy lạnh cả người. Tôi chạy về mách mẹ. Không ngờ mẹ chẳng những đã biết trước tôi từ lâu mà lại còn đồng tình với việc làm của chị Hiên. Thật ngu ngốc và nực cười. Tôi không tìm được câu gì để bẻ lại lý lẽ của mẹ. Con người ta ở đời có phúc có phần, huống chi chị Hiên lại giúp thằng Đúa là người tàn tật... Tôi để bụng chuyện đó mãi, chờ cơ hội để chứng minh cho mẹ thấy không phải lúc nào có phúc cũng sẽ có phần.
Đầu năm mới ở làng tôi có quan niệm gia đình nào được người không bình thường đến xông đất thì gia đình ấy trong năm sẽ đầy may mắn. Tôi thì tôi nhổ vào quan niệm đó. Chẳng nhẽ cứ với người không bình thường là họ sẽ rước cái xui, cái xấu đi? Chỉ cần nhìn những dị tật và bộ mặt của họ đầu năm cũng đã là một sự xui xẻo rồi. Nhiều gia đình trong làng đã ươm ướm nhờ Đúa đến xông đất song hắn chỉ ngoác cái miệng có hàm răng trắng ởn dính đầy bựa vàng của mình ra cười. Trời xui đất khiến, mới mở mắt sáng mồng một, tôi đã thấy nụ cười ngô nghê với cái đầu trơn bóng thấp thó đầu ngõ. A ha! Dịp may! Tôi phóng vào bếp, rồi ào ra cửa, vốc từng đùm muối ớt rải theo dấu chân Đúa để xông vía thằng điên. Nụ cười trên môi hắn vụt tắt. Cùng lúc, tôi lãnh cái tát cháy mặt. Chị Hiên! Tôi sững sờ đứng lặng. Rồi òa khóc bỏ chạy vào nhà. Càng muốn nổ đom đóm mắt vì ngay lúc ấy, mẹ đã ra tận cửa kéo thằng Đúa vào, còn chị Hiên thì lấy từ trong thùng gỗ của mình ra một bộ áo quần mới tinh màu cỏ úa lì xì cho hắn. Tôi khóc tấm tức suốt cả ngày. Thằng Đúa là kẻ thù của tôi, kẻ thù, không thể nào khác được.
***
cafe_alone
10-03-2006, 12:48 PM
Sau cái Tết đó, Đúa chăm đến nhà tôi nhiều hơn. Có khi hắn lò dò vào xin ngụm nước, thấy mẹ tôi bổ củi thì không cần nhờ cũng lao vào bổ giúp, thấy chị Hiên kéo nước cũng mau mắn đến kéo giùm. Chị Hiên càng ân cần với hắn bao nhiêu, tôi càng ghét hắn bấy nhiêu. Đôi lúc tôi tự hỏi mình và hoảng hồn với câu hỏi đó: hay là chị Hiên... yêu thằng Đúa? Yêu! Tôi dài môi rồi bật cười. Mình rõ khéo cầm đèn chạy trước ô tô. Có mà khùng! Đồ cái mặt điên như hắn, thuê cũng chẳng ai dám yêu.
Một buổi tối thằng Đúa đến chơi. Mẹ đi họp phụ nữ xóm, chị Hiên ngồi trò chuyện và rót nước cho hắn. Tôi hong hóng nhìn rồi gai con mắt hỏi hắn thế Đúa bao giờ định cưới vợ. Hắn di di những ngón chân đầy ghét trên nền nhà, cười bẽn lẽn nói ai thèm lấy Đúa bây giờ mà cưới hả Liên.
- Thế mà có đấy, chỉ sợ Đúa không bằng lòng thôi!
Bạn chị Hiên nghịch ngợm vừa mới đến đã xen vào. Thằng Đúa mặt đỏ tận mang tai, lúng búng:
- Nhưng... nhưng Đúa không có lợn.
Ô hô! Bạn chị và tôi cười phá lên sặc sụa. Cười đến chảy mũi nước. Bạn chị Hiên nhìn chị rồi quay qua Đúa, cố làm bộ nghiêm túc:
- Đúa này, người ta không cần nhiều đầu lợn đâu, chỉ cần ba cái thôi. Mà... Đúa đã có một cái rồi đấy!
Ôi trời ơi, tôi cười muốn nứt bụng. Cha mẹ ơi, đời thưở nào thằng điên lại đòi có lợn cưới vợ. Mãi khi chị Hiên quắc mắt lên, tôi mới cụt hứng, nhưng vẫn còn hích hích mãi chẳng nguôi cơn cười được. Thằng Đúa nhìn chị rồi đứng dậy, vò vò cái mũ bước ra ngoài. Tôi nói với theo:
- Không cần ba đầu lợn đâu, chỉ cần mười lăm cái thủ chó là được!...
***
Làng tôi dạo ấy như có ma, đi đâu cũng nơm nớp sợ. Nhà ông Thư hai đêm liên tiếp mất hai con chó khoang dữ tợn nhất làng. Nhà bà cả Khánh, bà Tuấn... cũng lần lượt mất trộm chó. Mẹ tôi giữ rịt hai con cún vừa mới xin ngoại về, sợ cũng mất thì thương lắm.
Một đêm trăng, trong vườn nhà tôi có tiếng rào rào rậm rịch. Mẹ sợ, vì vườn bạch đàn nằm sát nghĩa trang. Tôi lắng tai nghe rõ tiếng lá gãy roàn roạt rồi im bặt, đồ rằng một đôi trai gái nào đó đi chơi khuya, đang "lót ổ" dừng chân. Dạo trước, tôi cùng mấy tụi nhóc trong làng rình được mấy vụ liên tiếp. Thu cả áo quần bắt phải cho tiền mua kẹo mới cho xin lại. Vui đáo để! Tiếc là chị Hiên nhúng mũi vào. Tôi bị mẹ đánh đòn, cấm tiệt không cho ra ngoài buổi tối. Cái bà Hiên đúng là đồ tẩm, dở hơi biết bơi, chả trách lại chơi thân với thằng Đúa. Không thì tôi và tụi trẻ con giờ này đang nằm trên cỏ căng mắt ra mà bấm nháy nhau cười rinh rích rồi.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi phi ra vườn, bàng hoàng trước cả vườn bạch đàn bị chặt nát tan hoang. Mẹ lần theo vết quét của cây kéo lê trên mặt đất, băng qua vườn khoai đến ngõ nhà bà Lan thì mất dấu. Mẹ bực mình định quay lên, chị Hiên đã hổn hển gọi thằng Đúa. Thằng Đúa đang đứng trong chuồng bò, giữa một đống lá bạch đàn xanh roi rói. Thấy chị Hiên, hắn tái mặt. Bà Lan trong nhà cũng rục rịch vần ra. "Bốp! Bốp!". Đúa bị xơi hai bạt tai vào mặt. Bà Lan mắng xối xả: "Tổ sư thằng thối thây không cha không mẹ. Mày ăn trộm của người ta để người ta đến bắt đền. Cha tiên nhân thằng ăn báo ăn hại...".
Bà Lan mắng chán rồi nhảy cẫng lên, xông vào đám lá. Này thì bạch đàn! Này thì ăn trộm! Bà thì đốt hết, vứt hết!
Đột nhiên, đôi vai thằng Đúa run bắn. Hắn quỳ thụp xuống chân chị Hiên:
- Hiên! Đúa... Đúa... dì Lan bảo Đúa chặt... chặt để làm nhà... nhà cho Hiên và Đúa...
Tôi há hốc mồm. Mẹ tôi cũng há hốc mồm. Cùng lúc, chị Hiên bưng mặt rú lên: Trong đám lá bạch đàn, chín cái đầu chó nằm phô phang, lông lốc.
Suốt một tuần lễ, bà Lan giam thằng Đúa không cho hắn ăn, bắt hắn làm việc gấp đôi bình thường và nhiếc mắng không tiếc lời tiếc sức. Rồi sau khi bà đuổi, thằng Đúa bỏ làng đi biệt.
***
Một năm trôi qua, tôi rời làng đi học. Chị Hiên vẫn chẳng lấy chồng. Thời thế đổi thay. Dường như từ dạo thằng Đúa đi, làng có nhiều sự biến. Đứa con út nhà bà Lan ra sông tắm bị nước cuốn trôi, ông chồng già thì nằm viện mấy tháng trời không tìm ra bệnh. Nhà bà Lan đổ vàng đổ bạc như gió đổ vào nhà trống mà vẫn tuynh huynh, toàng hoàng. Bao vườn tược cây cỏ hạn hán hanh hao chẳng được nửa đồng lại vốn. Bò bê bán tháo. Không còn bóng dáng một bà chủ nuột nà lẻm bẻm nhai trầu xênh xang gấm lụa, quen xỉa xỉa mấy ngón tay lóng lánh vòng vàng vào không khí. Nhiều người chép miệng: " Ở đời... có vay có trả. Chỉ thương cho thằng Đúa không biết giờ đang lưu lạc chốn nào...".
Rồi đột nhiên chị Hiên có bầu. Mẹ tôi vật nài van xin khóc lóc, chị vẫn không hé răng nửa lời về cha đứa bé, cũng không chịu nhấc chân khỏi nhà đi đến bệnh viện phá thai hay khám thai. Ngày chị chuyển dạ, trời đổ mưa tầm. Chị sinh một đứa con trai đỏ hỏn như cục thịt tròn lông lốc. Cả nhà đều sợ, không ai dám nhìn. Chị nằm trong phòng tối, khóc suốt cả tuần mưa. Một đêm thăm thẳm, giữa tiếng mưa rền rĩ, gió rít lạnh buốt và tiếng chó gầm gào, chị Hiên dựng cả nhà dậy bằng những tràng cười. Mẹ tôi vào. Trong phòng không còn đứa trẻ. Chỉ có chiếc dép đàn ông đứt tung rơi bên ngưỡng cửa. Chị Hiên ngồi trên giường, cái đầu tóc rụng trốc trơ lắc lư theo cơn cười man dại.
***
Mỗi lần đi trên đường, trong mưa, dường như tôi vẫn còn nghe âm âm tiếng cười của chị. Và mỗi lần bước qua những vũng nước mưa nông choèn, tôi lại giật mình nhớ lời người làng bảo... Bảo rằng: Ai giẫm phải nước đái của thằng Đúa, người ấy sẽ thành điên!
cafe_alone
10-03-2006, 01:02 PM
Quán nằm chỗ bến sông dựng bằng lá tranh ẩm mốc. Sau lưng là con đường nhỏ dẫn về làng um tùm cây dại. Trước mặt là con sông không thấy bờ, nước lăn tăn như bạc vụn. Những hôm thuyền rời bến, nước đục lên một tí rồi lắng lại, trong leo lẻo, thấy từng viên sỏi nhỏ óng ánh dưới đáy nước. Trên bờ những cây gỗ mục nằm chất đống, chen lấn giữa đám cỏ gà cao nhồng.
Chủ nhân của quán cũng nhỏ bé và cô độc hơn giữa mênh mông trời đất. Nhiên có đôi mắt một mí buồn rượi, da thịt trắng xanh như bước ra từ liêu trai. Mái tóc dài để xõa che khuất gương mặt tròn và nụ cười buồn đầy quyến rũ. Mỗi buổi chiều thu dọn ghế xong ngồi tựa cửa, tranh thủ thêu những chiếc khăn lụa nhỏ có hình chim bay lượn bên nhau để kịp gửi xuống chợ bán. Nhiên đẹp như tranh Tố Nữ. Nắng vàng cuối chiều trườn nhẹ trên bờ cỏ, hắt lên má Nhiên mầu hồng ấm áp. Nhiên cất tiếng hát "Ơi chàng ơi chim có bạn có bầy, thuyền có bến có sông sao lại để em năm canh gối chiếc chăn đơn đợi chàng... " Tiếng hát kéo dài qua những rặng cây ướt đẫm nước, rồi tan ra trước khi rơi xuống con sông đang chuyển dần sang mầu xám sẫm.
Khách của quán đa phần là dân chài da nâu bóng như hun đồng, tóc bám bụi từng mảng lớn, vô tư và ồn ã. Thảng hoặc mới có người trên huyện ghé tạt qua vì tiếng đồn cô chủ quán xinh đẹp, quán có vẻ gì rất xưa cũ hơn là dừng chân uống nước. Họ đến từng người một nhưng ngồi lẫn trong đám dân chài, trầm ngâm nhìn Nhiên, xì xào bàn tán nhỏ tọ Mắt họ vẩn mây đục. Họ nhấp môi vài chén nước thấy đắng chát, tay chân rã rời mà không ngỏ được một lời nào. Họ đến rồi đi như lá bay, tuần tự, lũ lượt không để lại dấu ấn gì, cũng không trách móc gì. Như xem một bức tranh, nó đẹp quá nhưng không thể nào của riêng mình được. Vậy thì ngắm nghía đã được thỏa thích rồi.
Còn Nhiên, càng ngày càng thấy buồn, thấy quán thêm lạnh lẽo. Mỗi lúc nhìn thấy vợ con của những người thuyền chài ra đón chồng, lòng Nhiên lại chùng xuống. Có gì đâm nhoi nhói trong tim, ứa lên mắt những giọt nước trong suốt. Tôi bảo: "Nhiên ơi, lấy chồng đi cho nó đỡ cô quạnh". Nhiên cười buồn bã "Lấy ai bây giờ. Bọn họ tầm thường lắm". Những ngón tay Nhiên đan vào nhau mảnh dẻ và bắt đầu ửng đỏ. "Họ có yêu mình đâu, chỉ toàn yêu vẻ ngoài của mình thôi". Tóc Nhiên xõa dài xuống bờ vai tròn lẳn. "Hồng nhan truân chuyên lắm Nhiên ạ!". Nhiên cũng nhủ, ừ hồng nhan lúc nào phận cũng bạc.
Người đó tọc tạch đi trên chiếc xe đạp rỉ sét, bàn đạp cứ rên lên ken két, sau lưng chằng buộc một hộp đồ lớn, đi từ hướng thị trấn về đến chỗ quán của Nhiên thì dừng lại, ngó quanh vài giây rồi chậm rãi bước vào. Hôm ấy trời lạnh, quán vắng khách. Người khách quỳ xuống bên bếp lửa. Ánh vàng hắt lên mặt anh lộ rõ đôi mắt sáng, vầng trán phẳng như tạc bằng đá và đôi môi mím chặt cương nghị. Cả người anh toát lên vẻ mạnh mẽ lẫn yếu đuối giữa những đường nét đối chọi nhau trên gương mặt. Anh quay lại bảo "Chị làm ơn cho tôi chén chè nóng". Anh không giật mình, không sững sờ, thậm chí không để ý đến vẻ đẹp của Nhiên. Điều đó làm Nhiên xúc động. Cô đặt trước mặt anh ấm chè và vài phong bánh, nhỏ nhẹ "Anh về làng chơi?". "Không, tôi không có người quen ở đây. Tôi đến vẽ bến sông này. Chị biết ở đây có ai cho thuê nhà?". "Tôi không biết. - Nhiên ngập ngừng. - Thôi anh cứ ở tạm quán tôi. Bến sông ngay dưới kia, anh tha hồ vẽ". "Được thế thì tốt quá". Anh bước thẳng xuống bến, không một lời cảm ơn. Nhiên không thấy buồn, thấy giận chỉ cảm giác người mình chòng chành, từng đợt sóng nhẹ nhàng trào dâng trong lòng. Nhiên bước ra cửa, mắt dõi xa xạ Bóng anh in nghiêng trên nền trời xám bạc, một lát đã lẫn vào làn sương mỏng tỏa trên mặt nước. Một vì sao đột nhiên vụt sáng cuối chân trời rồi cũng bay đi mất hút.
Buổi tối anh dặn dò kỹ lưỡng "Chị Nhiên ạ, sáng mai nhớ gọi tôi dậy sớm. Tôi chỉ có vài ngày ở đây, phải vẽ cho bằng được bình minh trên bến sông. Nó đẹp lắm phải không chị?". "Tôi thì thấy đẹp nhưng ở đây ai cũng bảo thường". Nhiên quay lại thấy anh đã nghẹo đầu ngủ ngon lành.
Nhiên nằm im lặng, lòng xốn xang không ngủ được. Nhiên bước ra ngoài. Đêm lạnh. Bến sông mờ mịt tối, in những bóng thuyền lờ nhờ như những chiếc lá khô nổi lềnh phềnh trên mặt nước. Tiếng gió rền rĩ như tiếng thở than của những người đàn bà. Nhiên hỏi "Các chị buồn ự Hãy về đây nói chuyện với em. Đêm nay em khó ngủ quá". Nhiên gục mặt vào hai bàn tay, lòng tự nhiên bâng khuâng.
Mặt trời đã lên cao. Sương đã tan và những con thuyền đã rời bến. Nhiên nhìn anh ngủ, không muốn đánh thức dậy. Cô lặng lẽ làm mọi việc, gắng không gây tiếng động. Nhiên cảm thấy thương anh kỳ lạ.
Khoảng mười giờ anh bừng tỉnh hốt hoảng nhảy xuống giường. "Đã sáng rồi hả chị?". Nhiên cười "Đã trưa rồi". Anh vò đầu bứt tai "Trời ơi sao chị không gọi tôi. Thật là... ". Nhiên phân trần "Em thấy tội anh quá - Giọng Nhiên hơi nghẹn lại vì tự ái - Em xin lỗi". Anh xua tay "Thôi không sao, không sao!". Anh xách đồ nghề ra bến sông, ở suốt dưới đó cho đến tối mịt. Anh luôn miệng nhắc "Tôi chỉ có vài ngày làm việc ở đây, sợ không kịp mất". Vô tình anh làm Nhiên đâm sợ hãi thời gian.
Một buổi sớm thức giấc. Nhiên thấy đầu giường mình có hoa dại. Những bông hoa cánh mỏng tang phết mầu mật ong óng mượt. Vài giọt sương còn đậu trên cánh hoa, lóng lánh như ngọc. Nhiên hớt hải chạy ra bến sông "Anh ơi... " Tiếng cô lạc vào trong gió. Gió lùa vào cô lạnh buốt. Nhiên rũ xuống. Mặt sông cuộn lên như muốn dìm Nhiên mãi.
"Nhiên!". Nhiên ngẩng phắt dậy. Anh đứng trước mặt nhìn Nhiên cười hiền lành, hai gò má tái nhợt vì lạnh. Nhiên nhào đến anh, bật khóc "Em tưởng anh đi rồi. Em nghĩ là anh đã đi rồi". "Anh làm sao đi được - Anh vuốt tóc Nhiên, dìu cô về nhà - Anh còn phải vẽ em nữa kia mà". "Em ử". "Phải, bé yêu". Anh đặt Nhiên nằm xuống giường, hôn cô âu yếm. Sóng trong người Nhiên trào lên cuồn cuộn rồi sôi chảy êm ái. Đến một lúc nó tan ra ngọt lừ. Nhiên thiếp đi miệng nở nụ cười sung sướng.
Mấy ngày sau quán vẫn mở nhưng tự nhiên chẳng ai đến. Bến nước thành ra buồn tênh. Nhiên ngồi cho anh vẽ, đắm chìm trong niềm hạnh phúc bất ngờ mình đang có trong tay, mắt đẫm nước. Nắng như tấm voan bằng vàng phủ lên tóc Nhiên, lên người Nhiên chạy thành một đường diềm trên ô cửa mở rộng. Anh luôn miệng xuýt xoa "Chao ôi, Nhiên ơi, đẹp quá đi mất. Em này, bến sông này, còn gì hơn nữa". Bức tranh hoàn thành vào buổi chiều cuối thụ Mưa phùn giăng kín ô cửa. Nhiên nhìn mình trong tranh, thốt lên ngạc nhiên "Em đẹp thế này sao?". "Còn hơn thế nữa. Nhưng anh không tả hết được. Thật khó lòng mà tả hết được em". Nhiên xấu hổ, dụi đầu vào ngực anh. Tiếng anh thì thầm "Một tháng rồi Nhiên nhỉ? Vậy mà anh chẳng muốn đi đâu hết".
Nhiên tỉnh dậy, nhìn quanh không thấy anh. Nhiên nghĩ chắc anh lại ra bến sông vẽ nên dọn hàng xong mới ra gọi anh. Nhiên gọi mãi, không thấy anh trả lời. Cô chạy dọc theo bến sông. Mưa bay tới tấp vào mặt. Bến sông lặng ngắt. Cây cỏ dúi vào nhau ướt sũng. Nhiên ráng gượng đứng lên quay về nhà. Cô hiểu thế là anh đã đi thật rồi. Đã đi xa khỏi cô thật rồi, không một lời từ biệt. Đáng lẽ thì không nên thế. Nếu anh phải đi thì cũng nên nói với cô một lời... Nhiên đưa tay vuốt khuôn mặt ướt đẫm nước mưa và nước mắt.
Nhiên lặng lẽ ngồi xuống giường. Dưới gối có một tờ giấy nhỏ, chữ viết vội vàng "Nhiên yêu quý, rồi cũng phải đến ngày hôm naỵ Anh rất yêu em nhưng công việc của anh bắt anh phải đi. Em thông cảm chờ anh. Hãy chờ anh nhé, bé yêu, hôn em!"
Nhiên gục xuống. Cô không khóc. Chỉ thấy mắt bỏng rát. Nước mắt chảy ngược hết vào trong như muối xát. Nhiên không còn khóc được nữa.
Thời gian thấm thoắt trôi quạ Những lùm cỏ dại bên sông ngày càng um tùm lút mất tầm mắt nhìn về bến. Đến mùa xuân, hoa dại lại nở vàng óng như những cánh bướm. Quán lại đông khách. Dân chài lẫn với người thị trấn lại đến uống nước vì trong quán có cô chủ quán xinh đẹp như thần tiên. Nhất là sau dạo mùa đông, nét đẹp ấy càng đằm lại, hanh hao như sương khói, như thể lúc nào cũng chực như tan biến mất.
Chiều khách vãn dần. Cô chủ quán lại ra ngồi tựa cửa, mắt dõi nhìn xuống bến sông, tay âu yếm xoa bụng. Tôi giục "Sao không lấy chồng đi cho đỡ cô quạnh?". Cô cười vô tư lự "Mình phải đợi anh ấy về". Cô cúi xuống, tiếp tục cặm cụi thêu những con chim nhỏ trên khăn lụa kịp buổi chợ ngày mai, và hát "Ơi chàng ơi, chim có bạn có bầy, thuyền có bến có sông sao lại để em gối chiếc chăn đơn đợi chàng... ".
Cũng dạo ấy, trên những tờ báo lớn đều đưa tin "Lần đầu tiên Việt Nam đoạt giải lớn Mỹ thuật quốc tế". Bức tranh Bến đợi chồng được đánh giá rất cao về mặt nghệ thuật. Kỹ thuật ánh sáng, đường nét hài hòa, chắt lọc. Mầu sắc lung linh. Nhìn vào, người ta có thể thấy những cảm xúc về tình yêu, hạnh phúc đã từng một lần trôi qua đời mà ít người nắm bắt được. Bên cạnh tấm ảnh chụp tác giả bức tranh đang tươi cười đứng bên người vợ tương lai, con một họa sĩ lão thành tiếng tăm và bức tranh Bến đợi chồng. Cô gái ngồi tựa cửa, thấp thoáng phía xa con sông rắc bạc vụn. Những chiếc thuyền đánh cá nâu sẫm nằm phơi lưng lên trời chen giữa đám gỗ mục và cỏ gà. Nắng viền đường diềm lên ô cửa, thả tấm voan khắp người cô. Tác giả của bài viết về bức tranh Bến đợi chồng kết luận: "Đôi mắt của cô ấy đẫm nước, lúc nào cũng như thầm thì "Em ở đây. Em đang đợi anh đây... ". Thật hạnh phúc cho người đàn ông nào được cô ấy yêu thương và chờ đợi".
cafe_alone
10-03-2006, 01:03 PM
Hạnh phúc, bất hạnh, buồn, vui, sướng, khổ cứ tiếp nối mãi theo nhau trong 24 giờ mỗi ngày, trong tâm cảm mỗi người. Rồi từng ngày theo nhau đi qua, cho đến một hôm nào đó, tôi chợt nhận ra: Thử một ngày không tôi xem sao. Tất cả mọi việc đều bình thường! Người nào, công việc đó...
Khi tôi về nhà, ba tôi ra mở cửa. Người nhìn tôi ngầm hỏi kết quả nộp hồ sơ thế nào. Tôi xuê xoa: “Chờ đợi, phải chờ đợi!”. Ba tôi ngồi, chăm chú đọc mấy tờ báo. Tôi biết, người đang đọc trang quảng cáo tuyển nhân viên rồi sẽ khoanh tròn lại bằng mực bút bi đỏ. Tôi sẽ “nghiên cứu” những dòng chữ đó để rồi lại lao đi, bồn chồn nộp hồ sơ.
Tôi mệt. Thú thực, tôi mệt. Không hiểu sao, lúc tinh thần xuống cấp, tôi lại muốn mình là con gái. Tôi thì thầm, niệm Phật cầu mong kiếp sau được làm thân gái. Ý muốn là thế, nhưng không có nghĩa kiếp này mệnh đàn ông của tôi đã hỏng. Nó vẫn hoạt động tốt. Ban đêm, khi ba mẹ ngủ, tôi giả vờ học tiếng Anh. Bật vi tính suốt đêm, lên Internet tải mấy đĩa sex bạn bè tôi gửi qua email. Gì chứ những vụ sốt dẻo như diễn viên đóng phim sex, bạn bè tôi, những đứa online 24/24 giờ lúc nào chả cập nhật superhot (siêu nóng hổi)! Bạn tôi cá cược rằng, đến đàn bà con gái trong công sở còn xem những thứ ấy như một lũ khát nước nữa là đực rựa tụi mình. Thế nhưng, tôi cũng biết ý. Chờ ba mẹ đi ngủ, tôi mới lọ mọ lang thang trên xa lộ ảo mênh mông...
Cũng đến lúc, sex chỉ còn là một thú tiêu khiển nhàm chán. Nhàm chán đến mệt mỏi. Tôi không thích tò mò nhiều. Đôi khi còn buồn nôn, bởi những gì là vẻ đẹp, đã bị bản năng biến tấu xuống cấp như những loài thú vật. Những lúc ấy, chúng gây cho tôi sự phản cảm. Tôi bỗng cáu tiết với bản thân. Làm sao ta phải tò mò, phải nhìn thấy những hình ảnh này? Từ đó, tôi ít khi ham la cà đến những trang web kia đầy rẫy, nhan nhản trên net.
Khi ba mẹ tôi hỏi: Sao con không chịu làm việc? Tại sao con có thể bỏ một chỗ mà rất nhiều người đang thèm khát? Con không biết rằng, con đã bao nhiêu tuổi rồi sao? Tôi muốn hét lên rằng: “Tôi chẳng biết, tôi chẳng nói, tôi chẳng thấy...”. Trả lời làm sao cho những người thế hệ trước hiểu rằng: Đó chỉ là tạm ngưng để rồi tiến. Tôi nghĩ, sao ba mẹ tôi không sinh thêm một đứa con nữa? Nó sẽ thế chân tôi, chịu tất cả sự quan tâm, yêu cầu, ước nguyện của ba mẹ tôi. Nó sẽ nghe những bài học trước bữa cơm, những lời thất vọng, ta thán về những điểm chưa đạt tới. Nó sẽ thay thế tôi, phấn đấu trở thành một đứa trẻ hoàn hảo, có phẩm chất của những thần đồng, những đứa trẻ xinh ngoan, chăm chỉ. Thế cho nên, từ nhỏ, tôi đã khao khát mẹ sinh em bé...
Net bỗng trở thành một thiên đàng còn nhiều điều phải khai phá. Cái buồn, cái cô đơn không đáng có của một thằng con trai được net dẫn dụ, vãi tung tóe trên net những nhược điểm đó của tôi. Tôi tự hào, vì coi net vừa là nơi giải trí, vừa là bãi rác khổng lồ. Kiến thức thu nhặt được trên net, có chăng, chỉ là dăm ba thứ ngôn từ mang tính chất buôn dưa lê. Ở trên net, tôi có thể dùng đến vài ba cái nick name. Nick name traichuayeu để đi tán lằng nhằng mấy cô bé 8x- thậm chí 9x. Mấy em nhỏ mà giọng đanh đá, ngây chả ra ngây, thơ chả ra thơ. Hiếm có em nào hiền lành chân chất thực sự, toàn những em trổ tài am hiểu cuộc sống bằng cách hỏi xem tôi Anh đi học hay đi làm, lương tháng bao nhiêu, hôm nào đi uống cà phê nhé. À, mà anh đi xe gì, xe Wave à? Ừ thế thì thôi vậy. Em tưởng anh đi xe gì đèm đẹp một chút, thì hôm nào em mặc váy ngắn, anh chở em đi thong dong trên phố, anh lại thấy đời tươi như con đười ươi ngay. Anh đi Wave, mà lại là Wave Alpha, đương nhiên chưa có người yêu là phải rồi!
Choáng váng mặt mày, tôi chuồn thật nhanh kẻo mấy em nanh nọc lại dạy cho bài học đời trai thế kỷ 21 phải thế nào. Dùng nick name khongcanbiet, tôi nhảy vào một chủ đề có cái tên rất khêu gợi: DÀNH RIÊNG CHO NHỮNG NGƯỜI BẠN GHÉT. Ngay đầu chủ đề có những dòng viết: “Giận, hờn, buồn, thương, là những cảm xúc tự nhiên của con người. Có những điều bạn gặp, bạn bộc lộ cảm xúc. Đó là sự tất yếu. Quả thực là may mắn, hạnh phúc thay khi bạn được tự do cảm xúc. Thế nhưng, bất hạnh thay, vì điều kiện, vì hoàn cảnh, vì tình thế, mà chính bạn phải tự kiểm duyệt cảm xúc của chính mình. Bạn phải nín, bạn phải nhịn. Thay vì được nổ, được nhổ, thì bạn phải kìm, phải nuốt. Điều đó, vô cùng có hại cho bạn. Lâu ngày, cảm xúc của bạn sẽ bị chai lì. Nếu là phụ nữ, bạn sẽ bị biến thành một người đàn bà có bộ mặt của ma-nơ-canh (manequin). Nếu là đàn ông, bạn sẽ bị biến thành một người đàn ông có bộ mặt Fantomas, hoặc người đàn ông có bộ mặt cười, hoặc bạc nhược như những hoạn quan của thế kỷ 18. Còn chần chờ gì nữa, hãy vào đây, và xả cho hết những gì làm bạn bực bội, những người bạn ghét. Để rồi, bạn hãy mở lòng, hãy nhận thấy những người bạn ghét cũng đáng thương, không đáng để bạn phải giận dữ, ghét bỏ như vậy, để bạn lại có cách ứng xử thật tốt, bao dung với tất cả. Xin mời...”.
Rất nhiều người đã viết về những gì làm họ căm ghét. Người ghét cay ghét đắng đồng nghiệp, chê đồng nghiệp “chuyên gia nịnh hót”, buôn bán, nói xấu bạn bè. Người ghét tiếng còi ô tô, người ghét tiếng rao bán báo... Hoặc, một quý bà than phiền con chó bé tí tẹo nhà hàng xóm có tên là Natasa, suốt ngày cứ chạy theo cắn váy bà. Điều quan trọng hơn, mỗi lần chủ nó quát: “Natasa, con Natasa khốn nạn kia!” là tim bà đau nhói. Đồ mất dạy thật, hồi trẻ, nhiều người bảo bà giống cô gái Nga, giống Natasa trong phim. Chắc hẳn hàng xóm căm bà cái gì đó, cố tình đặt cái tên để chửi?
Ồ, vậy là tôi đã có nơi để xả xú-páp rồi. Tôi nhảy vào, thổ lộ tâm tình về sếp của tôi. Không nhiều lắm, chỉ dăm ba câu bất bình. Ngay ngày hôm sau, tôi đã nhận được khoảng chục câu trả lời đồng tình hoặc kể lể về sếp của họ. Chẳng giấu giếm che đậy gì, tôi không ưa sếp trước của tôi lắm. Từ dạo, tôi làm không đúng theo ý của ông ta, rằng đã là kế toán thì phải biết tự “cân đối, điều chỉnh” theo hướng có lợi cho công ty. Lợi. OK. Lợi. Ai mà chả thích, chả biết rằng bất cứ cái gì có lợi, có lộc, là phải làm. Tôi đã làm, đã theo, đã gian dối, đã lươn lẹo; tôi đã không là tôi từ lâu, từ khi làm cho dăm ba công ty, từ khi chuyển hết công ty này sang công ty khác. Tôi không là tôi.
Ông sếp chửi đổng: “Ngu như chó!”. Trời ạ. Ở công ty, tôi đã không nói, tôi nhịn, như nhịn cơm sống. Tôi mặt trơ trán bóng khi nghe sếp quát nạt, hầm hè. Mặt mũi tôi khi nghe đến từ ngu như chó, đường tĩnh mạch ở cổ bắt đầu căng lên. Tôi nhớ đến chữ Nhẫn mà tôi đã xin được từ một tay chơi chữ trẻ tuổi ở Văn Miếu: “Nhịn được cái tức một lúc, tránh được cái lo trăm ngày... Người chưa biết nhẫn, chưa phải người hay!”. Thế là bao nhiêu nỗi nghẹn ngào ứ ở cổ nay bị dồn lại, như đường sá Hà Nội tắc cục bộ vào mùa mưa bão. Tôi bỗng trở thành người câm trong lòng thành phố. Nó chỉ được vợi bớt đi mỗi khi tôi lang thang, ngoài quán cà phê, nhìn ra mặt hồ, một khoảng trống, hoang hoác như chính khoảng trống trong lòng tôi. Khi chiều tan sở, ánh sáng trong ngày dần tắt, tôi xách xe về nhà.
Trong tôi, hiện lên hình ảnh sếp của tôi. Mái tóc pha sương. Ngày sếp được một tờ báo lăng xê gương mặt giám đốc điển hình, lương công nhân khá, cơ sở vật chất khang trang, làm ăn tiến tới... Hình như giám đốc tránh không nhắc đến tình trạng một công ty trách nhiệm hữu hạn với số vốn còi cọc đang nợ lương công nhân đến một tháng rưỡi chưa trả. Duy nhất có tôi kịp đọc tờ báo đó. Ông giám đốc đã giấu biến nó đi. Tay K., chạy vật tư hậm hực, để tao ra ngoài mua, xong dán bố nó lên trên tường kia kìa. Để tất cả cùng đọc, xem sự thực nó là cái gì. Ngay hôm sau, lại có vô số báo đến đòi phỏng vấn sếp của tôi. Cô nhà báo của địa phương đã được sếp dẫn đi Vincom mua một cái áo sơ mi cỡ kha khá tiền.
Ấy nhưng, lại ấy nhưng, sức người có hạn. Bỗng một hôm tôi nhận ra rằng, việc quái gì mình phải chịu đựng như thế, việc quái gì mình phải nhịn. Tôi phải là tôi! Tôi bỏ làm. Quyết định một cách chóng vánh.
Sếp niềm nở. Đúng là dị thường trên cả bất thường. Tôi ngắm sếp. Nụ cười của sếp hiền khô. Tôi nhếch mép cười đáp lại. Không phải, tôi không muốn cười. Nhưng bất chợt, tôi lại nửa muốn nửa không, thành ra, nụ cười không chút hoàn hảo. Sếp bảo: “Cậu Hưng, càng làm việc, tôi càng quý cậu. Đúng là làm lâu, tôi mới nhận ra. Tôi rất quý tuổi trẻ, làm được việc...”. Tôi ớ người. Vậy, từ “ngu như chó” trong một lúc nóng giận của sếp, cái từ văng ra trong một tập thể người là dành cho một số người, hoặc dành riêng ai đó, không phải tôi chăng?
Về đến nhà, một lô những từ theo ngữ pháp, thường được dùng để đặt câu hỏi. Đó là “tại sao” mũ “n” lần. Đi kèm với chúng là “n” dấu chấm hỏi. Đầu tôi suýt nổ tung bởi vô số những quả bom mang hình dấu hỏi của ba mẹ tôi tung ra khủng bố đầu óc tôi.
Thử một ngày không tôi xem sao. Tất cả mọi việc đều bình thường. Thế gian này không vì thế mà mất đi một nhịp đập. Các guồng quay vẫn tiến đều. Người nào, công việc đó. Mọi chuyện, mọi người, mọi sự vật, đó là cuộc sống. Tôi cũng đang sống. Và tôi lại đi xin việc làm từ đầu. Và ba của tôi ngày nào cũng mở cửa nhìn tôi không còn hỏi tại sao.
Tối, tôi đi quanh các con phố. Ngõ nào nhỏ, tôi rẽ vào, đi luồn lách, tránh những dòng xe đi lại. Chật hẹp thật đấy, vậy ta thử đi, xem tài của ta đến đâu. Đi, đi thôi! Tôi gào lên trong ý chí. Đến quán nước, nơi một người bạn đang chờ ở đó. Hắn cười khẩy khi thấy tôi mang theo những cuốn sách dạy cách thành công trong cuộc đời. Hắn hất hàm: Quẳng đi, ông ngố ơi. Mày lật đôi bàn tay của mày ra. Đấy, nó. Cả cái này nữa. Hắn chỉ lên đầu. Chọc chọc vào đầu. Trí óc của mày. Và ghi nhớ điều này: Khôn quá cũng chết, ngu quá thì chết hẳn rồi. Thằng sống được là thằng biết lúc nào nên khôn, lúc nào nên giả ngu. Thôi, quên béng đi. Tôi nhìn hắn, nhìn vẻ lịch sự điềm đạm của hắn. Hắn nở nụ cười. Vỗ vai tôi. Chiếc cà vạt đung đưa. Làm sao biết mình sai, mình yếu, mình lầm ở chỗ nào. Mạnh dạn lên. Thế thôi cậu à.
Hắn quay ra nói chuyện đàn bà con gái. Chuyện làm ăn, chẳng cái gì liên quan đến cái gì, kể cả đàn bà. Tôi nghe rồi tôi kể cho hắn nghe chuyện tôi giấu kín trong lòng. Đó là mối tình cuồng dại, mối tình quá khứ của tôi. Nàng tên Mai. Xinh. Những ngón tay dài, đài các. Tóc nàng cũng dài, mi mắt dài. Tôi, vẫn là tôi. Tự do trong khuôn khổ. Cả nàng cũng vậy. Nàng muốn tôi trở thành một công chức, sáng sơ mi, cà vạt xanh đỏ, tay xách cặp. Chiều, loanh quanh, luẩn quẩn chờ đón con. Hạnh phúc là đấy, còn trông mong gì hơn. Thế rồi, khi tôi trở thành một người công chức mẫn cán, nhụt chí, nhụt danh dự, nhụt cả niềm tin thì nàng dần rời xa tôi. Vẫn cứ là tôi, chẳng biết tại sao em xa tôi cho dù tôi đã hỏi, đã nghìn lần tự hỏi.
Bạn tôi gật gù. Thôi, chuyện xảy ra, không giải quyết nổi thì tìm hướng khác. Không lẽ cứ vì thế mà mày không thương không nhớ một đứa con gái nào?
Chia tay thằng bạn, tôi đi thật chậm. Hít thật sâu hơi thở của thời gian. Cuối tháng 5, bằng lăng nở tím hai bên đường. Mùa hạ đã rực cháy, con tim tôi cũng vậy. Nó rực cháy trong sự mỏi mệt, trong những sự nghi ngờ, trong bước dừng để tiến. Tôi ngẫm nghĩ, thật kỹ. “Đi! Go! Allez!”. Cái ngôn từ thập cẩm ấy, chúng khuyến khích tôi. Vận mệnh nằm trong bàn tay bạn. Tôi nắm chặt tay.
Đường khuya. Ngõ vắng. Ba tôi ra mở cửa. Không nói năng gì.
Qua rồi, một ngày không tôi.
cafe_alone
10-03-2006, 01:05 PM
Hè năm ngoái, từ Sài Gòn về, tôi ngạc nhiên: ra mở cửa không phải mẹ tôi mà là một thiếu phụ có cặp mắt to đen láy. Chị nhanh nhẹn đỡ lấy cái túi tôi đang mang:
- Út Hiệp đây phải không, chao, lớn ghê!
Tôi hơi phật lòng vì cái lối chào hỏi dành cho trẻ con. Đã hai mươi mốt tuổi, sắp tốt nghiệp Đại học Sư phạm, tôi đâu có phải là con nít. Đến bữa cơm, mẹ tôi bảo:
- Má vừa có con gái, từ rày, con phải gọi nó là chị Hai.
Khi chỉ có hai mẹ con với nhau, mẹ tôi mới thủ thỉ kể: Chị Trúc là người ở Lăng Cô, vợ chồng bỏ nhau, nhà cửa thân thích không có. "Tội nghiệp, má đào phận bạc vậy đó con. Cho nó ở đây sớm hôm với mẹ cho vui khi con vắng nhà".
Có chị Trúc mẹ tôi đỡ vất vả. Mẹ tôi bày ra nuôi gà vịt, làm ruốc biển... Toàn là việc mệt nhọc mà các chị tôi đều đã lấy chồng, chẳng ai san sẻ được.
Suốt ngày tôi càu nhàu: "Thằng Tí con chị Hai nó quậy phá, ồn ào con chịu hết nổi". Mẹ tôi an ủi:
- Kệ, chịu khó đi con, rồi má biểu con Hai không được thả cu Tí vô chơi trong buồng con là yên.
Chị Trúc biết nỗi khó chịu của tôi nên cố gắng vừa cặp con vừa làm việc nhà. Quần áo tôi thay ra, vứt giữa giường, chị vuốt lại phẳng phiu rồi treo lên móc. Vẻ nhẫn nhịn của chị làm tôi áy náy cảm thấy mình giống như một tên... bạo chúa. Một hôm, thấy chị tay ôm con, tay giã ruốc, tôi ngượng ngùng cười cười dỗ đứa bé:
- Ơ... Để cậu bồng chơi, cho mẹ đỡ mỏi, nghe cu Tí.
Thằng bé bạo dạn, nó ngả vào tay tôi ngay. Chị Trúc ngước lên nhìn tôi, cái nhìn biết ơn từ đôi mắt đen láy. Tôi ôm đứa bé mà không hiểu sao không thể nào đứng dậy nổi! Nhưng thằng bé lại nhào qua lòng mẹ, quờ tay với vào đôi bầu ngực phập phồng dưới chiếc áo cánh lụa. Vội vàng, tôi phải bế nó đi...
Từ đó thỉnh thoảng chị Trúc lại nhờ tôi bế cu Tí. Mỗi lần tôi tung hứng thằng bé, khiến nó cười vang khoe hàm răng sữa ngây ngô, chị lại ngước lên nhìn tôi biết ơn. Cái nhìn xoáy buốt làm tôi nhận ra chị thật đẹp, khuôn mặt trái xoan, nước da rời rợi trắng. Không hiểu sao người như thế mà chồng chị lại nỡ lòng chê bỏ?
Những lúc rảnh rỗi, chị ôm con ngồi trên bậc cửa, mắt nhìn mông lung về phía xa. Chắc chị đang nhớ đến căn nhà hạnh phúc ngày xưa của mình. Có hôm chị tâm sự:
- Hiệp biết không, chị học tới lớp đệ nhị thì mẹ mất. Không còn ai nữa, đành lấy chồng sớm để nương tựa. Tưởng yên thân, ai dè ông chồng phi công của chị đã có vợ trước rồi! Vậy là bồng con đi liều vào trong này mong nhờ bà con, nhưng bà con cũng hắt hủi. Nhiều lần chị đã nghĩ tới chuyện chết...
Chị không khóc mà mắt tôi đỏ. Tôi an ủi:
- Đừng buồn chị Hai. Hổng cần chồng, hổng cần bà con. Chị cứ ở đây với mẹ con Hiệp, cũng vui chán.
Câu nói ngớ ngẩn làm chị bật cười. Nụ cười với cái răng khểnh mới thơ dại, tươi tắn làm sao. Năm ấy chị hai mươi bảy tuổi, lẽ ra là những năm đẹp nhất đời người.
Một buổi chiều, tôi vác đàn ra sân hát nghêu ngao:
Cây trúc xinh... (tang tình là) cây trúc mọc
(Qua lối nọ í như) sân đình
Chị Hai xinh... (tang tình là) chị Hai đứng, đứng một mình (qua lối í như) cũng xinh.
Chị Trúc đang giặt áo quần, liếc nhìn tôi rồi nguýt một cái sắc như nước. Từ đó chị đâm cảnh giác với thằng em. Làm gì chị cũng lầm lì, tìm cớ tránh xa tôi.
Tôi thì như thằng khùng, cứ đeo theo chị như bóng với hình. Gặp lúc vắng, tôi kéo tay chị, chị rãy ra dẩy nẫy như đỉa phải vôi:
- Này, cậu tưởng chị Hai là mẹ mìn, thích bắt cóc trẻ con hay sao. Đi mà tán các cô hàng xóm ấy!
- Chị ơi, nhưng Hiệp hổng nằm mơ thấy mấy cô ấy. Hiệp cứ nằm mơ thấy chị Hai thôi. Chị Hai không thương Hiệp, hết hè Hiệp không thèm đi học nữa.
- Chưa thấy ai lì như cậu. Buông ra cho chị đi, không má thấy thì chết.
Chị giật áo ra, không thèm ngó cái mặt si dại của tôi. Tôi phát giận, không thèm ăn cơm mấy bữa liền.
Mẹ tôi sợ quýnh, mua thuốc giải cảm, mua dầu cù là Mac Phsu, mua chuối tiêu hột gà. Rồi mẹ lại còn sang ông lang cắt mấy thang thuốc bổ. Tôi phát ngượng, đành phải ra ăn cơm. Đến tối, mỏi lưng quá, mẹ tôi ôm cu Tí nằm ngủ, giao siêu thuốc cho chị Trúc.
Đêm khuya, nằm trong phòng, tôi ngửi thấy mùi thuốc bắc lan tỏa khắp nhà. Mùi vị đắng đắng, ngọt ngọt vừa nôn nao vừa dễ chịu. Tiếng than dưới đáy siêu reo lách tách... Rồi mùi thuốc dịu xuống, lửa tàn, tiếng than im bặt. Mặt lát khá lâu sau, tôi mới nghe tiếng chị Trúc khẽ khàng:
- Hiệp ơi, ra uống thuốc.
Tôi lặng im không ư hử. Chị Trúc lại gọi, tiếng chị hơi run run. Mãi không thấy tôi ra, chị đành bưng bát thuốc vào. Chỉ chờ có thế, tôi vùng lên ôm đại lấy chị. Chị hốt hoảng, thuốc đổ tung toé xuống giường:
- Hiệp, buông ra không chị la lên cho má đánh chết.
Tôi cứ giữ rịt lấy chị. "Đố chị có gan la lên. Má đánh chết Hiệp không lẽ chị không thương tí nào sao?". "Đồ quỷ, không thấy ai liều như cậu". Hai tay chị ra sức vả vào mặt tôi nhưng chẳng ăn thua. Rồi hai tay và cả thân mình chị đã bị tôi giữ chặt. Tôi vùi đầu vào vai chị, hít mãi mùi cơ thể chị nồng mặn và ngọt ngào, mắt tôi nhắm lại, mê man... Bất chợt tôi mở choàng mắt, vai nhói đau, rụng rời. Chị đang ngóc đầu lên, lấy hết sức lực cắn thật mạnh. Hàm răng chị dứt da dứt thịt tôi. Tôi bặm môi chịu đau chứ không chịu buông. "Chị cứ cắn đi, rồi ít bữa chị nhớ đưa Hiệp đi chủng ngừa". Chị Trúc không trả lời, răng vẫn nghiến chặt. Đau hết chịu nổi, tôi đành buông chị ra. Vai tôi ứa máu. Chị Trúc vùng dậy, hốt hoảng vừa xoa vết thương cho tôi, vừa mếu máo:
- Trời đất, có sao không, Hiệp ơi!
Lúc ấy, toàn bộ sinh lực trong người tôi đang dồn ứ bỗng tiêu tan. Tôi rã rời như một cái thây ma, chỉ còn sức gạt mạnh tay chị: "Thôi đi đi! Mặc xác tôi!".
Đến mai, vai tôi sưng vù, nhức nhối. Lần này tôi sốt thật sự nhưng vẫn phải ra ăn cơm uống nước kẻo sợ mẹ tôi hỏi han. Khốn khổ, trời Nha Trang tháng sáu nóng như thiêu như đốt nhưng trưa nào tôi cũng mặc áo sơ mi nghiêm chỉnh để che cái dấu răng thật đáng ngờ.
Mười ngày sau, vết thương lành, để lại một vết lũm sâu tròn. Dấu chiếc răng nanh mọc khểnh của chị. Da thịt lành nhưng tâm hồn tôi nặng trĩu. Điều làm tôi lo lắng nhất là dường như sinh lực của tôi đã ra đi hẳn, không bao giờ trở lại nữa, thân xác tôi hoàn toàn nguội lạnh.
Chị thì ngược lại. Hình như có điều gì đấy đã vùi chôn giữa thất vọng, muộn phiền và những công việc buồn tẻ thường ngày, nay chợt thức dậy, nhuộm trên toàn thân chị một vẻ gì khó tả. Dường như vóc dáng chị mượt mà hơn, mắt nhìn da diết hơn...
Rồi một hôm rằm, mẹ tôi đi chùa, dẫn cả cu Tí đi theo. "Nó đã lên ba rồi, cho nó quy y để phật phù hộ cho nó". Còn lại có hai người, chị Trúc có vẻ sờ sợ, ra ngoài sân xắt chuối cho vịt ăn, không dám vào nhà. Thật ra lúc ấy tôi buồn rười rượi như cơm nguội, đâu có gì đáng cho chị sợ. Chợt giữa đàn vịt con đang ăn lúp súp, một chú vịt nhỏ bỗng quay đơ ra đất, giãy đành đạch. "Chắc là nó bị dịch, đang giãy chết" nghĩ vậy tôi phóng ra, chị Trúc cũng chồm tới, cùng đưa tay nắm lấy con vịt. Kỳ lạ thiệt, chú nhóc chỉ lảo đảo vì... nghẹn có một lúc rồi lại tươi tỉnh, còn tay chúng tôi lúc nãy cầm con vịt thì bây giờ lại cầm lấy tay nhau... Như sực tỉnh, chị Trúc rụt lại, nhưng tôi đã giữ lấy bàn tay chị:
- Chị đừng sợ, Hiệp chẳng làm gì chị nữa đâu.
Tôi cũng muốn thổ lộ nỗi lo lắng của tôi cho chị nghe nhưng xấu hổ không sao nói được. Chẳng hiểu từ lúc nào, hai chúng tôi đã ở trong tay nhau. Chị vừa phục tùng, vừa dẫn dắt tôi. Cơ thể tôi dần dần hồi sinh trở lại... Đó là lần đầu tiên trong đời tôi biết đến thân thể một người đàn bà. Trưa hôm ấy trời nắng, ngoài cửa sổ phòng tôi có lùm cây nhỡn xanh ngắt rung rinh, tiếng ve râm ran thật gần, có lúc lũ ve vùng kêu to làm Trúc giật mình, tôi phải ghì thật chặt để chị khỏi rời tôi...
Những ngày sau đó tôi tươi như cây khô gặp mưa. Chiều chiều, tôi lại vác đàn ra ngõ hát vang:
Cây trúc xinh, (tang tình là) cây trúc mọc
(Qua lối nọ í như) sân chùa
Chị Hai không yêu, (tang tình là) tôi đây cũng bỏ đạo bùa (Qua lối nhỏ í như) cùng yêu...
"Mày hát cái gì đấy, hở út?" Tôi giật mình quay lại. Chị Ba Thìn, chị ruột tôi sang chơi từ sáng, đang đứng tỉa rau dền trong sân mà tôi đâu có hay. Tôi ấp úng:
- À... Em hát... hát dân ca.
Chị Ba trừng mắt lên:
- Dân ca à? Dân ca cái con khỉ!
"Thiệt là bà chằn, người ta hát mắc mớ chi tới mình?" Tôi lầm bầm. Chị Thìn về, tôi chẳng nhớ, cũng chẳng thắc mắc gì thêm. Lúc đó tôi có để ý gì đâu, tôi chỉ thấy trời đất thật đẹp, tiếng ve thật du dương, tôi ước sao mùa hè dài vô tận. Trúc cũng vậy, chị đẹp ra trông thấy, má đỏ và mắt cứ ướt long lanh. Chị không ngồi bậc cửa và trông xa vời về phía quê nhà nữa...
Một hôm, cây hoa râm nở thơm ngát, tôi hái một chùm, chạy xuống bếp đưa lên mũi Trúc. Chị đang rửa bát, né người qua bên, nhìn quanh rồi thầm thì:
- Khi nào cô Ba đến, thì Hiệp phải ý tứ nghe.
- Mình việc gì phải sợ. Khi chị Ba lấy anh Hải, cả nhà phản đối, riêng Hiệp còn ủng hộ nữa.
- Hai chuyện khác nhau lắm, Hiệp nói dở òm.
- Khác gì mà khác. Rồi đây mình cũng cưới nhau thôi, để chị Ba khỏi thắc mắc lộn xộn.
Trúc giật mình, tôi phải chộp lấy cái chén trên tay chị để cho khỏi rơi. "Không được đâu Hiệp ơi!" Trúc vừa nói vừa rưng rưng rưng nước mắt. "Được! Nhất định được!". Tôi vừa ôm chị vừa nói như rìu chém xuống đá. Nước mắt chị tuôn chảy trên vai tôi, nước mắt hối tiếc, nghẹn ngào. Lát sau, chị kéo áo lau mắt trấn tĩnh lại:
- Nói bà xàm. Ai thèm lấy đồ con nít.
Tôi tức mình: "Con nít được à? Từ nay phải gọi Hiệp bằng anh".
- Gọi không được, khó gọi vậy lắm Hiệp ơi - Chị thật thà bảo tôi.
- Ít nữa thì phải gọi nhau bằng tên, không được xưng chị với Hiệp nữa.
Tôi bắt chị thay đổi cách xưng hô cho được. Cuối cùng rồi chị cũng ngoan ngoãn nghe lời tôi. "Nhưng Hiệp phải giữ gìn làm sao cho má và cô Ba đừng ghét Trúc đó nghe". Nước mắt đã ráo, Trúc cười, mặt ánh lên niềm vui thơ dại. Có lẽ Trúc đã dần dần tin rằng chúng tôi sẽ ở bên nhau mãi mãi.
Hôm sau tôi nói với mẹ: "Má ơi, con muốn lấy vợ". Mẹ tôi vừa cơm nước xong, thủng thỉnh vừa xỉa răng vừa nói vần:
Nực cười cái chuyện ó đâm
Trai tơ đòi vợ khóc rầm cả đêm
Dỗ hoài mẹ phải mắng thêm
Vợ đâu mà cưới nửa đêm cho mày!
Chị Ba tôi phá ra cười nghiêng ngả. Trúc ở dưới bếp thất kinh, đưa tay ra dấu cho tôi đừng nói nữa. Tiếng cười của chị Ba làm tôi tự ái. Tôi quyết định không cần nói thêm gì hết. Hè đã sắp qua, tôi sẽ vào trường, học thật giỏi, sẽ có nghề, sẽ tự lập, sẽ lấy vợ, và gia đình phải nghe tôi...
Vào Sài Gòn, tôi cắm đầu cắm cổ học. Nhưng mới vừa được một tháng, nhớ Trúc quá, tôi vội vã về thăm nhà.
Ra mở cửa chỉ có mình mẹ tôi, dáng gầy mệt mỏi vì một mình lam lũ với bao công việc. Trên dây phơi, những cái áo cánh, những cái quần nhỏ xinh xinh của cu Tí không còn nữa.
- Má ơi sao không thấy... - Tôi run run không hỏi được hết câu, vì mẹ tôi đã nghiêm ngay nét mặt:
- Lại còn hỏi à, tao đuổi nó đi rồi! Mày tưởng qua mặt được tao sao?
- Trời ơi, đi đâu? - Tôi sững sờ.
- Đi đâu mặc xác! Tao đã thương mà chứa chấp, không biết ơn lại quyến rũ con tao, thì tao bỏ hẳn, cho nó chết cho biết thân!
Tôi thả cái xách rơi xuống đất. Muốn khóc mà không dám khóc! Mẹ tôi hiền hậu là vậy, mà bây giờ mặt đanh lại, mắt long lên, như dáng vẻ con gà mái bảo vệ bầy con trước nanh vuốt lũ diều. Mẹ ơi! Mẹ làm sao hiểu, có bao giờ Trúc quyến rũ con đâu?
Tết năm ấy, tôi nói dối là ở lại Sài Gòn học thi, đi ra tận Lăng Cô xa xôi, tìm xem Trúc có ở quê hay không? Chuyến tìm kiếm vô vọng, tôi về Sài Gòn, người gầy rộc đi như que củi. Đến hè, tôi lại một lần nữa ra Lăng Cô, theo lời chỉ dẫn của người làng tìm đến Huế, gặp người chồng cũ của Trúc. Ông này đang sống yên ổn với vợ con, không biết mà cũng không muốn nhắc đến số phận của con người từng là nạn nhân của mình. Ông ta nhìn tôi như thể nhìn một thằng nhóc bị bệnh tâm thần, đã cất công lặn lội chỉ vì một chuyện vớ vẩn. Tôi nghẹn ngào ra đi, đầu óc hoang mang không sao hiểu nổi: tôi còn chưa vợ, Trúc không có chồng, vậy mà sao chúng tôi không được sống với nhau?
Trúc đi hẳn. Không âm vang, không tin tức. Nhưng mấy mươi năm qua rồi, trên vai tôi vẫn còn một vết sẹo, dấu của chiếc răng khểnh. Bây giờ nhớ lại, tôi biết mình đã may mắn hơn nhiều bạn trai cùng lứa tuổi. Bài học vỡ lòng về điều bí ẩn của tồn sinh, tôi đã không phải học với những cô gái làng chơi gian dối, mà trong vòng tay ấm áp của một người đàn bà dịu dàng, chân thật và thương yêu tôi.
Chẳng biết bây giờ Trúc ở đâu, còn sống hay đã chết. Cứ mỗi lần sờ tay trúng vết sẹo trên vai, tôi lại nhớ mùa hè ngây dại của tuổi hai mươi, có lùm cây che khuất cửa sổ, có tiếng ve râm ram giữa trưa hè. Bất giác tôi nhắm mắt lại gọi thầm: "Chị Hai ơi!".
cafe_alone
10-03-2006, 01:07 PM
Ngày ấy hắn là một thanh niên hiền lành, ít nói. Mồ côi cha mẹ từ bé, hắn được người chị duy nhất nuôi nấng, chăm sóc đến năm hắn mười sáu tuổi thì chị theo chồng về làng bên. Hắn chăm chỉ làm lụng, lễ phép với mọi người và bà con láng giềng ai cũng thương mến hắn vì tính thật thà, chịu khó. Mặc dù ít tuổi, hắn một mình đảm đương cả cơ ngơi ông bà để lại và trồng tỉa quanh năm ruộng vườn của gia đình. Mọi người đều khen hắn là một thanh niên có nề nếp và cho rằng giòng họ nhà ấy tốt phúc.
Bỗng dưng một hôm năm hắn ngoài hai mươi tuổi, làng có cơn cháy lớn. Đó là một đêm kinh hoàng của mọi gia đình. và mỗi khi nhắc lại, ai ai cũng không khỏi rợn người khi nhớ đến cảnh tàn khốc của cơn hỏa hoạn.
Đêm hôm ấy làng có buổi hát chèo, mọi người xúm xít quanh đình làng từ xế chiều, không nhà nào không có người đi xem. Gánh hát chèo nổi tiếng từ thành phố về, ai nấy háo hức đi xem tuồng mới và những đào hát đẹp nổi tiếng. Đang giữa buổi diễn, bỗng có kẻ phá hoại châm lửa đốt những tấm bình phong và những bức màn rủ hai bên sân khấu. Mọi người hoảng hốt tranh nhau tháo chạy ra khỏi đình làng. Nhưng vì chỉ có ba lối ra vào, một cửa lớn và hai cửa ngạch nhỏ mà đình làng nghẹt kín hàng nghìn người, mọi người càng cố giẫm đạp, xô đẩy nhau trong làn khói dày đặc, sặc sụa, lối ra vào càng ứ nghẽn. Ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt, nhanh chóng phủ dày cả đình làng. Những trụ gỗ phết dầu, những vải vóc, phông màn… càng giúp thêm ngọn lửa hừng hực. Những người bên ngoài cố dập nhưng vô hiệu. Bao nhiêu bàn, ghế, vật dụng và những vật trưng bày bằng gỗ lâu năm trong đình làng trở thành mồi lửa đắc lực cho đám cháy. Tiếng kêu gào, khóc lóc, những người thoát ra được cuống cuồng đi tìm thân nhân và trong cảnh hỗn độn, kinh hoàng ấy, việc giải cứu cho những người còn sót lại càng thêm khó khăn.
Đến nhiều giờ đồng hồ sau, có lẽ đến tảng sáng, khi ngọn lửa thấp dần, người ta mới bắt đầu điểm lại những người thất lạc trong đám cháy. Có đến cả trăm người mất mạng đêm hôm ấy. Sáng hôm sau, khi ngọn lửa đã tắt hẳn, mọi người xúm quanh mang ra những xác người cháy đen, rúm ró. Cả làng chìm trong cảnh đau thương, tang tóc. Không ai còn tâm trí để lưu ý đến những việc xung quanh và hắn một mình khóc rưng rức sau bụi tre bên bờ sông.
*
Từ ngày ấy, hắn đâm ra lầm lì, ít nói, thỉnh thoảng trả lời nhát gừng hoặc hoàn toàn không ăn nhập gì đến câu hỏi những người khác đặt ra. Những người láng giềng quen biết ái ngại, có người cho rằng hắn đã phải lòng cô gái nào đó trong số những người bỏ mạng trong vụ hỏa hoạn năm ấy. Tuy nhiên, hắn vẫn đi lại, sinh hoạt bình thường như trước kia. Cho đến một hôm, sau buổi họp chợ, hắn uể oải ra về, thơ thẩn men theo hàng cây trong chiều nắng xế. Đột nhiên hắn dừng phắt lại, trân trối nhìn một phụ nữ dáng còn khá trẻ đang cúi xuống cạnh hai đứa bé nghỉ chân bên vệ đường. Mắt hắn sáng lên, môi run run mấp máy rồi bất thần chạy ào đến níu chặt áo người phụ nữ.
“Mẹ, mẹ…, mẹ đã về!”
Người phụ nữ hoảng hốt lùi lại, cuống quýt giằng ra khỏi tay hắn. Hắn cuống lên, càng bấu chặt tợn rồi kêu khóc thảm thiết.
“Mẹ ơi, mẹ đừng đi, đừng bỏ con”.
Mọi người nghe tiếng huyên náo bu quanh xem. Hắn phục xuống chân chị, một tay bấu chặt vạt áo, tay kia níu lấy đùi chị khóc thảm thiết. Người phụ nữ tái mặt lắp bắp.
“Cái anh này… buông người ta ra…”
Lũ trẻ vỗ tay chỉ trỏ cười, người lớn bối rối lắc đầu ái ngại, chẳng ai biết phải làm thế nào để can ngăn hắn. May sao có một cụ già quen biết gia đình hắn đi qua, cụ vội tiến lại rồi bảo chị.
“Chị thông cảm, cậu ấy mất cả bố lẫn mẹ trong nạn lũ từ bé, bác gái lúc mất trạc tuổi chị mà dáng cũng hao hao giống chị, cậu ấy trông nhầm đấy!”
Rồi cụ đỡ hắn dậy, ôn tồn bảo.
“Từ từ đã nào, chị ấy không đi đâu vội mà lo, cháu bình tĩnh nào!”
Hắn còn dụi mắt thút thít khóc nhưng trông có vẻ đã dịu xuống. Họ còn đứng đó, ngần ngừ chẳng biết phải làm gì, ngại hắn lại lên cơn gào khóc. Mãi sau, hắn bẽn lẽn cúi đầu, có lẽ hắn đã nhận ra người phụ nữ ấy không phải là mẹ hắn. Nhưng không ai biết được hắn nghĩ gì khi chốc chốc hắn lại đưa mắt nhìn chị thật trìu mến. Đến lúc mọi người tản đi và người phụ nữ ấy đưa con về nhà ở tận đầu làng, hắn vẫn còn lẽo đẽo đi theo. Hóa ra chị là cháu duy nhất của cụ Hòa, vừa goá chồng ở làng xa dời về ở với cụ để đỡ đần sớm hôm. Từ hôm ấy, thỉnh thoảng người ta thấy hắn nằm ngủ khoèo trên vạt cỏ trước ngõ nhà chị và từ đó, người ta gọi hắn là “thằng điên”.
*
Người điên như hắn quả là hiếm có trên đời. Hắn hiền lành, ít nói, chẳng làm hại ai bao giờ và là nguồn tiêu khiển không dứt cho mọi người. Đã có người nói đùa ước sao được điên như hắn để mặc sức phát biểu những điều cấm kỵ, kiêng dè, hay ngang nhiên làm những điều trái khoáy mà không hề biết sợ hậu quả. Riêng đám cường hào ác bá và lũ bất lương căm hắn khôn xiết vì đã bị hắn làm mất mặt nhiều lần. Những điều ngông cuồng hắn làm thường là đề tài bàn tán và được truyền kể mãi khiến những kẻ này khó chịu vô cùng.
Chẳng hạn có lần, giữa trưa đứng bóng, mụ Tốn, vợ góa của lão Năm Tốn, phú hộ giàu nhất làng, chuyên cho vay cắt cổ, đang hăm hở về nhà sau khi đi một vòng quanh làng thu nợ. Từ ngày lão mất, mụ càng cho vay cắt cổ gấp bội và còn giàu hơn cả trước kia. Mụ đang mãi nghĩ đến những con nợ đã gặp hôm ấy, có lúc mụ nhíu mày bực dọc khi nhớ đến mấy con nợ bần cùng, khất mãi chẳng trả được mà của cải toàn thứ ọp ẹp chả có thứ gì đáng để tước đoạt, có lúc mụ tươi mặt đắc ý khi nhớ đến mấy món bở mụ đoạt được từ mấy nhà khá giả trước đây nay lâm cảnh túng bấn. Đột nhiên hắn nhảy xổ ra từ sau bụi tre, thét toáng lên.
“Bà phù thủy!”.
Mụ giật thót mình, suýt thét lên và chưa kịp hoàn hồn thì hắn đã huyên thuyên.
“Bà phù thủy, xin bà làm ơn chỉ giúp tôi bà đã dùng ma thuật nào để dụ dỗ tiền của thiên hạ về nhà nhiều thế?”
Mụ vừa giận vừa thẹn tím mặt nhưng chẳng tìm được lời nào để trả đũa hắn. Vả lại, tranh cãi với thằng điên thì chỉ tổ tốn hơi. Mụ rít lên qua kẽ răng.
“Đồ điên!”
Rồi mụ vội vã đi thẳng. Hắn còn gọi với theo.
“Tôi van bà, nếu bà chỉ giúp, tôi xin chia cho bà phần hơn…”
Những người ở quanh đấy và những người vô tình đi qua trông thấy ôm bụng cười rũ. Hắn ngang nhiên đi theo sau mụ một đoạn, vừa hoa tay múa chân, vừa làm điệu bộ hoạnh hoẹ hệt như mụ lúc bắt nạt con nợ. Từ ngày ấy, mọi người gọi mụ là “bà phù thuỷ” và dù căm tức thấu xương, mụ chả biết làm cách nào để trị hắn.
Mặc dù lầm lì, ít trò chuyện với những người xung quanh nhưng chẳng hiểu sao hắn biết được nhiều điều xảy ra trong làng, và thường là người khuấy động, gây chú ý đến những chuyện chướng tai gai mắt. Chẳng hạn như việc cô Lệ, con gái út của ông bà giáo, từ ngày bố mẹ mất, cô bị gia đình ép gả cho ông Huyện để được ấm thân. Cô còn trẻ, xinh đẹp, giỏi giang nay phải chịu luồn cúi nhà chồng và bị các bà vợ lớn chèn ép, đay nghiến thật khổ sở. Một hôm, hắn vô tình trông thấy cô ngoài chợ, thế là hắn chạy theo cô, rồi bảo.
“Này cô, cô làm ơn đổi đời cho tôi nhé! Cho tôi làm vợ ông Huyện một bữa, tôi sẽ dần cho lão già nhà cô một mẻ, còn cô thì mặc sức bay nhảy, thích nhé!”
Cô Lệ mặt đỏ bừng, cắm cúi đi. Các bà các cô chụm đầu xì xào.
“Có lẽ hắn vờ điên để mắng khéo thiên hạ”.
Nhưng quả là hắn điên thật. Có hôm trời nắng đổ lửa, mọi người rên xiết dưới cái nóng thiêu đốt, ai nấy cố làm cho xong sớm việc đồng áng để tránh cái nắng trưa gay gắt. Thế mà hắn cứ ngồi lì hàng giờ bên bờ lạch, chốc chốc lại cắt tóc thả xuống nước. Những người đi qua ái ngại, khuyên hắn hãy dừng tay đi tránh cái nắng trưa. Hắn lắc đầu quầy quậy.
“Không được, tôi phải ở lại đã. Làng mình nghèo quá, ngay cả cá cũng trọc đầu. Để tôi cho chúng ít tóc đỡ nắng”.
Và những cái điên của hắn thường gây cho hắn không ít tai họa. Vào năm ông Bá bảy mươi tuổi, gia đình ông làm lễ thất tuần rình rang để khoe của và mở rộng giao tiếp với đám quan lại. Mọi người ăn vận sang trọng và mang quà tặng đến chúc tụng râm ran. Hắn ngồi ngoài đầu đình hát vu vơ rồi chửi đổng một mình.
“Ôi dào, chúc thọ với chả chúc yểu! Người ăn gan uống máu trẻ con không cầu cho chết sớm thì chớ, còn bày vẽ chúc tụng. Tớ thì cái hạng ấy mang phân tới mừng”.
Mấy hôm sau người ta mới thấy lại hắn. Mặt mũi hắn thâm tím, một cánh tay bị đánh bong gân treo cứng đờ bên thân, mắt hắn sưng húp trông thật đáng thương. Có ai hỏi, hắn bảo mới đánh nhau với tùy tùng của Ma Vương, Ma Vương mang lốt ông Bá.
Lần khác, nhân ngày nộp thuế, trong lúc cả làng đang lo sốt vó, có nhà đang lạy lục xin khất thuế, hắn ở đâu xông vào giữa đình làng lớn tiếng với ông Nghị.
“Này, ông bảo ông là cha mẹ dân, sao ông thu thuế cắt cổ thế? Ông có lắm vợ, bắt bà con nộp sưu cao để nuôi vợ con, sao ông không bớt đi vài bà cho mọi người nhờ?”.
Ông Nghị giận tím mặt. Mọi người run sợ, lo cho hắn mang họa vào thân. Ông Nghị quát lính trói hắn lại, nện cho hắn một trận tơi bời. Người hắn máu me, răng cửa gãy nhưng hắn vẫn không cúi đầu xin tội. Bà con thương hại hắn ốm đòn nhưng ai cũng thầm hả hê vì thấy ông Nghị bị một vố bẽ mặt.
*
Nhưng hầu hết những cái điên của hắn làm trò cười cho thiên hạ. Đặc biệt là lũ trẻ con và đám choai choai thường đi theo hắn xem những trò ngớ ngẩn hắn làm mỗi khi hắn có chuyện vui buồn bất chợt. Có lần đang buổi gặt hái, mọi người dừng tay khi nghe lũ trẻ hét hò cười ầm ĩ cả một góc xóm. Không ai bảo ai nhưng mọi người đều biết hắn lại bày ra trò gì lố bịch. Mấy thanh niên gần đấy vội chạy đến xem. Thì ra hắn cởi quần đội lên đầu phủ cả mắt đang nhảy nhót giữa lũ trẻ. Đám lực điền lôi hắn vào bụi tre, đè hắn rồi lấy quần xuống mặc vào cho hắn. Một anh lớn tuổi nghiêm mặt trách hắn.
“Cậu làm trò gì thế? Lũ trẻ con và bao nhiêu thiếu nữ ở đây, cậu cũng phải biết điều chứ!”
Hắn bảo.
“Ôi dào, tớ thấy nhiều điều thối quá, thà đội quần thối lên đầu, ngửi mùi của mình còn hay hơn!”
Cả đám lăn ra cười nhưng mấy người lớn tuổi còn răn đe hắn, dặn hắn không được làm như vậy nữa. Một lúc sau, hắn im lặng rồi đột nhiên ôm mặt khóc. Hắn khóc tức tưởi, thống thiết như cha chết mẹ chết rồi nằm ngủ khoèo dưới gốc tre. Thương hại hắn, mọi người kéo nhau đi nhưng để lại cho hắn mấy củ khoai luộc......
cafe_alone
10-03-2006, 01:08 PM
Mặc dù điên, mọi người vẫn nhìn nhận rằng có lúc hắn cũng tỉnh táo, sinh hoạt như người bình thường và lắm lúc những điều hắn nói ngỡ như là trái khoáy nhưng hóa ra cũng có lý. Tuy nhiên, không ai dám nhìn nhận điều này vì chúng có vẻ bạc bẽo, phũ phàng và chỉ có điên mới dám phát biểu như thế. Lắm lúc, những điều hắn nói trái hẳn với đạo lý, lễ giáo nhưng chúng làm không ít người phải ngạc nhiên và suy gẫm về những điều ấy.
Chẳng hạn, có lần hắn đi xem đám ma lão Đồng nhà họ Lương. Gia đình ấy giàu có nhiều đời, họ hàng có người làm quan và mặc dù không mấy ai ưa gia đình ấy, những người trong làng cũng thay nhau đi điếu cho có lễ. Lão Đồng lúc mất đã gần chín mươi, bị ho lao cả gần chục năm và là một gánh nặng cho cả gia đình. Từ ngày ngã bệnh, lão trở nên cáu bẳn, có lúc hung dữ với cả con cháu và mọi người quanh lão đều muốn lánh xa. Tuy nhiên, vì đạo lý và với tiền của dư dật, con cháu lão thuê người chăm sóc, thuốc thang cho lão đầy đủ nên lão mới hưởng được ngần ấy tuổi thọ.
Ngày đưa ma lão, nhà họ Lương làm đám rình rang xứng với phong cách nhà quan. Nào kèn, nào trống, nào tụng kinh gõ mõ lẫn hát đưa ma. Có cả một đoàn những người khóc thuê mặc sức tru tréo kể lể đến là xôm tụ. Hắn đến xem ra chiều thích thú rồi đột nhiên bật cười.
“Này, sao lại khóc”, hắn bảo một người khóc thuê “ở đây chả có ai buồn cả, mọi người đều tươi như hoa, chả tin cứ nhìn mặt lão Phán (con lão Đồng). Bố hắn chết mà trông như mới đi cưới vợ lẽ, cứ kèn trống ca xướng oang oang. Trút được gánh nợ, ai chả mừng!”
Rồi hắn cười cười bảo.
“Bà đi khóc thuê lần này chắc kiếm được khá đấy nhỉ, cũng mừng cho bà. Cố mà khóc cho đáng tiền nhé, để chiều còn được cho ăn cỗ nữa. Quả là một ngày vui cho mọi người, chả hiểu làm thế nào mà bà vờ khóc được!”.
Rồi hắn cất giọng oang oang hát theo đám hát đưa ma, mặt hắn trông hớn hở và điệu bộ vung vẩy khác hẳn với lời ca bi ai của bài hát. Những người trong nhà họ Lương cau mặt khó chịu nhưng không ai dám xua hắn đi, ngại hắn lại phát biểu những điều chối tai hay làm ầm ĩ thì chẳng ra thể thống gì nữa.
Đôi khi người trong làng nhắc nhau trông chừng hắn vào những dịp có lễ lạc, đình đám vì không ít nhà bị hắn quấy rối như nhà họ Lương. Thông thường, nếu hắn có đi xem lễ hay phát biểu linh tinh, người tinh ý hay khéo nói chỉ cần vờ làm khổ hay nhờ hắn việc gì đó là có thể xua hắn đi nơi khác. Tuy nhiên, không phải bao giờ hắn cũng bị lừa và có nhà đã từng bẽ mặt khi bị hắn oang oang vạch mặt trước đám đông. Tối kỵ là những tỵ hiềm, tranh chấp hoặc những điều những người có mặt ở đấy phát biểu về nhau sau lưng bị hắn lôi toẹt ra giữa mọi người. Và cứ thế, hắn ngang nhiên mỉa mai, có lúc còn chửi bới, phỉ nhổ những lễ nghi, phép tắc và những tập tục xã giao của người đời. Có người tức điên lên suýt nện cho hắn, có người xấu hổ muốn đào đất mà trốn nhưng không ai làm gì được hắn vì ngại mang tiếng đi gây gổ với thằng điên. Vì thế, hắn càng ngông nghênh hơn, ngang nhiên đi đến bất cứ lễ, tiệc nào hắn thích và mặc sức làm trò cười cho thiên hạ.
Chẳng hạn, có lần hắn đi xem đám cưới con trai nhà lão Kiện. Hắn đến vừa lúc mọi người đang hớn hở, xúng xính trong áo quần mới chuẩn bị làm lễ đón dâu. Thoạt đầu, hắn còn kiễng chân, nghển đầu ngoài góc rào trông vào, nhưng đột nhiên, hắn hăng hái tiến vào rồi không ai mời ai mọc, nghiễm nhiên ngồi vào một bàn cạnh cửa chính. Người nhà lão Kiện lo lắng nhìn nhau, chưa ai biết làm thế nào để xua hắn đi thì hắn đã cất giọng cười cợt.
“Vui quá nhỉ, thì cũng cố cho được một ngày như ai chứ mai đây lại chửi nhau như chó”. Rồi hắn tặc lưỡi, lắc đầu vẻ thương xót. “Lại thêm một miệng ăn, có cố cũng chả vui được, không khéo lại vác về của nợ”
Mụ vợ lão Kiện xanh mặt, đi ra đi vào không biết làm thế nào để đuổi khéo hắn, sợ hắn lên cơn làm quấy thì hỏng cả bữa tiệc, mà lờ hắn cũng không được vì đã gần đến giờ rước dâu. Hắn trông chừng cũng biết thế, cứ thản nhiên ngồi rung đùi hát nghêu ngao, chốc chốc lại phát biểu những điều thật chối tai. Một lát sau, may sao gã con trai nhỏ nghĩ ra một cách liền rỉ tai mẹ hắn. Mụ Kiện hớn hở vào nhà ngay rồi mang ra nào áo gấm, quần lụa, khăn đóng, giày thêu đến trước mặt hắn. Rồi mụ cất giọng đon đả mời hắn vào nhà thay đồ để cùng với “gia đình” làm tiệc rước dâu. Hắn đang gật gù theo tiếng nhạc đột ngột dừng lại rồi trố mắt nhìn mụ Kiện. Vẻ bối rối lẫn hoang mang hiện trên mặt hắn, hắn lắc lắc đầu vẻ không hiểu khiến mụ Kiện phải nhắc đi nhắc lại mấy bận. Rồi, đột ngột như khi đến, hắn đứng dậy đi thẳng không cất thêm lời nào. Mọi người nhà lão Kiện thở phào nhẹ nhõm, mụ Kiện thầm tạ ơn ông bà các bác đã mách nước cho nhà mụ thoát khỏi một vụ lôi thôi ngày đi cưới dâu đầu.
*
Đôi khi người trong làng lấy làm may mắn khi có được một gã điên như hắn. Không những hắn tạo ra không ít chuyện đùa cho thiên hạ, đôi lúc hắn cũng giúp ích được người khác và điều này khiến những người trong làng quý hắn và quan tâm đến hắn. Những lúc như thế, những người lớn tuổi thường nhắc nhau về bố mẹ, ông bà hắn là những người hiền đức và tiếc cho hắn đã không may mất trí. Nhưng cũng có lúc họ tranh cãi nhau rằng hắn không thật sự mất trí vì những điều hắn nói, hắn làm thường chuẩn xác mặc dù rất ngông cuồng. Nhưng có người không đồng ý vì rõ là điên mới làm những điều như thế, bằng chứng là mới vài hôm trước hắn lại làm cả làng xôn xao vì cái điên của mình.
Hôm ấy cả làng tập trung gặt hái và đập lúa cho đến xẩm tối nhân dịp có trăng. Ngoại trừ người lớn tuổi và trẻ em, đa số thanh niên và những người có sức vẫn còn ngoài đồng, chỉ có lác đác dăm ba nhóm cắt lúa đang trên đường về nhà. Đột nhiên từ hướng đầu làng có tiếng lao xao, rồi tiếng chân chạy vội đến, tiếng kêu gọi nháo nhác trong bóng tối nhập nhoạng khiến những người quanh đấy lo lắng không biết điều gì đã xảy ra. Những người không bị vướng bận vội chạy đến nơi đám đông đang tụ tập quanh gốc vú sữa cạnh miếu thờ. Tiếng kêu cứu của một thằng bé trai vọng xuống đâu đó từ trên cây vú sữa làm những người dưới đất nhốn nháo.
“Bố ơi bố…, cứu con với…, con không dám xuống…”
Nó kêu khóc ngày một khẩn thiết. Thỉnh thoảng, tiếng cành cây gãy răng rắc, lá rơi lào xào và tiếng nó thét lên cho hay nó đang cuống lên và làm gãy những cành xung quanh. Những người quanh đấy lo sốt vó nhưng chẳng ai dám trèo lên mang nó xuống. Có ai đó cho hay nó là cu Tín con anh Nhân nhà ở cạnh đấy, bố nó đã đi chợ huyện hôm sau mới về, mẹ nó vừa hay tin hớt hải từ ngoài đồng chạy về đang cuống lên vì sợ. Chị vừa cố ghìm nước mắt vừa lắp bắp bảo con.
“Con… con cố lên nào, từ từ tụt xuống, cứ… cứ… bám vào những cành to…”.
Chị nấc lên, nước mắt ràn rụa. Trời tối dần, những người tụ tập quanh đấy ngày càng đông nhưng không ai dám lên tiếng, chỉ có hai mẹ con nức nở khóc. Người ta bàn nhau mang thang đến nhưng cây vú sữa lâu năm cao bằng hai, ba nóc nhà, chẳng có thang nào với tới. Vả lại, tàng lá um tùm không thể nào gác thang lên thân cây được. Không ai bảo ai nhưng mọi người đều nghĩ đến Thân, người đã ngã từ trên cây vú sữa xuống chết cách đó mấy chục năm và người ta lập miếu thờ dưới gốc cây. Từ ngày ấy, không ai dám trèo lên cây vú sữa mặc dù nó luôn tươi tốt và chi chít những quả. Hơn nữa, người ta kháo nhau trước đây có người trông thấy có đôi rắn làm tổ trong tàng cây vú sữa um tùm. Ai cũng biết cho dù giữa ban ngày chưa chắc có ai dám trèo lên cây huống hồ trong lúc trời tối thế này, có thương thằng bé lắm cũng chịu.
Không ai nhận thấy hắn vừa đến bên ngoài, đang kiễng chân nghiêng ngó cố xem điều gì xảy ra dưới gốc cây. Lúc đã hiểu ra sự việc, hắn lập tức rẽ đám đông rồi không nói lời nào, thoăn thoắt trèo lên cây. Mọi người quanh đấy nín bặt, hồi hộp lắng nghe tiếng hắn trèo lào xào lên cao dần. Người mẹ đứa bé níu cánh tay bạn, người run lên bần bật. Đứa bé đã thôi kêu gào, chỉ rên khe khẽ và thút thít khóc. Mãi sau, những người chờ dưới gốc cây ngỡ như hàng giờ đã trôi qua, người ta nghe tiếng cành cây răng rắc, tiếng lá cây lao xao và tiếng đứa bé xuống thấp dần. Hắn vẫn không nói một lời nào khi đã tụt xuống đến cành ngang cuối cùng, đứa bé bám chặt quanh cổ hắn. Những người bên dưới đưa tay đỡ lấy đứa bé đang lịm đi vì sợ. Người mẹ ôm ghì lấy con nức nở khóc. Những người quanh đấy ôm lấy hai mẹ con vỗ về, cánh đàn ông vỗ vai hắn mến phục, hắn chỉ cắm cúi đi thẳng.
Từ dạo ấy, những người trong làng thương mến hắn hơn cả trước kia. Vốn đã được láng giềng và những người quen biết gia đình hắn quan tâm đến, nay hắn còn được bà con khắp làng ưu ái, san sẻ, chia sớt cho hắn từ rượu chè, quà bánh đến chăm sóc lúc trái gió trở trời.
*
Thế rồi một hôm, cụ Khoan đi vớt cá sớm trông thấy xác hắn. Sau phút bàng hoàng, cụ trở về làng gọi thêm người đến giúp mang xác hắn về. Những người quen biết gia đình hắn hay tin đến xem. Hắn chết như người nằm ngủ, mắt mơ màng, miệng như còn phảng phất nụ cười. Có người bảo đêm hôm trước trông thấy hắn kiếm đâu ra lưng chai rượu, có người thấy hắn ngồi hát rôm rả ngoài bờ đê. Có lẽ hắn say quá, ngã xuống sông chết đuối.
Không có thân nhân, những người ở đấy bàn nhau nên chôn cất hắn nhanh chóng. Đám tang hắn thật đơn sơ, người ta nhặt nhạnh mớ áo quần hắn thường mặc hàng ngày và dùng chiếc chiếu cũ hắn vẫn thường nằm quấn xác hắn lại. Đám thanh niên đào huyệt cho hắn cạnh mộ ông bà cụ bố mẹ hắn. Đám tang hắn không kèn, không trống, không nước mắt nhưng số người đến quanh mộ hắn đông vô kể. Có người đến xem vì tò mò, nhưng cũng có người đến để tiễn đưa hắn lần cuối.
Lúc hạ huyệt, không có người thân, chỉ có mấy người quen biết với gia đình hắn đến ném đất vào huyệt. Thế rồi, không ai bảo ai, những người có mặt ở đấy lần lượt ném cho hắn một nắm đất. Cứ thế, từng người, từng người một, đến khi đoàn người chấm dứt, mộ của hắn cao như một ổ mối, cao hơn bất cứ một cái mả nào từng thấy từ trước đến nay.
Rồi mọi người kéo nhau ra về, không khí đột nhiên im lặng, chùng xuống. Không ai bảo ai nhưng mọi người đều cùng chung một ý nghĩ. Thế là hết, từ nay làng này mất đi một người. Không còn nữa những đêm ồn ào, bát nháo, chó sủa râm ran đuổi theo hắn cười nói oang oang một mình; không còn nghe thấy những lời châm chọc điên khùng mà chí lý khiến mọi người hả dạ. Không còn nữa những niềm vui, nỗi buồn của người điên để giúp vui cho những người xung quanh. Làng của họ từ nay sẽ chìm trong im lìm, chỉ còn có lo toan, nhọc nhằn, và người điên trở thành huyền thoại mọi người còn nhắc đến và kể mãi cho nhau nghe cho đến tận đời sau.
Powered by vBulletin® Version 4.1.8 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.