PDA

View Full Version : Đồng tính luyến ái - Một đề tài hay bị né tránh trên màn ảnh



Mr.stylish
04-03-2006, 07:06 PM
Đồng tính luyến ái - Một đề tài hay bị né tránh trên màn ảnh

Con người bản chất vốn bị hấp dẫn bởi người khác phái. Lịch sử con người đã để lại biết bao những áng thơ văn, câu chuyện, lời hát...v.v... ca ngợi tình yêu nam nữ. Tuy vậy, có người này người kia. Khi phần đông dân số là dị tính luyến ái, vẫn có một phần dân số khác biệt trong chuyện luyến ái. Đó là những người đồng tính luyến ái. Vậy có thể nói những người này nằm trong thành phần thiểu số, mà đã là thiểu số thì sẽ bị phân biệt đối xử ít nhiều. Tuy rằng điện ảnh đã đánh dấu cột mốc được hơn một thế kỉ, lịch sử Hollywood có bề dày không kém nhưng họ lâu nay luôn né tránh đề tài đồng tính luyến ái ( ĐTLA ).

Không có gì đáng ngạc nhiên khi kinh đô Hollywood không phải là nơi sản xuất ra những bộ phim đầu tiên về người đồng tính luyến ái mà là Đức. Nguyên do trong thế chiến thứ nhất, người dân bị đẩy vào chiến đấu ( nam ) và lao động ( nữ ) tập thể trong suốt một thời gian dài đã hình thành việc quan hệ luyến ái với người cùng giới và dần dà việc đó trở nên phổ biến ( Mỹ chưa vào cuộc trong thế chiến thứ nhất ). Tại các thành phố lớn ở Đức, đặc biệt là Berlin ở thời điểm năm 20 thì chuyện đồng tính đã trở thành chuyện bình thường đến mức nữ minh tinh huyền thoại Marlene Dietrich đã ngạc nhiên khi thấy thái độ dè chừng và khó chịu với chuyện đồng tính ở nước Mỹ khi bà đặt chân đến kinh đô điện ảnh thế giới. Tuy nhiên, sự nổi dậy và rồi dưới chính sách tàn bạo của quân Phát xít Đức sau đó khiến ĐTLA trở thành một chuyện cấm kị.

Different From the Others (1919) ra đời một năm sau ngày chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc là một thành công khi mới ra mắt. Mặc dù nhân vật chính của bộ phim - một nhạc công đồng tính - cuối cùng tự tử bằng thuốc độc, bộ phim mang đến những cách nhìn tích cực về ĐTLA xuyên suốt câu chuyện. Một năm sau đó, bộ phim bị kiểm duyệt và bây giờ chỉ còn là những mảng phim rời rạc. Girls In Uniform (1931) được coi như một cột mốc trong điện ảnh về phim ĐTLA, với câu chuyện xoay quanh cuộc tình giữa cô giáo và học sinh trong một trường nữ sinh kỉ luật khắc nghiệt. Trong thế chiến thứ hai, với việc mọi người bị đưa vào những nơi chiến đấu, lao động với người cùng giới, người ta thận trọng với vấn đề đồng tính hơn. Chuyện này sau đó đã dẫn đến hai hướng phát triển đối lập cùng một lúc ở Bắc Mỹ và Châu Âu trong những năm 50: số lượng người đồng tính gia tăng ở các thành phố lớn, và xuất hiện những biện pháp ngăn cản tình trạng đó.

Những cộng đồng này phát triển mạng lưới gặp gỡ, trao đổi, giải trí, trong đó có điện ảnh. Những phim còn đọng lại trong trí nhớ khán giả là những phim của **** Fountain ở San Francisco cuối những năm 40. Những bộ phim này thường có kinh phí thấp, để xem trong câu lạc bộ và ở nhà. A Song of Love (1950) của Jean Genet với nhiều hình ảnh gợi dục của những tù nhân nam đẹp trai, giống như Fireworks (1947) của Kenneth Anger về một chàng trai mơ mộng tình dục với lính hải quân. Trong những năm 60, những phim tình dục đồng giới của Andy Warhol và George Kuchar bắt đầu tiếp cận được tới một lượng khán giả lớn hơn.

Trong những năm 30, phim của Hollywood không đề cập đến chuyện đồng tính luyến ái nhưng không ai có thể quên những hình ảnh gợi tình đồng giới của Morocco (1930) và Queen Christina (1933). Trong Morocco, Marlene Dietrich đã lưu lại một hình ảnh kinh điển, đó là lúc bà bước vào quán trong bộ đồ tuxedo sang trọng. Queen Christina dựa trên cuộc đời có thật của vị nữ hoàng Thụy Điển thế kỉ 17, với vai diễn chính giao cho siêu sao điện ảnh Greta Garbo. Theo như tư liệu lịch sử thì vị nữ hoàng là người đồng tính nhưng bộ phim này đã bớt xén chuyện này gần như hết, chỉ tập trung vào chuyện tình của bà với một vị sứ giả người Tây Ban Nha. Cả hai phim đều có cảnh hôn nhau giữa phụ nữ, tuy chỉ là nụ hôn bình thường như kiểu xã giao nhưng đã cho thấy thái độ ngầm của Hollywood đối với đồng tính nữ "thoáng" hơn với đồng tính nam.

Hollywood trong thời kì hoàng kim những năm 40 không có chút để tâm gì đến đề tài ĐTLA. Mạng lưới phim dành cho người xem nói chung trên thế giới không đả động gì về chuyện này. Các nhân vật đồng tính trong phim thường đóng vai phụ, vai trò hết sức khiêm tốn và thậm chí còn không bộc lộ công khai, chỉ được biểu lộ ngầm qua cử chỉ, có thể thấy qua các phim Rebecca (1940), The Maltese Falcon (1941), The Third Man (1949),...v.v...

Cuối những năm 40 và 2 thập kỉ sau đó, dường như bắt đầu có xu hướng miêu tả nhân vật đồng tính trên phim với thái độ không thương hại thì thù hằn. Rope (1948) cho hai nhân vật nam chính là người đồng tính đồng thời cũng là hai kẻ giết người với mục đích giải trí! Victim (1961) - nổi tiếng với việc thốt ra từ "đồng tính luyến ái" ( homosexual ) trong phim lần đầu tiên trong lịch sử - tuy không có thái độ thù hằn với chuyện đồng tính nhưng cũng mang thông điệp rằng ĐTLA cũng chẳng phải tốt đẹp gì. Rebel Without A Cause (1955) mặc dù không nói rõ ra nhưng người xem có thể nhận ra nhân vật Plato ( Sal Mineo ) có tình cảm đặc biệt với anh bạn nổi loạn Jim Stark ( James Dean ). The Children's Hour (1961) miêu tả tình yêu của cô giáo Martha Dobie ( Shirley MacLaine ) dành cho người bạn đồng nghiệp Karen Wright ( Audrey Hepburn ) một cách thương hại và tuyệt vọng. Cả hai phim Rebel Without A Cause và The Children's Hour đều cho nhân vật đồng tính chết, phải chăng là một bản án tử đối với người đồng tính hay là một lời cảnh báo với xã hội tàn nhẫn ?

Từ những năm 70, số lượng liên hoan phim ( LHP ) đề tài đồng tính nữ và nam ( Lesbian and Gay film festivals ) trên thế giới phát triển. San Francisco là nơi đầu tiên một LHP đề tài đồng tính được tổ chức, sau đó tới London, Paris, New York, Toronto, Berlin và những nơi khác. Những LHP này thường được phụ kèm thêm bằng những buổi giảng trực tiếp và thảo luận, phụ giúp cho các nhà sản xuất, đạo diễn, phê bình và khán giả đồng tính luyến ái.

Trong khi đấy thì Hollywood bị chỉ trích trong việc sử dụng khuôn mẫu và quá đà. Ví dụ nổi tiếng nhât là The Boys In the Band (1970) bào mòn hình ảnh khuôn mẫu người đồng tính suy sụp, Cruising (1980) so sánh ĐTLA với bạo lực.

Before Stonewall (1984) là một phim tài liệu quan trọng nói về lịch sử cộng đồng những người ĐTLA. Trong thập kỉ này, các phim đã có thái độ hòa nhã hơn với chuyện ĐTLA, thậm chí khá "sến", có thể thấy qua hai phim Making Love (1982) và Desert Hearts (1985).

Thập kỉ 90 và đầu thế kỉ 21 cho thấy sự thoải mái với chuyện ĐTLA trên màn ảnh hơn so với trước kia. The Celluloid Closet (1995) là một bộ phim tài liệu quan trọng trong lịch sử phim ĐTLA, dựa trên cuốn sách cùng tên của nhà nghiên cứu, phân tích phim Vito Russo viết năm 1987. Bộ phim phân tích việc miêu tả ĐTLA trong phim Hollywood và ý kiến của những người trong cuộc ( đạo diễn, kịch bản gia, diễn viên... ). Thập kỉ này nổi lên một thực trạng khiến cộng đồng người đồng tính bất bình là việc nhân vật đồng tính luyến ái trong phim bị miêu tả như những kẻ khát máu hoặc tâm thần, tiêu điểm nhất là The Silence of the Lambs (1991). Có một thực tế là trong những phim mạng lưới phát hành rộng rãi, các nhân vật đồng tính nắm vai trò phụ, chỉ là bạn bè của nhân vật chính và càng hiếm thấy chuyện phim có kinh phí lớn lại khai thác về tình yêu đồng giới. Trong khi mạng lưới phim cho dân đồng tính có xu hướng "chuyển" các nhân vật từ dị tính sang đồng tính luyến ái thì những phim phát hành rộng rãi lại muốn "chuyển" người đồng tính sang dị tính luyến ái hoặc dành thời gian cho quan hệ nam-nữ nhiều hơn, có thể thấy qua Basic Instinct (1992), Chasing Amy (1997), Time and Tide (2001), Possession (2002), v.v...

Thời gian gần đây lại có thêm xu hướng nhét các cảnh các nhân vật nữ hôn nhau vào trong các phim thông thường. Vậy câu hỏi đặt ra là :

Bây giờ có phong trào phim đồng tính luyến ái nữ ?

Ở phương Tây, đàn ông có sở thích nhìn phụ nữ đẹp hôn hít, "mây mưa" với nhau ( có thể thấy qua các phim American Psycho (2000), Tomcats (2001), American Pie 2 (2001) ). Vậy nên ngành phim "con heo" sản xuất ra rất nhiều phim đồng dục nữ, có thể thấy nhan nhản tại các hàng thuê phim thông thường. Ngành phim thông thường thì hay cho các kiều nữ xinh đẹp hôn nhau, mặc dù các nhân vật trong phim không hẳn có tình yêu, có thể thấy qua Thelma & Louis (1991), Kids (1995), Wild Things (1998), Cruel intentions (1999), Girl, Interrupted (1999). Còn có đợt chương trình Big Brother ăn khách quá, một số phim truyền hình như Friends, Ally McBeal, Sex & the City, ER vội vàng cho cảnh nữ giới hôn nhau để lấy lại khách. Vậy là trong đầu thế kỉ này có thể thấy là các phim của Mỹ hay cho nhân vật nữ hôn nhau nhưng thực sự chỉ là để đó cho hay, cho đẹp chứ không hẳn muốn đi quá sâu vào đề tài đồng tính.

Xu hướng đồng tính luyến ái của nam giới, nữ giới và cách thể hiện nó trên phim khác nhau ?

Nam giới lâu nay được coi là phái mạnh, nên có rất nhiều trông đợi họ phải thể hiện nam tính, và do đó họ cũng phải rõ ràng trong sự ham muốn luyến ái của mình. Đàn ông khi cặp bồ với hàng tá phụ nữ không thấy xấu hổ, thậm chí còn hãnh diện, cho đó là bản tính "mạnh mẽ" của mình. Thế nhưng nếu một anh chàng mà "lỡ" có tình cảm với người đồng giới thì anh sẽ bị coi là một người yếu đuối. Trong phim, chưa thấy bao giờ có chuyện đàn ông thất vọng với phụ nữ quá mà nảy sinh tình cảm với người đồng giới, thường thì do anh ta bản chất đã ham muốn người cùng giới hoặc tò mò quan hệ thử. Đàn ông do có khả năng "kiểm soát" nên chuyện thay đổi người tình như thay áo không có gì đặc biệt.

Trong khi đó về mặt tự nhiên thì phụ nữ mềm yếu và tình cảm hơn nam giới. Ở nơi công cộng, đàn bà con gái có thể ôm hôn ( vào má ), nắm tay nhau. Vậy nên quan hệ giữa nữ giới với nhau thân mật hơn nam giới rất nhiều. Có những phụ nữ dị tính luyến ái lại phải lòng phụ nữ khác, bởi họ tìm thấy sự đồng cảm và nhẹ nhàng mà họ không tìm thấy được ở người đàn ông, ví dụ có thể thấy trong When Night Is Falling (1995), Your Friends & Neighbours (1998), Aimée & Jaguar (1999), Kissing Jessica Stein (2002)... Có thể do tâm lí phụ nữ yếu đuối hoặc vì sinh lí không có khả năng "kiểm soát" cao nên họ thường giữ mối quan hệ lâu dài với một người.

Không rõ xu hướng đồng tính luyến ái của nam và nữ ngoài đời khác nhau là ảnh hưởng từ cách nhìn của người đời hay phim bị chi phối bởi sự mong đợi của người xem vì bên cạnh chuyện phim phát hành rộng rãi miêu tả cảnh ôm hôn nhau giữa nữ giới nhiều hơn nam giới, cách nhìn nhận của người đời về cách ăn mặc trái giới tính khác nhau. Lấy ví dụ xa xưa là mọi người trong quán đã ồ lên tán thưởng nhân vật của Marlene Dietrich trong Morocco (1930) nhưng những anh chàng ưỡn ẹo, mặc váy trong Broadway Melody (1929), Call Her Savage (1932), Some Like It Hot (1951) bị đem ra để làm trò cười. Những phim gần đây có đàn ông ăn mặc, trang điểm như con gái như Velvet Goldmine (1998), Iron ladies (2000) bị người đời khinh miệt hoặc những anh chàng trong The Adventures of Priscilla, Queen of the Desert (1994) mặc dù được khá nhiều người cổ vũ biểu diễn trong bộ đồ đàn bà nhưng vẫn gặp phải sự phân biệt đối xử ít nhiều. Trong lúc nữ giới khi mặc đồ đàn ông như nữ họa sĩ trong Frida (2002) thì được coi như một vẻ đẹp đặc biệt hay như trong Tipping the Velvet (2002), một phim tập ngắn đã gây xôn xao dư luận khi mới phát hành ở Anh cho thấy từ thời kì nữ hoàng Victoria ( cuối thế kỉ 19 ), thì đã có những nữ nghệ sĩ múa hát trong trang phục đàn ông mà lại rất được người dân thường tán thưởng.

Mr.stylish
04-03-2006, 07:12 PM
Nghệ sĩ có xu hướng đồng tính / lưỡng tính luyến ái ?

Có lẽ do bản chất nghệ sĩ là luôn đi tìm cái đẹp, mà đã tìm cái đẹp thì luôn cố tìm ở mọi nơi, mọi người. Chính vì lẽ đó mà dường như các nghệ sĩ thoải mái với chuyện luyến ái và cả xu hướng luyến ái. Rất nhiều phim mô tả cuộc đời thực của các nghệ sĩ lưỡng tính luyến ái như Iris (2001), Frida (2002), The Hours (2002) hoặc đồng tính như Looking for Langston (1988), Total eclipse (1995), Wilde (1997), Velvet Goldmine (1998), Before Night Falls (2000). Ngoài ra còn những phim thông thường khác về các nghệ sĩ như Pillow Book (1996), High Art (1998), Possession (2002).
Iris Murdoch ( Iris ), Frida Kahlo ( Frida ), Virginia Woolf ( The Hours ) là những nữ nghệ sĩ lưỡng tính luyến ái đều có chồng. Do đó phim không muốn khai thác chuyện đời tư của những người nghệ sĩ này quá nhiều. Trong khi đó, nhà thơ, nhà viết kịch Oscar Wilde với vụ xì-căng-đan ầm ĩ khi bị phát hiện là người đồng tính và có mối quan hệ với một công tử bột ăn chơi đã được miêu tả trọn vẹn trong phim Wilde. Total Eclipse ca ngợi tình yêu giữa nhà thơ Pháp vĩ đại Arthur Rimbaud và một nhà thơ bình thường - Paul Verlaine. Verlaine khi gặp Rimbaud thì ông đã có vợ. Bản thân Verlaine mê người vợ vì xác thịt nhưng ông lại tìm thấy tình yêu trong tâm hồn với Rimbaud. Điểm đáng tôn trọng trong Wilde và Total Eclipse là hai phim phác họa công khai và ca ngợi những mối tình đồng giới của những nhà thơ này. "Một tình yêu không dám nói tên. Những người thông thường không thể hiểu được" - câu nói của Wilde trong phim ngắn gọn nhưng vô cùng sâu sắc về tình yêu đồng giới.

Giới trẻ với chuyện nói thật bản chất đồng tính luyến ái ( coming out ).

Có thể kể đến nhiều bộ phim hay, nổi tiếng về chuyện học sinh thú nhận với mọi người xung quanh về giới tính luyến ái thật của mình như Beautiful Thing (1996), Edge of Seventeen (1998), Get Real (1998), Show Me Love (1998). Edge of Seventeen choáng ngợp người xem với một chút chất "nổi loạn" của thập kỉ 80, khi mà thời điểm đó là đỉnh cao của việc quan hệ tình dục thoải mái của giới trẻ ở nước Mỹ thì cùng lúc đó, "thế giới ngầm" của những người đồng tính cũng bắt đầu phát triển. Get Real và Beautiful Thing, có lẽ là do phim của Anh, một đất nước có truyền thống văn hóa cao và lịch sự nên hai bộ phim ý tứ và tình cảm hơn. Đặc biệt, người xem khó lòng không xúc động khi anh chàng nhân vật chính trong Get real dám đứng lên trước toàn trường thú nhận mình là người đồng tính và mong sự thông cảm ở họ. Show Me Love ( tên gốc Fucking Åmål ) được đề cử và nhận được nhiều giải thưởng ở các LHP châu Âu, trong đó có giải "Phim xuất sắc nhất" ở liên hoan phim đề tài đồng tính nằm trong khuôn khổ của LHP Berlin năm 1999. Đây là một phim nổi bật và đã được một số lượng lớn khán giả đón nhận nồng nhiệt bởi nó không sa đà vào miêu tả nhân vật đồng tính đau khổ mà cân bằng được chuyện tình cảm mới lớn và mối quan hệ gia đình, bạn bè. Bên cạnh đó, những bài học giáo dục trong phim được chuyển thể qua những tình tiết hài hước và một thái độ "phớt đời" xuyên suốt bộ phim. Bớt chất nặng nề thường thấy trong các bộ phim, But I'm a Cheerleader (1999) đả kích sự o ép của xã hội với giới trẻ đồng tính một cách đầy hài hước mà cũng không kém phần sâu cay. Nhân vật nữ chính trong phim bị cha mẹ và bạn bè nghi ngờ là người đồng tính đã đưa cô tới một khóa học "cải tạo". Tại đây các học sinh phải trải qua những "bài tập" dở khóc dở cười để thay đổi xu hướng luyến ái của mình và có cả lễ... tốt nghiệp đàng hoàng. Nực cười thay, tất cả những bài học, tấm bằng đó chỉ là vô dụng bởi những "học sinh" này lại cặp đôi với nhau. Một mô tuýp thường thấy trong các phim là giới trẻ có phần hoang mang khi nhận ra bản chất thật, thường sẽ cố gắng cặp với một người khác giới để "chỉnh sửa" lại mình và kết quả không bao giờ có thể thay đổi được bởi con người không thể sống hạnh phúc khi không sống thực với lòng mình.

Người ta cũng có phần sợ hãi bởi những mối quan hệ đồng tính ở tuổi mới lớn ám ảnh khó dứt. Tuổi mới lớn là tuổi mong manh, dễ bị tổn thương, đặc biệt là trong mối quan hệ tình cảm. Nếu những tình cảm đó chỉ thoáng qua, nhẹ nhàng thì không có gì đáng nói nhưng nếu nó sâu đậm mà lại bị can thiệp thô bạo thì có thể gây những hậu quả khó lường. Tiêu điểm về chuyện này là bộ phim Heavenly Creatures (1994) của đạo diễn Peter Jackson và Lost and Delirious (2001). Heavenly Creatures kể về một câu chuyện có thật xảy ra ở New Zealand vào khoảng những năm 50. Tình bạn của hai cô bé Pauline Parker ( Melanie Lynskey ) và Juliet Hulme ( Kate Winslet ) phát triển tới mức ám ảnh và trong đó có cả xu hướng luyến ái. Khi cha mẹ hai cô bé nhận ra dấu hiệu không bình thường trong mối quan hệ của hai cô đã tìm cách ngăn cản và một trong số họ tìm cách chuyển đi nơi khác. Phim kết thúc với một án mạng, có thể gây sốc mạnh cho người xem nhạy cảm. Trong khi đó, Lost and Delirious không hẳn gây sốc mà để lại cho một cảm giác hẫng hụt và xót xa sau khi xem. Người ta cứ nghĩ rằng ở cái tuổi mới lớn thì chỉ biết cặp bồ cho vui, giống như mẫu của các phim Mỹ thường thấy, có ai có thể ngờ rằng lại cũng có những đứa trẻ có thể yêu đến mức bất chấp cả tính mạng của mình. Tuổi trẻ mãnh liệt nhưng cũng thật nông nổi.

Các đạo diễn gạo cội với đề tài ĐTLA.

Nhắc tới phim ĐTLA thì người ta nghĩ tới Đức là "cái nôi" đề tài này và nhắc tới điện ảnh Đức thì người ta không thể không nhắc tới đạo diễn đại thụ Rainer Werner Fassbinder mà trong sự nghiệp điện ảnh của ông có một bộ phim kinh điển về ĐTLA - The Bitter Tears of Petra Von Kant (1972) - một phim về cuộc sống của một nữ thiết kế thời trang bị đảo lộn bởi một cô người mẫu rồi cuối cùng quị lụy vì người tình. Toàn bộ phim quay trong căn hộ của nhân vật nữ chính, tạo cho người xem một cảm giác ngột ngạt khó thở và cùng lúc ẩn ý rằng cuộc sống đồng tính cũng bị đè nén và giấu giếm như vậy. Ở Trung Quốc thì ba đạo diễn hàng đầu - Trần Khải Ca ( Trung Quốc đại lục ), Vương Gia Vệ ( Hồng Kông ) và Lý An ( Đài Loan ) - cũng cho ra đời lần lượt các phim về ĐTLA nam nổi tiếng là Farewell My Concubine (1993), The Wedding Banquet (1993) và Happy Together (1997). Farewell My Concubine - bộ phim đoạt giải Cành cọ vàng của Cannes năm 1994 - không những tái hiện được lịch sử Trung Quốc bạo động và khắc nghiệt trong thế kỉ 20 mà còn khiến người xem dù có hằn thù với chuyện ĐTLA bao nhiêu cũng phải mủi lòng vì tình yêu mãnh liệt của nhân vật nam chính dành cho người anh kết nghĩa trong suốt cuộc đời. Happy Together miêu tả chân thật cuộc sống nhọc nhằn của những người phải lao động ở xứ khác mà trong đó, cuộc sống tình ái đồng giới nam lại càng phức tạp và khó khăn. The Wedding Banquet đem lại một không khí thoải mái, dễ chịu với người xem bởi có lẽ đạo diễn muốn một bộ phim mà trong đó người đồng tính cuối cùng sẽ có kết cục vui vẻ, một xu hướng hiếm thấy trong các phim về ĐTLA. Đặc biệt hơn nữa, qua phim này, một tư tưởng mới khẳng định: cho dù nền văn hóa Á Đông kỉ luật và khuôn phép đến đâu thì cuối cùng, cuộc sống con người cũng là do ta quyết định chứ không phải văn hóa hay gia đình. Pedro Almodóvar luôn làm những bộ phim khác lạ về xu hướng luyến ái các nhân vật trong phim, nổi bật nhất là bộ phim đoạt giải Oscar cho Phim nước ngoài xuất sắc nhất năm 2000 - All About My Mother (1999) với cách nhìn hết sức lạ thường về chuyện chuyển giới tính, ái nam ái nữ. Gần đây nhất là Mulholland Dr. (2001) của David Lynch về tình yêu nữ giới mãnh liệt nhưng không kém phần bi kịch trên mảnh đất Hollywood hoa lệ mà tàn nhẫn. Một điểm chung trong các phim về ĐTLA của những đạo diễn nổi tiếng này là cách nhìn hết sức công bằng, đồng cảm và cũng hết sức nghệ sĩ đúng như bản chất nghề nghiệp của họ.

Phim truyền hình với chuyện ĐTLA.

Queer As Folks ( QAF ) có thể coi như một bước ngoặt lớn đối với người ĐTLA khi một phim truyền hình được phát hành rộng rãi và được đánh giá cao. Bản gốc phim là của Anh, về sau thu hút được quá nhiều sự chú ý và khen ngợi, hãng truyền hình ở Mỹ cũng không bỏ lỡ cơ hội nhảy vào sản xuất bản QAF của Mỹ nhưng kết quả là nó lại không được đánh giá cao bằng bản của Anh. Nguyên nhân là vì tính khuôn mẫu đến sáo mòn trong phim. Tập nào cũng phải có cảnh vũ trường đồng tính nam và rồi những màn làm tình không mệt mỏi của những anh chàng này khiến không ít người xem phát ngán ngẩm. Cũng có người chỉ trích phim này vì có thêm hai nhân vật nữ đồng tính vì hai nhân vật này không có vai trò gì quan trọng, "rớt" khỏi trung tâm phim. Will and Grace - một phim truyền hình hài rất được ưa chuộng ở Mỹ - có hai nhân vật nam chính trong phim là người đồng tính nhưng có lẽ do quy mô phát hành rộng rãi nên bộ phim không muốn khai thác quá sâu vào chuyện luyến ái của hai anh chàng và chưa bao giờ thấy cảnh hai người hôn hít hay ôm ấp bồ của mình. Dawson's Creek - một phim truyền hình về thiếu niên Mỹ - có lẽ muốn thu hút thêm thanh thiếu niên đồng tính hay muốn tỏ ra phim "công bằng" nên cố nhét vào một nhân vật đồng tính nhưng thực sự vai trò của anh chàng này không có là bao. Vậy là dưới mạng lưới phát hành rộng rãi thì rõ ràng chuyện luyến ái của các nhân vật đồng tính vẫn luôn bị né tránh. Thế nên, cho dù QAF có ít nhiều sai sót nhưng vẫn được hầu hết những người đồng tính (nam) đón nhận nồng nhiệt vì sự miêu tả đời sống đồng tính công khai của nó.

Mr.stylish
04-03-2006, 07:13 PM
Phim Việt Nam với đề tài ĐTLA.

Trong tư tưởng người Việt Nam ( VN ) lâu nay, ĐTLA vẫn luôn bị coi là một căn bệnh, bị phân biệt đối xử nặng nề. Nhẹ hơn thì thương hại hoặc thông cảm nhưng vẫn luôn có một sợi dây phân biệt, hoàn toàn không có chuyện nhìn nhận tình cảm đồng giới ngang bằng với tình cảm khác giới như cách nhìn của các đạo diễn gạo cội trên thế giới qua các phim mà bài viết này đã kể ở trên.

Trong lịch sử của điện ảnh VN, đề tài ĐTLA luôn bị né tránh một cách triệt để. Trong thời kì phim mì ăn liền đầu những năm 90, ĐTLA cũng được đề cập thoáng qua nhưng chỉ để làm trò cười, một điều mà điện ảnh Mỹ đã làm trước đó 60 năm nhưng đã đủ nhạy cảm dừng lại để không xúc phạm những người đồng tính nữa. Thế nhưng, tưởng như không đề cập tới đề tài này trong phim chí ít cũng biết tránh xúc phạm người đồng tính thì bộ phim gây được sự chú ý gần đây - Gái nhảy (2002) - lại "khéo léo" phản ánh sự miệt thị với người đồng tính qua nhân vật Má mì. Nhân vật Má mì là một kiểu mẫu đồng tính đã được các phim xưa cũ mài dũa thành "công thức" : ưỡn ẹo, ăn mặc diêm dúa, nói ỏn ẻn. Chuyện cho một nhân vật đồng tính là chủ chứa gái điếm, đối xử tệ với các cô và nhận một kết cục không tốt đẹp trong phim VN quả thực không có gì đáng ngạc nhiên bởi đó cũng là tâm lí đã ăn sâu vào trong não. Tư tưởng, sự mong đợi của người xem ra sao thì phim đáp ứng đúng như vậy.

Cũng không thể nói rằng tất cả các phim VN khi đề cập tới đề tài ĐTLA thì đều có thái độ phân biệt. Người sót lại của rừng cười (?) dựa trên truyện ngắn cùng tên của nhà văn Võ Thị Hảo đã gây nhiều tranh cãi khi mới ra mắt. Phim kể về các chị nữ thanh niên xung phong, vì thiếu tình cảm nên ôm hôn nhau để thỏa mãn sự thiếu thốn đó. Tuy vậy, các cô gái có vẻ như muốn phô diễn thân hình là chính chứ không có cái kiểu ham muốn thật sự. Dù sao thì đây cũng là một phim mạnh bạo, đặt trong bối cảnh tư tưởng xã hội phân biệt ĐTLA như VN.

Có thể nói rằng, VN có một phim đề cập tới đề tài ĐTLA mà không phân biệt là "thoáng" lắm rồi chứ đừng nói đến chuyện sẽ có phim VN miêu tả chuyện ĐTLA nói chung như một bản năng, tâm lí phức tạp chứ không phải đơn giản là một căn bệnh hay tôn trọng tình yêu cùng giới nói riêng. Điện ảnh VN chắc hẳn sẽ còn phải trải qua một thời gian dài nữa để nhìn nhận đề tài này dưới con mắt đồng cảm và coi trọng hơn là định kiến như hiện nay.

Với một xu hướng ngày càng bao dung với chuyện ĐTLA ở ngoài đời và trong phim trên thế giới, trong thời gian tới sẽ có những bước đột phá như thế nào trong phim về đề tài ĐTLA và cách nhìn về đề tài này của người xem nói chung sẽ chuyển biến theo hướng "thoáng" hơn nữa hay mãi dừng lại ở mức độ nửa vời như hiện nay? Chúng ta hãy chờ xem bởi thời gian sẽ trả lời câu hỏi này.

Mystar(sưu tầm)