bestbody
02-10-2005, 12:18 PM
Có bao nhiêu thuật ngữ mà người Việt Nam vẫn sử dụng để nói tới đồng tính nam và nữ: “Bóng lộ, bóng ẩn, bóng cái, bóng kín, bóng lõa, pêđê, lại cái, lại đực, gay, hifi, đồng tính luyến ái, ái nam, ái nữ, đồng tính nam, đồng tính nữ, chuyển đổi giới, lưỡng giới, cộng, ô môi...”, chỉ đơn cử có tới gần 20 từ được sử dụng để nói tới những người mà quan niệm, lối sống, hành vi có những biểu hiện của người khác giới.
Xuất hiện từ bao giờ, tại sao lại có những người đồng giới yêu nhau và không thể yêu những người khác giới? Sử sách cũng đã đề cập tới vấn đề này từ lâu, từ khi loài người xuất hiện, người ta cho rằng đồng tính xuất hiện một cách tự nhiên như những hiện tượng thông thường mưa, gió, mặt trăng, mặt trời, bệnh tật..., thậm chí họ coi đó như là một bệnh ung thư, hay AIDS không thể cứu chữa được. Trên thế giới rất nhiều nước đã coi đồng tính như là một hiện tượng tự nhiên bẩm sinh như vốn có của nó, nhưng cũng không ít các quốc gia coi đồng tính là một hiện tượng bất thường của xã hội, những người đồng tính phải sống lén lút, họ bị ném đá, bỏ tù, bị coi như là tội phạm khi bị phát hiện có quan hệ đồng tính.
Tiếp cận với những người đồng tính quả thực là không dễ dàng gì, trong xã hội vẫn còn nhiều người ngạc nhiên khi gặp một người hơi khác bình thường, họ ngoái lại nhìn rồi ôm miệng cười khúc khích khi thấy một người đàn ông sơn móng tay, móng chân, ăn mặc giống con gái đi ngoài đường. Còn những người đang sống trong cảnh đồng tính thì sao? Họ có mặc cảm, có tự ti hay không, trong xu hướng hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm sai lệch của cộng đồng về họ nên việc kỳ thị phân biệt đối xử là không tránh khỏi. Họ sống và hoạt động theo cộng đồng của họ, kín đáo không muốn ai để ý theo dõi đến mình.
Theo điều tra về quan hệ đồng tính nam giới (MSM) tại Thái Lan năm 1991 có 3% nam giới có ít nhất một bạn tình là nam giới, đến năm 1993 tăng lên tới 16%. Điều tra quốc gia năm 2000 tại Hồng Kông có 4% nam giới đã từng quan hệ tình dục (QHTD) đồng giới. Tại Philippines, điều tra năm 2000 có 3% nam giới có QHTD theo đường miệng với nam giới khác. Tại Ấn Độ, điều tra hộ gia đình năm 2004 có 6% nam giới có QHTD với một nam giới khác. Lào và Campuchia có tới trên 10.000 nam giới có QHTD đồng giới trong đó trên 80% QHTD không bảo vệ. Ở Việt Nam, theo báo cáo thống kê tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh thì tỷ lệ những người MSM không phải là một con số nhỏ. Năm 2004 ở TP. Hồ Chí Minh có tới 27% MSM bị nhiễm virut viêm gan B, 8% trong số những người này bị nhiễm HIV. Các MSM thường QHTD qua đường hậu môn và đường miệng không bảo vệ bên cạnh thói quen nhậu nhẹt và sử dụng ma túy. QHTD đường hậu môn với việc không dùng bao cao su (BCS) hoặc dùng BCS không thường xuyên. QHTD đường miệng: không dùng BCS, xuất tinh vào miệng và nuốt tinh dịch... Nhiều người trong số họ thiếu hiểu biết về HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục như: không nhận thức được nguy cơ nhiễm HIV của bản thân, nhận thức sai về nguy cơ liên quan đến thực hành tình dục và bạn tình. Bên cạnh đó còn nhiều rào cản về sử dụng BCS như: giảm khoái cảm, cỡ to, mùi khó chịu, không có sẵn khi cần, ngại mua và mang sẵn trong túi, không dám đề nghị bạn tình sử dụng và say rượu. Các báo cáo nghiên cứu trên đây cho thấy rõ nguy cơ lây nhiễm HIV của MSM ở Việt Nam là đáng báo động. MSM cần phải được quan tâm như một nhóm nguy cơ cao để lập chương trình và cung cấp dịch vụ. Các dịch vụ về phòng chống HIV/AIDS cần phải được thực hiện “càng sớm càng tốt”. Tập trung cho nhóm đối tượng này để truyền thông giáo dục như thế nào, nên lựa chọn ưu tiên gì để tiếp cận họ? Những ưu tiên hàng đầu tại Việt Nam trong thời gian tới nhằm mục đích giảm tỷ lệ hiện mắc HIV/AIDS trong nhóm MSM, giảm tác động của HIV/AIDS lên nhóm MSM nhiễm HIV/AIDS và gia đình của họ thông qua Chương trình truyền thông thay đổi hành vi thông qua giáo dục đồng đẳng nhằm giảm thiểu nguy cơ cho MSM, bao gồm các hoạt động chủ yếu: hoạt động tiếp cận cộng đồng, hoạt động và dịch vụ tại câu lạc bộ, phân phối tài liệu/sản phẩm truyền thông, dịch vụ tư vấn tâm lý và sức khỏe tình dục, quảng bá dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện, quảng bá chất bôi trơn tan trong nước bằng các sản phẩm thích hợp, tập huấn cho tiếp cận viên cộng đồng và nhân viên tiếp thị về bao cao su và chất bôi trơn, tập huấn về hướng dẫn quản lý lâm sàng sức khỏe tình dục nam giới cho thầy thuốc da liễu, củng cố và tăng cường mạng lưới chuyển gửi với các cơ sở dịch vụ lây truyền theo đường tình dục (STI), chăm sóc và điều trị HIV, cung cấp thông tin về các cơ sở dịch vụ thân thiện cho nhóm MSM...
Những chương trình trên đây đã được các tổ chức UNAIDS, FHI tài trợ tại một số thành phố lớn và thu hút được sự quan tâm của chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể và đặc biệt sự tham gia tích cực của nhóm MSM trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ thơ ca, trình diễn thời trang về phòng chống HIV/AIDS. Nhờ vậy sự hiểu biết và hành vi của họ về phòng chống AIDS cũng được cải thiện rõ rệt. Các câu lạc bộ sinh hoạt của MSM ngày càng đông hơn, họ giúp đỡ nhau học tập, tìm hiểu bệnh tật, động viên nhau chung sống đoàn kết và chia sẻ hơn nữa.
(Theo Sức khoẻ đời sống)
Xuất hiện từ bao giờ, tại sao lại có những người đồng giới yêu nhau và không thể yêu những người khác giới? Sử sách cũng đã đề cập tới vấn đề này từ lâu, từ khi loài người xuất hiện, người ta cho rằng đồng tính xuất hiện một cách tự nhiên như những hiện tượng thông thường mưa, gió, mặt trăng, mặt trời, bệnh tật..., thậm chí họ coi đó như là một bệnh ung thư, hay AIDS không thể cứu chữa được. Trên thế giới rất nhiều nước đã coi đồng tính như là một hiện tượng tự nhiên bẩm sinh như vốn có của nó, nhưng cũng không ít các quốc gia coi đồng tính là một hiện tượng bất thường của xã hội, những người đồng tính phải sống lén lút, họ bị ném đá, bỏ tù, bị coi như là tội phạm khi bị phát hiện có quan hệ đồng tính.
Tiếp cận với những người đồng tính quả thực là không dễ dàng gì, trong xã hội vẫn còn nhiều người ngạc nhiên khi gặp một người hơi khác bình thường, họ ngoái lại nhìn rồi ôm miệng cười khúc khích khi thấy một người đàn ông sơn móng tay, móng chân, ăn mặc giống con gái đi ngoài đường. Còn những người đang sống trong cảnh đồng tính thì sao? Họ có mặc cảm, có tự ti hay không, trong xu hướng hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm sai lệch của cộng đồng về họ nên việc kỳ thị phân biệt đối xử là không tránh khỏi. Họ sống và hoạt động theo cộng đồng của họ, kín đáo không muốn ai để ý theo dõi đến mình.
Theo điều tra về quan hệ đồng tính nam giới (MSM) tại Thái Lan năm 1991 có 3% nam giới có ít nhất một bạn tình là nam giới, đến năm 1993 tăng lên tới 16%. Điều tra quốc gia năm 2000 tại Hồng Kông có 4% nam giới đã từng quan hệ tình dục (QHTD) đồng giới. Tại Philippines, điều tra năm 2000 có 3% nam giới có QHTD theo đường miệng với nam giới khác. Tại Ấn Độ, điều tra hộ gia đình năm 2004 có 6% nam giới có QHTD với một nam giới khác. Lào và Campuchia có tới trên 10.000 nam giới có QHTD đồng giới trong đó trên 80% QHTD không bảo vệ. Ở Việt Nam, theo báo cáo thống kê tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh thì tỷ lệ những người MSM không phải là một con số nhỏ. Năm 2004 ở TP. Hồ Chí Minh có tới 27% MSM bị nhiễm virut viêm gan B, 8% trong số những người này bị nhiễm HIV. Các MSM thường QHTD qua đường hậu môn và đường miệng không bảo vệ bên cạnh thói quen nhậu nhẹt và sử dụng ma túy. QHTD đường hậu môn với việc không dùng bao cao su (BCS) hoặc dùng BCS không thường xuyên. QHTD đường miệng: không dùng BCS, xuất tinh vào miệng và nuốt tinh dịch... Nhiều người trong số họ thiếu hiểu biết về HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục như: không nhận thức được nguy cơ nhiễm HIV của bản thân, nhận thức sai về nguy cơ liên quan đến thực hành tình dục và bạn tình. Bên cạnh đó còn nhiều rào cản về sử dụng BCS như: giảm khoái cảm, cỡ to, mùi khó chịu, không có sẵn khi cần, ngại mua và mang sẵn trong túi, không dám đề nghị bạn tình sử dụng và say rượu. Các báo cáo nghiên cứu trên đây cho thấy rõ nguy cơ lây nhiễm HIV của MSM ở Việt Nam là đáng báo động. MSM cần phải được quan tâm như một nhóm nguy cơ cao để lập chương trình và cung cấp dịch vụ. Các dịch vụ về phòng chống HIV/AIDS cần phải được thực hiện “càng sớm càng tốt”. Tập trung cho nhóm đối tượng này để truyền thông giáo dục như thế nào, nên lựa chọn ưu tiên gì để tiếp cận họ? Những ưu tiên hàng đầu tại Việt Nam trong thời gian tới nhằm mục đích giảm tỷ lệ hiện mắc HIV/AIDS trong nhóm MSM, giảm tác động của HIV/AIDS lên nhóm MSM nhiễm HIV/AIDS và gia đình của họ thông qua Chương trình truyền thông thay đổi hành vi thông qua giáo dục đồng đẳng nhằm giảm thiểu nguy cơ cho MSM, bao gồm các hoạt động chủ yếu: hoạt động tiếp cận cộng đồng, hoạt động và dịch vụ tại câu lạc bộ, phân phối tài liệu/sản phẩm truyền thông, dịch vụ tư vấn tâm lý và sức khỏe tình dục, quảng bá dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện, quảng bá chất bôi trơn tan trong nước bằng các sản phẩm thích hợp, tập huấn cho tiếp cận viên cộng đồng và nhân viên tiếp thị về bao cao su và chất bôi trơn, tập huấn về hướng dẫn quản lý lâm sàng sức khỏe tình dục nam giới cho thầy thuốc da liễu, củng cố và tăng cường mạng lưới chuyển gửi với các cơ sở dịch vụ lây truyền theo đường tình dục (STI), chăm sóc và điều trị HIV, cung cấp thông tin về các cơ sở dịch vụ thân thiện cho nhóm MSM...
Những chương trình trên đây đã được các tổ chức UNAIDS, FHI tài trợ tại một số thành phố lớn và thu hút được sự quan tâm của chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể và đặc biệt sự tham gia tích cực của nhóm MSM trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ thơ ca, trình diễn thời trang về phòng chống HIV/AIDS. Nhờ vậy sự hiểu biết và hành vi của họ về phòng chống AIDS cũng được cải thiện rõ rệt. Các câu lạc bộ sinh hoạt của MSM ngày càng đông hơn, họ giúp đỡ nhau học tập, tìm hiểu bệnh tật, động viên nhau chung sống đoàn kết và chia sẻ hơn nữa.
(Theo Sức khoẻ đời sống)