PDA

View Full Version : AIDS có liên quan đến nạn diệt chủng không?



ca_va
22-01-2006, 05:47 AM
http://www.hiv.com.vn/Upload/796.jpgAIDS có liên quan đến nạn diệt chủng không?

Xin cảm ơn tác giả bài nghiên cứu tỉ mỉ, chi tiết cùng dịch giả. Nguồn sưu tầm từ trang HIV.com.vn tiết lộ những trò xảo quyệt trong công tác nghiên cứu HIV/AIDS và đặt ra nghi vấn về âm mưu diệt chủng, đặc biệt nhắm vào người đồng tính.

Âm mưu duyệt chủng bằng HIV/AIDS? Kỳ 1: Nạn diệt chủng
hiv.com.vn - 00:00' 01/09/2005 (GMT+7)

Tác giả bài viết này là Alan Cantwell, một chuyên gia về bệnh da liễu và là một nhà nghiên cứu khoa học nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực ung thư và sinh vật học về AIDS. Ông tốt nghiệp trường y khoa New York và nghiên cứu về da liễu ở bệnh viện Quản trị các cựu binh ở Long Beach, California. Tiến sĩ Cantwell là tác giả của hơn 30 bài báo đã công bố về ung thư, AIDS và các bệnh miễn dịch khác, đã được đăng trong các tạp san y học chuyên sâu hàng đầu thế giới và ở Mỹ. Ông là tác giả của những cuốn sách : AIDS - Sự bí ẩn và giải pháp; AIDS và các bác sĩ thần chết ; Cuộc truy tìm nguồn gốc bệnh AIDS; Vi khuẩn ung thu. Tiến sĩ Cantwell sinh năm 1934 ở thành phố New York, giờ đây ông đang sống ở Los Angeles.

1. Nạn diệt chủng

Đôi khi tôi ước gì có thể trở lại cái thời mà tôi không biết tí gì về nguồn gốc của AIDS do con người tạo ra. Trước khi có nạn dịch này, tôi lạc quan và hy vọng hơn về tương lai. Tôi đã tin vào nững lý tưởng cao quý nhất của y học, và tôi tin cậy các đồng nghiệp của mình làm điều đúng đắn. Tôi đã không Bao giờ nghĩ rằng những kẻ đồng tính như tôi có thể là mục tiêu của cái chết trong một cuộc tàn sát kiểu phát xít Đức, trong cuộc giết người hàng loạt kiểu mới với những vũ khí sinh học do con người tạo ra. Nhưng cái thời giản đơn đã qua đó là sự viễn vông của một quá khứ không bao giờ trở lại.

Giờ đây toi nghiêm túc hơn, hướng nội hơn. Giữa nhiều cái chết của bạn bè và những người tôi yêu, tôi tranh đấu để phát hiện ý nghĩa của cuộc sống trong một thế giới đã trở nên điên rồ. Tôi cố gắng cắt nghĩa cuộc tàn sát sinh học mới – và chương trình hủy diệt chủng bí mật với bản chất thực độc ác, mà ngay cả Chúa cũng dường như bất lực sau khi nó xuất hiện.

Cuộc thử nghiệm sinh học AIDS là tái diễn những sự khủng khiếp trong y học của bọn phát xít Đức, nhưng ít người nhận ra rằng một cuộc tàn sát khác do con người tạo ra đang diễn ra trước mắt chúng ta.

Những người đồng tính Đức, cùng với những người Do Thái, là những nạn nhân đầu tiên của Hít le. Một nửa thế kỷ sau, những người đồng tính và những “kẻ kong được mong muốn” khác, một lần nữa lại là mục tiêu của cuộc tàn sát.

Trong vài năm, tôi đã thấy rõ âm mưu diệt chủng chống lại những người đồng tính. Khi tôi quan sát thấy quá nhiều người đàn ông đồng tính chết bởi những cái chết đau đớn từ từ, tôi vẫn hoàn toàn không ý thức được rằn họ đang bị giết một cách có hệ thống, y như hàng triệu người bị bọn Quốc xã Đức hủy diệt.

Đầu tiên, người ta gọi những người đồng tính là các nạn nhân – từ này hình như thích hợp cho những người không may bị mắc phải một loại vi rút bí ẩn chết người đến từ châu Phi. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó người ta thấy việc gọi họ là “các nạn nhân” là không đúng về mặt chính trị. Người ta muốn gọi họ là “PWAs”, nghĩa là “những người có AIDS” (persons with AIDS) hơn. Điều mỉa may đáng buồn là chính những người đàn ông đồng tính lại chọn tên gọi này, vì họ tin rằng nhãn hiệu nạn nhân có hàm ý quá tiêu cực, và cản trở cuộc đấu tranh của họ nhằm chữa trị mình với những ý nghĩ tích cực. Dẫu sao thì vẫn đúng về mặt chính trị khi gọi một số người có AIDS là các nạn nhân, đặc biệt nếu đó là những người tính dục khác giới hay là những cháu bé “vô tội” có AIDS do truyền máu.

Những người đồng tính ít khi được coi là vô tội, người ta dễ dàng tin rằng những người đồng tính đang chết vì lối sóng chung chạ bừa bãi và tội lỗi của họ, hơn là tin rằng họ bị giết bằng công nghệ sinh học gen mới.

Giống như những người Do Thái ở nước Đức phát xít, những người đồng tính ở Mỹ nhanh chóng trở thành nạn nhân của bộ máy tuyên truyền của chính phủ. Thật là đơn giản đổ lỗi cho việc lan truyền bệnh dịch mới là do quan hệ tình dục qua dường hậu môn và sử dụng các loại ma túy nhân tạo. Mọi người chấp nhận ý tưởng là những đồng tính đã hành động cuồng loạn trong những năm 1970 và giờ đây họ đang phải trả giá cho sự truỵ lạc của mình bằng cách bị nhiễm một loại vi rút đến từ châu Phi được đưa vào các khu dân đồng tính một cách bí ẩn.

Vào tháng 4 năm 1984, tiến sĩ Robert Gallo chính thức công bố phát hiện của ông về vi rút HIV cho giới khoa học biết. Nhà nghiên cứu AIDS hàng đầu hanh nhảu giải thích rằng loại vi rút mới đó bắt nguòn từ châu Phi. Có lẽ loại vi rút lạ này đã ở đó nhiều thập kỷ, hay nhiều thế kỷ, thậm chí hàng ngàn năm. Không ai có thể biết chắc nó đã ẩn núp ở châu Phi bao lâu. Gallo và các chuyên gia vi rút hàng đầu khác khẳng định rằng loại vi rút đó bắt nguồn từ loài khỉ xanh châu Phi. Trong một tai biến bất thường của tự nhiên, loại vi rút bắt nguồn từ loài khỉ xanh đó nhiễm sang hàng triệu người da đen châu Phi.

Thế thì AIDS đã đến châu Mỹ như thế nào ? Các chuyên gia về AIDS đưa ra giả thuyết là những người Haiti làm việc ở châu Phi đã mang vi rút trở về Haiti. Những người đàn ông đồng tính ở Manhattan chung chạ bừa bãi trong khi đi nghỉ ở cảng Hoàng tử đã có hành động tình dục qua đường hậu môn với những người đàn ông Haiti và mang vi rút châu Phi đó trở về thành phố New York.

Các tiến sĩ y khoa sẵn sàng thừa nhận nguồn gốc châu Phi của AIDS, và các quan chức về AIDS của chính phủ thì đảm bảo rằng giới truyền thông sẽ nhắc đi nhắc lại câu chuyện đó cho tới khi nó trở thành sự thực đáng tin. Không ai nghi vấn về câu chuyện chính thức của tiến sĩ Gallo.

Khi nhìn lại những năm đầu của bệnh dịch này, tôi thấy thật dễ lừa bịp những người đồng tính, các bác sĩ, giới trí thức và truyền thông đại chúng. Các chuyên gia vi rút hàng đầu của chính phủ đều nhất trí với nhau về nguồn gốc châu Phi của AIDS và thuyết khỉ xanh. Người ta không để ý đến số hiếm hoi các nhà khoa học nghi ngờ câu chuyện đó.

Nhưng điều may mắn nhất là câu chuyện khỉ xanh từ hàng chục năm vẫn chỉ là lý thuyết chứ không trở thành sự thật. Tuy nhiên, tranh cãi lại câu chuyện về loài khỉ này là điều cực kỳ khó khăn. Các chuyên gia vi rút sử dụng biệt ngữ khoa học và ngôn ngữ kỹ thuật để biện minh cho những điều họ tin tưởng. Kết quả là ít người ngoại đạo khoa vi rút học có thể hiểu các lý lẽ khoa học làm cơ sở cho thuyết khỉ xanh về AIDS.

Đầu tiên, tiến sĩ Gallo đặt tên cho vi rút HIV của mình là “vi rút tế bào T bệnh bạch cầu lymphô”. Tuy nhiên, các chuyên gia vi rút muốn cam đoan với công chúng rằng bệnh mới của người đồng tính không có liên quan gì đến ung thư. Và bệnh bạch cầu cũng như u lymphô là những dạng ung thư. AIDS rõ ràng là bệnh truyền nhiễm và giới thẩm quyền về ung thư luôn luôn khẳng định rằng ung thư không lây. Vì những lý do đó, người ta đã mau chóng đặt lại tên cho vi rút HIV là “vi rút 3 nuôi bạch huyết tế bào T của người” (HTLV-3), như vậy che lấp nguồn gốc của nó từ một vi rút ung thư. Sau vài năm được một uỷ ban các nhà vi sinh vật học nghiên cứu, vi rút HTLV-3 được phân loại và đặt tên lại lần cuối cùng. Vi rút khỉ ban đầu được đưa ra khỏi “họ động vật” của các vi rút. Nó được đặt tên lại là “vi rút gây suy giảm miễn dịch người”, hay vắn tắt là HIV.

Các nhà dịch tễ học của chính phủ (các thầy thuốc và những nhà chuyên môn khác được đào tạo trong các ngành bệnh dịch) đều “tán thành” với cách phân loại và gọi tên của các chuyên gia vi rút. Các nhà dịch tễ học thoạt tiên đã phát hiện những trường hợp “bệnh dịch của người đồng tính” trong khu vực dân đồng tính ở New York, Los Angeles và San Francisco. Một số người đàn ông mắc bệnh có nững khối u, ung thư da màu tím y như các u ác tính trên da thường thấy ở những người da đen ở Trung Phi. Mối liên hệ như vậy giữa u ác tính trên da của người đồng tính và u ác tính trên da của người châu Phi được giải thích như là chứng cớ nữa cho rằng căn bệnh mới của người đồng tính đến từ châu Phi.

Nguồn gốc châu Phi của AIDS ở Mỹ được giới y học và quảng đại công chúng sẵn sàng chấp nhận. Ai có thể tranh cãi với các “sự thực” do các chuyên gia vi rút và dịch tễ học hàng đầu về AIDS của chính phủ đưa ra ? Như vậy, các “sự thực” về thuyết khỉ xanh đã được công nhận.

Tôi không bao giờ tin vào quan niệm cho rằng thuyết khỉ xanh là mang tính kỳ thị và phân biệt chủng tộc.

Một số ít các bạn đồng tính của tôi cũng không bao giờ tin câu chuyện đó của chính phủ Mỹ. Họ cưowng quyết cho rằng AIDS là một âm mưu của chính phủ Mỹ nhằm loại trừ dân đồng tính. Tôi đã từng nghĩ quan niệm đó là chứng hoang tưởng.

Đầu những năm 1980, những người đồng tính nam và đồng tính nữ đã trở thành một thiểu số chính trị ngày càng mạnh và có tính chiến đấu. Những người bạn hoang tưởng của tôi không tin rằng việc AIDS xuất hiện đầu tiên vào lúc những người đồng tính đòi quyền công dân chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Các nhóm chính trị, đặc biệt là các nhóm Cơ đốc giáo chính thống cánh hữu kiên quyết dập tắt cuộc nổi dậy của những người đồng tính. Nhiều người Mỹ mong ước những người đồng tính sẽ quay trở về chổ khuất, một số người thậm chí muốn họ sẽ biến mất vĩnh viễn. Các bạn tôi biện luận rằng AIDS là một phương cách hoàn hảo để chính phủ giết sạch bọn “đàn ông đồng tính”.

Tôi không để ý gì đến những điều ầm ỷ về nạn diệt chủng bí mật giới đồng tính. Là một thầy thuốc và một nhà nghiên cứu ung thư, trong đầu tôi không hề có ý tưởng cho rằng AIDS là một âm mưu chống lại những người đồng tính. Các thực tiễn khoa học là rõ ràng, hoặc là tôi đã nghĩ vậy. Vi rút HIV đươc phát hiện năm 1984; và ca AIDS đầu tiên xuất hiện năm 1979. Làm thế nào mà những người đồng tính có thể bị nhiễm một cách có dụng ý loại vi rút mà chưa được biết vào năm 1979 ? Ý tưởng đó thật là ngu ngốc.

Mùa hè năm 1986, lô gích của tôi bị thách thức khi tôi gặp tiến sĩ Robert Strecker. Người ta đồn rằng ông đang báo cho mọi người biết rằng AIDS là một căn bệnh do con người tạo ra bằng một vi rút công nghệ gen. Thật là không tin được một thầy thuốc lại tung ra tin rồ dại đó. Tuy nhiên, ý tưởng đó cũng kích động tôi và tôi tò mò đến gặp ông ta.

ca_va
22-01-2006, 05:48 AM
Strecker có những chứng chỉ không chê vào đâu được. Ông đã từng là bác sĩ nội trú thực tập ở Los Angeles, có bằng tiến sĩ dược học, và cũng được đào tạo về bệnh lý học. Tôi thấy ông là một người thông minh, hiểu biết, và hoàn toàn biết rõ các sách báo y học và khoa học về AIDS. Với lô gích và chứng cớ hỗ trợ cho tư tưởng và lý thuyết của mình, các phân tích của Strecker chứng minh AIDS như một cuộc chiến tranh sinh học khiến ta rùng mình. Và lý lẽ của ông về nguồn gốc của AIDS dễ hiểu hơn là kịch bản khỉ xanh của Chính phủ Mỹ.

Lần gặp đầu tiên, tôi hỏi ông tại sao các bạn đồng tính của tôi đang chết nhiều như vậy. Tại sao vi rút HIV lại xâm nhập vào giới đồng tính ?

- “Thật đơn giản, người ta đưa nó vào đấy”, Strecker nói.

- “Ông định nói sao ? Tại sao họ có thể làm như vậy ?”, tôi hỏi lại.

- “Những người đồng tính đã bị AIDS trong các cuộc thử nghiệm vắc xin viêm gan B từ cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980. An hãy thử tự đi mà kiểm tra và anh sẽ thấy đó là thật”

- “Thế còn AIDS ở châu Phi ?”

Strecker khẳng định rằng AIDS ở châu Phi là kết quả của chương trình vắc xin diệt bệnh đậu mùa do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tiến hành trong những năm 1970.

Những lời buộc tội của Strecker thực đáng sửng sốt. Có phải AIDS đã được đưa vào dân đồng tính trong cuộc thử nghiệm vắc xin viêm gan B một cách có chủ đích ? Có phải mối liên hệ giữa cuộc thử nghiệm ở dân đồng tính và “bệnh dịch của người đồng tính” đã bị che giấu ? Có phải những người đàn ông đồng tính là nạn nhân của một âm mưu ma quỷ của các nà khoa học cấp nhà nước nhằm chống lại họ ?

Đầu óc tôi quay cuồng. Tôi tức giận, tuyệt vọng và kinh hãi về những hàm ý trong các ý kiến của tiến sĩ Strecker.

Tôi lờ mờ nhớ lại cuộc thử nghiệm vắc xin viêm gan B mà người ta sử dụng những người đồng tính như những con chuột thí nghiệm ở thành phố New York, San Francisco và Los Angeles. Nhưng tôi hoàn toàn không biết gì về nững chi tiết và kết quả của cuộc thử nghiệm đó.

Quan niệm rằng AIDS là một hoạt động diệt chủng lén lút chống lại những người đồng tính là không chấp nhận được, quá đau đớn đến mức không thể nào điều tra, quá ghê tởm đến mức không thể tin là thật. Nhưng tôi không thể bỏ qua những lời tố cáo của tiến sĩ Strecker. Là một thầy thuốc, là một nhà khoa học, là một người đồng tính tôi phải bóc trần sự thật. Không biết thì không thể tha thứ được.

Tôi đã quyết tâm chứng minh rằng tiến sĩ Strecker sai, nhưng không thể làm được. Sau nhiều tuần lễ đọc, nghiên cứu và kết nối các báo cáo đã công bố có trong thư viện y học, tôi đã bị thuyết phục rằng ông ta đúng. Niềm tin của tiến sĩ Strecker cho rằng AIDS do con người tạo ra là lời giải thích khả dĩ nhất về nguồn gốc của AIDS. Nghiên cứu của tôi chỉ rõ rằng AIDS ở Mỹ có gốc rễ của nó, không phải ở châu Phi, mà ở những thành phố có dân đồng tính đã bị tiêm trong một cuộc thử nghiệm chết người.

Những người đồng tính không bao giờ nhận ra rằng họ là nạn nhân của một âm mưu y sinh học bí mật nhằm chống lại họ. Họ dễ dàng chấp nhận quan niệm của những người có thẩm quyền y học rằng người đồng tính đã bị AIDS vì lối sống chung chạ bừa bãi và truỵ lạc của họ.

Khi nghiên cứu ở thư viện, tôi đã gặp vài báo cáo gợi ra mối liên hệ giữa thử nghiệm vắc xin viêm gan và sự bùng phát của các ca AIDS ở New York, San Francisco và Los Angeles. Tuy nhiên, các chuyên gia về AIDS đã mau chóng dập tắt các mối liên hệ đó, coi như là không thật và gượng gạo. Từ đó về sau, các báo cáo về sự liên kết giữa cuộc thử nghiệm người đồng tính và AIDS không còn xuất hiện trong sách báo y học nữa.

Năm 1998, cuốn sách của tôi AIDS và các bác sĩ thần chết : Cuộc điều tra về nguồn gốc bệnh dịch AIDS được xuất bản. Cuốn sách là các kết quả của hai năm nghiên cứu về thuyết con người tạo ra AIDS.

Phản ứng lại ấn phẩm đó thật kỳ lạ. Tôi cho rằng cuốn sách sẽ gây ra một cuộc tranh cãi sôi nổi, nhưng có rất ít giới truyền thông quan tâm đến ý kiến cho rằng AIDS là một cuộc thử nghiệm sinh học lén lút với loại vi rút được tạo ra trong phòng thí nghiệm. Cả giới y học và khoa học hoàn toàn quên đi cuốn sách đó.

Mặc dầu vậy, tôi tin rằng những cái chết hàng loạt của những người đồng tính Mỹ không phải là tai biến của tự nhiên. Trong thế kỷ 20, nhiều chính phủ trên thế giới đã thành công trong việc hoàn chỉnh các chương trình diệt chủng có hiệu quả phi thường hủy diệt hàng triệu người “không được mong muốn”. Chương trình đó một lần nữa lại xảy ra. Tôi tin chắc điều này.

Kỳ 2: Cuộc thử nghiệm với người đồng tính
(Bằng cách nào mà người ta đã thành công trong việc tàn sát phần lớn dân Do Thái ở châu Âu ? Quyết định tiêu diệt dân Do Thái ở châu Âu đã được bí mật ra lệnh ở cấp cao nhất của chính phủ Đức lúc bấy giờ. Thông qua phương tiện tuyên truyền tinh vi, sự kháng cự tự nhiên của công chúng đối với nạn diệt chủng đã bị vô hiệu hóa, cho nên các cuộc giết người hàng loạt đã được tiến hành mà không bị cản trở..
Vậy AIDS có phải là một chương trình diệt chủng lén lút không ? Những người đồng tính Mỹ có phải là nạn nhân của một chương trình tiêu diệt do chính phủ bảo trợ, giống như chương trình của bọn phát xít hay không ?)

ca_va
22-01-2006, 05:53 AM
Âm mưu diệt chủng bằng HIV/AIDS - Kỳ 2: Cuộc thử nghiệm với người đồng tính
hiv.com.vn - 00:00' 05/09/2005 (GMT+7)

AIDS có phải là một chương trình diệt chủng lén lút không ? Những người đồng tính Mỹ có phải là nạn nhân của một chương trình tiêu diệt do chính phủ bảo trợ, giống như chương trình của bọn phát xít hay không ?

Bằng cách nào mà người ta đã thành công trong việc tàn sát phần lớn dân Do Thái ở châu Âu ? Quyết định tiêu diệt dân Do Thái ở châu Âu đã được bí mật ra lệnh ở cấp cao nhất của chính phủ Đức lúc bấy giờ. Thông qua phương tiện tuyên truyền tinh vi, sự kháng cự tự nhiên của công chúng đối với nạn diệt chủng đã bị vô hiệu hóa, cho nên các cuộc giết người hàng loạt đã được tiến hành mà không bị cản trở.

Trong cuốn Tâm lý diệt chủng, Robert Jay Lipton và Eric Markusen đã nghiên cứu các cơ chế tâm lý trong sự tàn bạo của bọn phát xít. “Cuộc diệt chủng cần có những kẻ chuyên nghiệp được đào tạo kỹ càng. Chúng cần thiết cho công nghệ đó, tổ chức đó và cơ sở hợp lẽ của nó. Trong trường hợp bọn phát xít, tất cả các tầng lớp – các thầy thuốc, nhà khoa học, kỹ sư, lãnh đạo quân sự, luật sư, giáo sĩ, giáo sư đại học và giáo viên phổ thông - đều được động viên một cách có hiệu quả vào đề án theo hệ tư tưởng đó”. Các tác giả nói thêm : “Một quốc gia muốn tiến hành cuộc diệt chủng phải tạo ra những tổ chức mới và thay đổi các tổ chức hiện có”.

Bọn thủ phạm phát xít là những tên đã được lựa chọn cẩn thận từ những kẻ chỉ biết vâng lời và trung thành. Những người Do Thái sẽ không bao giờ nhận ra rằng bọn phát xít Đức nghiêm túc thừa nhận đã tiêu diệt tất cả dân Do Thái như những kẻ thù của chế độ Quốc xã. Người Do Thái có tâm lý muốn chối bỏ ý nghĩ không thể hiểu được là mỗi người trong bọn họ đã bị buộc phải chết.

Đối với những người đủ mẫn cảm để nhận ra được điều này, thì những cái chết hàng loạt vì AIDS của người đồng tính tương tự như những cái chết hàng loạt của người Do Thái trong cuộc tàn sát của bọn Quốc xã. Các nhà khoa học đổ lỗi cho các con khỉ xanh và dân da đen châu Phi, công chúng thì đổ lỗi cho lối sống của người đồng tính, còn dân đồng tính thì tự đổ lỗi cho nhau và chính phủ Mỹ thì ít có hành động nào để ngăn số người đồng tính chết vì AIDS đang mỗi ngày một tăng. Trong nhiệm kỳ đầu làm tổng thống, Ronald Reagan chưa từng một lần nhắc đến AIDS giữa công chúng.

Dưới sự lãnh đạo của Adofl Hitler, bọn Quốc xã, trong chương trình diệt chủng của chúng, đầu tiên đã tìm sự hợp tác của các thầy thuốc Đức. Khoảng một nửa trong số họ là thành viên của đảng Quốc xã. Các bác sĩ đó là các nhà kiến trúc và thủ phạm tạo ra Chương trình “T-4” – cái chết cưỡng bức êm ái - trước chiến tranh của Hitler, dẫn tới cái chết của một trăm ngàn người Đức tàn tật về thể chất và tâm thần, nhằm “thanh lọc” dân Đức.

Sau đó, Hitler tìm kiếm sự ủng hộ của quần chúng đối với sứ mệnh của hắn. Các cuộc tập hợp chính trị đã được biến thành những cảnh tượng tập hợp công chúng đông đảo chưa từng thấy từ thời La Mã cổ đại. Những người Đức đã bị thôi miên để tin rằng họ là một dân tộc nửa thần thánh. Những người không dễ bị ảnh hưởng của chiến dịch tuyên truyền về chủng tộc siêu việt thì bị nói cạnh khóe, gây chuyện, đe dọa, ép buộc, tống giam và cuối cùng bị thủ tiêu. Làm như vậy, Hitler đã lôi kéo nhân dân vào một cơn cuồng loạn giết người hàng loạt chống lại các kẻ thù của họ - những kẻ thù thực và tưởng tượng.

Như họ đã từng bị gán tội trong hai ngàn năm, những người Do Thái lại bị gọi là những kẻ giết Chúa Giêsu. Họ là những người cộng sản quyết tâm phá hoại dân tộc Đức, bỏ tiền cho bọn ăn bám hút máu nhân dân Đức. Dân Do Thái là khối u ung thư cần phải cắt bỏ khỏi nước Đức bệnh tật. Dân Do Thái là vi trùng phải thanh lọc khỏi cơ thể nước Đức.

Sứ mệnh của Hitler là loại bỏ dân Do Thái khỏi nước Đức, là trở thành vị cứu tinh. Trong cuốn sách Cuộc chiến đấu của tôi, hắn viết : “Dân Do Thái ngày nay là là kẻ kích động lớn nhất cho sự phá hoại oàn toàn nước Đức”. Hắn không muốn thấy nước Đức trở thành nạn nhân của “học thuyết mác xít kiểu Do Thái”. Theo quan điểm của hắn, nước Đức chỉ có thể thoát khỏi sự đe dọa của Cộng sản – Do Thái – Nga bằng cách trở thành một cộng đồng những người thống nhất về thể chất và tinh thần. Trong cộng đồng đó, người Do Thái, với cung cách ngoại lai, với tôn giáo và chủng tộc riêng, sẽ không có chổ đứng. Hắn kết luận “Tôi tin rằng tôi đang hành động phù hơp với ý chí của Đấng tạo hóa vạn năng, bằng cách bảo vệ mình chống lại bọn Do Thái, tôi đang chiến đấu cho công việc của Chúa”.

Cùng với những người Do Thái, cá kẻ thù khác cũng phải bị tiêu diệt : dân Gypxi, những người đồng tính, mại dâm, nghiện rượu, bọn ăn mày, bọn lêu lỗng, nhân chứng Giêhôva (Thành viên của một tổ chức tôn giáo tin rằng ngày tận thế đã đến gần và mọi người sẽ bị sa xuống địa ngục trừ các thành viên của tổ chức đó - ND), hội viên hội Tam Điểm, các phần tử tội phạm và các cá nhân lệch lạc về mặt di truyền và chính trị làm vẩn đục sự thuần khiết của chế độ Quốc xã.

Trong những năm 1970, rất nhiều những người đàn ông đồng tính da trắng bộc lộ khuynh hướng tình dục một cách công khai. Bọn cuồng tín, phân biệt chủng tộc và bọn cực đoan da trắng phản ứng lại bằng cách liệt thêm “Bọn đàn ông đồng tính” vào hàng đầu danh sách những người mà chúng căm thù. Khi cuộc thử nghiệm viêm gan B bắt đầu năm 1978, những người đàn ông đồng tính có lẽ là thiểu số bị căm thù nhất ở Mỹ, bị khinh miệt hơn dân da đen và Do Thái.

Một thầy thuốc đồng tính da đen một lần đã bảo tôi rằng những người đàn ông đồng tính da trắng không hiểu hết những hậu quả chính trị và xã hội của việc công khai mình là người đồng tính. Khi những người da trắng tự nhận họ là đồng tính, họ đã mất mọi quyền lợi và sự bảo vệ đối với những người đàn ông da trắng có tính dục khác giới trong xã hội Mỹ. Người bác sĩ đó tin rằng bằng cách công khai từ bỏ tính dục khác giới, những đồng tính nam đã đặt họ vào một tình huống nguy hiểm. Ông dự đoán chính phủ sẽ đối xử tồi tệ với những người đàn ông đồng tính. Cẳng mấy chốc, những người đàn ông đồng tính sẽ biết thế nào là một người da đen ở Mỹ. Ông nghĩ, thậm chí còn tồi tệ hơn đối với các đồng tính nam, vì mọi người trong xã hội, kể cả người da đen và người Do Thái, đều căm ghét giới đồng tính nam.

Khi các cánh cửa bí mật được mở, Chính phủ Mỹ giật mình vì sức mạnh chính trị và những đòi hỏi xã hội của phong trào nhân quyền mới của các đồng tính nam và đồng tính nữ. Sau nhiều thế kỷ bị áp bức, hàng ngàn người đồng tính đang trở nên yên tâm hơn về bản năng giới tính của họ. Họ cảm thấy họ là những con người cũng tốt như ai, họ uốn bình đẳng với những người có tính dục khác giới. Nhiều người Mỹ tính dục bình thường không thích bản năng giới tính trơ trẽn của cái giống đồng tính mới ấy. Yêu cầu cải cách xã hội của những người đồng tính nam và đồng tính nữ đã đặc biệt gây tức giận giới tôn giáo cánh hữu.

Trong một thế kỷ, những người đồng tính đã bị phân loại sai lầm như những kẻ rối loạn tâm lý. Dưới áp lực của những nhà hoạt động của giới đồng tính, Hội Tâm thần học Mỹ cuối cùng cũng đã loại những người đồng tính ra khỏi danh sách hững người bị bệnh tâm thần vào đầu những năm 1970. Tuy nhiên, Tổ chức Y tế thế giới vẫn phân loại đồng tính luyến ái như một bệnh tâm thần.


Chẳng bao lâu sau khi tình trạng tâm thần của họ được phân loại, những người đồng tính Mỹ phải đối đầu với vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác. Giờ đây sức khỏe của những người ông đồng tính được giới thẩm quyền y học lưu ý. Theo thống kê y tế của các nhà dịch tễ học cấp nhà nước, cộng đồng đồng tính bị nhiễm bệnh hoa liễu, mức nhiễm đáng sửng sốt nhất là viêm gan B.

Chính các bác sĩ Quốc xã là những người đầu tiên chứng tỏ rằng viêm gan là bệnh truyền nhiễm. Trong các thử nghiệm của họ, các thầy thuốc bắt các tù nhân trong trại tập trung ăn chất tạo ra từ dạ dày của những người đã bị vàng da vì bệnh gan. Khi các tù nhân sau đó bị ốm với chứng vàng da, các bác sĩ xác định rằng viêm gan có nhiều khả năng nhất gây ra bởi một nhân tố lây nhiễm, có lẽ là một loại vi rút.

Trong chiến tranh Thế giới thứ hai, hàng ngàn lính Mỹ tình cờ bị nhiễm viêm gan sau khi bị buộc tiêm chủng vác-xin. Lý do của dịch viêm gan được truy ra là từ các lo vác-xin sốt vàng da bị ô nhiễm. Vác-xin đó một phần được chế tạo từ huyết thanh người bị nhiễm tác nhân truyền viêm gan. Sau khi tiêm vác-xin sốt vàng da, những người lính bị nhiễm viêm gan trong huyết thanh.

Khi chứng minh rằng viêm gan B cũng là một bệnh lây truyền qua đường tình dục, người ta phát hiện ra rằng một nửa số người đồng tính đã bị nhiễm vi rút viêm gan B. Các nhà dịch tể học xác định rằng những người đàn ông đồng tính là một mối đe dọa tiềm tàng về sức khỏe công chúng, không chỉ đối với họ mà cho cả cộng đồng.

Trong nững năm 1970, cách sống chung chạ bừa bãi lan tràn không chỉ trong giới đồng tính mà cả trong những người có tính dục khác giới. Việc các thầy thuốc đồng tính nói về các bệnh "đặc biệt" có thể lây nhiễm cho giới khách hàng đồng tính của họ đã trở thành mốt.

Từ chuyên môn thời thượng là "tình dục đường hậu môn". Nó dường như liên quan đến nhiễm bệnh hoa liễu thường thấy ở dân đồng tính nam : lậu, giang mai, herpes, mụn cóc, ký sinh đường ruột, và đặc biệt là viêm gan. Các bệnh mới như "hội chứng ruột của người đồng tính nam" bắt đầu xuất hiện trong sách báo y học. Một triết lý mới được phổ biến nhấn mạnh rằng các nhu cầu về y tế của người đồng tính nam khác với những người tính dục khác giới. Kết cục là các thủ lĩnh cộng đồng đồng tính gây áp lực với chính phủ Mỹ đòi chăm sóc y tế tốt hơn cho những người đồng tính.

Vì thái độ mới về y tế như thế, đông đảo những người đồng tính hoạt động tình nguyện có tinh thần công dân và lo lắng về sức khỏe đã thử loại vác-xin mới với hy vọng tiêu diệt bệnh viêm gan B trong giới đồng tính.

Công việc chuẩn bị cơ bản cho cuộc thử nghiệm bắt đầu từ năm 1970, khi dự án Y tế cho những người đàn ông đồng tính ở Manhattan cung cấp các mẫu máu để thử nghiệm viêm gan B ở trung tâm Máu thành phố NewYork. Các kết quả thật đáng kinh ngạc ! Cứ một trong hai mẫu máu của đồng tính nam là dương tính. Ngược lại, chỉ 5% mẫu máu của những người ính dục khác giới là dương tính.

Được phát triển tại Viện Merck nghiên cứu trị liệu ở West Point, Pensylvania, vác-xin thử nghiệm thô được thử nghiệm trên các con tinh tinh, loài động vật duy nhất bị nhiễm vi rút viêm gan B của người, sau này vác-xin được thử trên một nhóm nhỏ các trẻ em thiểu năng.

Khi vác-xin thử nghiệm đã sẵn sàng để thử rộng rãi hơn đối với con người, vài "nhóm nguy cơ cao" đã được xem xét. Đó là những người đồng tính nam, những người nghiện ma tuý, những người trưởng thành bị thiểu năng trí tuệ, những người Mỹ gốc Hoa, các thổ dân vùng Alaska, cùng các bệnh nhân và cán bộ y tế của các trung tâm thẩm tách thận. Sau nhiều tranh cãi, các nhà dịch tễ học quyết định rằng những người đồng tính nam trẻ chung chạ bừa bãi sẽ là nhóm tốt nhất để thử hiệu quả của vác-xin.

ca_va
22-01-2006, 05:53 AM
Wolf Szmuness, một thầy thuốc Ba Lan được đào tạo ở Liên Xô, được giao điều hành cuộc thử nghiệm vác-xin viêm gan B tại trung tâm Máu của thành phố New York. Các chi tiết sơ lược về cuộc đời ông xuất hiện trong một bài báo do Aaron Kellner, một đồng nghiệp ở trung tâm đó viết sau khi ông chết.

Szmuness là một người Do Thái sinh ra ở Ba Lan năm 1919. Khi bọn Quốc Xã xâm lược Ba Lan vào mùa hè năm 1939, ông đang là một sinh viên y khoa trẻ. Thời gian Ba Lan bị Đức và Liên Xô chia cắt, Szmuness bi đưa đi Xibêri như một phạm nhân. Toàn bộ gia đình ông ở miền Tây Ba Lan bị bọn Quốc Xã giết trong cuộc tàn sát người Do Thái. Những năm tháng đi đày ở Xibêri là "một thời kỳ dài đen tối mà ông không muốn nhắc đến".

Sau khi được trả tự do vào năm 1946, ông được phép tiếp tục chương trình mà ông học trước đó ở Tomsk, miền Trung nước Nga. Khi còn là một sinh viên, ông đã cưới một phụ nữ Nga. Ông học chuyên về ngành dịch tễ học, và khi vợ ông mắc phải căn bệnh viêm gan nặng, Szmuness quyết định dành cuộc đời mình cho việc nghiên cứu bệnh gan.

Szmuness đến Manhattan với 15 đô la trong túi. Nhờ sự can thiệp của Walsh McDermott, giáo sư y tế cộng đồng tại bệnh viện New York, Szmuness may mắn được làm kỹ thuật viên phòng thí nghiệm tại trung tâm Máu của thành phố New York. Sau vài năm, ông được giao phụ trách một phòng thí nghiệm, và một khoa Dịch tễ học tại trung tâm đã được thành lập cho riêng ông. Một thời gian ngắn sau đó, ông được chỉ định làm giáo sư trường Y tế cộng đồng Columbia.

Vào cuối những năm 1970, ông được tài trợ hàng triệu đô la cho công trình nghiên cứu và ông đã nghiên cứu thành công một cách ấn tượng với công trình nghiên cứu về viêm gan. Giờ đây, ông đã sẵn sàng đảm nhiệm sứ mệnh quan trọng nhất trong đời mình : điều hành cuộc thử nghiệm vác-xin viêm gan B.

Thoạt tiên, Szmuness làm quen với cộng đồng đồng tính nam, và đưa thêm những thầy thuốc và các nhà hoạt động đồng tính vào làm nhân viên của ông. Ông đến khu ở của dân đồng tính, ở đó ông xem xét các bồn tắm, quầy rượu sàn nhảy. Những kẻ đồng tính chung chạ bừa bãi là những con chuột thí nghiệm hoàn hảo. Không nghi ngờ gì nữa, họ sẽ chứng tỏ rằng Szmuness có thể quét sạch viêm gan B khỏi bề mặt trái đất.

Vào cuối những năm 1970, một đội cơ động bắt đầu đi vận động dân đồng tính ở khu làng Greenwich của Manhattan, tìm kiếm những người đồng tính hoạt động. Hơn mười ngàn người đàn ông đã ký kết và hiến mẫu máu cho cuộc thử nghiệm sắp tới của Szmuness.

Szmuness rất cẩn thận lựa chọn những người cuối cùng để thí nghiệm. Ông đòi hỏi những người đàn ông này phải là những người sống chung chạ bừa bãi, càng bừa bãi càng tốt. Ông đang thử một loại vác-xin chống vi rút lây truyền bằng đường tình dục. Do đó, ông không muốn thử nghiệm với với những người đàn ông sống một vợ một chồng hay những người đàn ông chỉ sống với một người tình. Ông cũng muốn thử nghiệm với cả những người đàn ông khỏe mạnh, trẻ trung, có trách nhiệm, thông minh, và nếu là người da trắng thì càng tốt. Những người lưỡng tính sống chung chạ bừa bãi cũng được chấp nhận, nhưng những người đàn ông có tính dục khác giới thì bị loại. Những người được chấp nhận phải có địa chỉ, số điện thoại rõ ràng, và phải sẵn sàng hiến máu trong một thời gian dài.

Thử nghiệm vác-xin viêm gan rất tốn kém và Szmuness không muốn thử nghiệm với những người không muốn hợp tác hoặc không có địa chỉ rõ ràng, gây khó khăn cho cuộc thử nghiệm. Có quá nhiều tiền đặt cược vào cuộc thử nghiệm này. Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC), Viện Y tế Quốc gia (NIH) và Viện quốc gia về Dị ứng và các bệnh truyền nhiễm đều tham gia vào cuộc nghiên cứu, ngoài ra còn có cả các công ty dược phẩm lớn như công ty Merck Sharp Dohme Inc., và Abbort Laboratories.

Trong các cuộc thử nghiệm sơ bộ, thoạt tiên, Szmuness thử vác-xin vào các con tinh tinh. Rồi ông tiến hành thử với hai trăm người đàn ông đồng tính tình nguyện bằng cách tiêm chủng vác-xin cho họ. Trong những tháng trước khi bắt đầu cuộc thử nghiệm chính thức, không có vấn đề gì xảy ra với các con tinh tinh hay những người tình nguyện đó. Szmuness sẵn sàng ấn định thời gian cho cuộc thử nghiệm cuối cùng - một cuộc thử nghiệm sẽ hủy diệt gần hết cộng đồng đồng tính - ở thành phố New York.

Nhóm những người đàn ông đồng tính đầu tiên đã được tiêm chủng vào tháng 11 năm 1978 ở trung tâm Máu của thành phố New York. Cuộc thử nghiệm được tiếp tục co đến tháng 10 năm 1979. Hơn một ngàn người đàn ông từ Manhattan đã được Szmuness tiêm vác-xin.

Tháng 1 năm 1979, vài tháng sau khi Wolf Szmuness bắt đầu cuộc thử nghiệm, những tổn thương da màu tím bắt đầu xuất hiện trên cơ thể những người đàn ông đồng tính da trắng trẻ tuổi ở làng Greenwich. Các bác sĩ không biết chính xác có gì nhầm lẫn đối với những người đàn ông đó. Sau ba mươi tháng, các thầy thuốc ở Manhattan đã phải tiếp nhận hàng chục ca bệnh mới với những đặc điểm chung là tất cả họ đều bị suy giảm miễn dịch, u ác tính trên da, và mắc một loại bệnh về phổi gây chết người nhanh chóng, được gọi là viêm phổi ở pneumocystis carinii. Tất cả họ đều còn rất trẻ, đồng tính, và có lối sống chung chạ bừa bãi. Phần lớn họ là người da trắng. Tất cả đều chết một cách khủng khiếp.
Trong vòng vài năm, AIDS trở thành nguyên nhân hàng đầu gây nên những cái chết của các nam nữ thanh niên ở thành phố New York. Khu vực Big Apple được xem là trung tâm của bệnh dịch với số người mắc AIDS cao nhất ước Mỹ.

Wolf Szmuness vô cùng sung sướng trước thành công to lớn của cuộc thử nghiệm vác-xin viêm gan. Tháng 3 năm 1980, trung tâm Kiểm soát Bệnh tật giám sát các cuộc thử nghiệm người đồng tính ở San Francisco, Los Angeles, Denver, St Louis và Chicago. Vào mùa thu năm 1980, ca AIDS đầu tiên ở Westcoast, San Francisco, xuất hiện ở một nam thanh niên.

Sáu tháng sau, tháng 6 năm 1981, AIDS đã "chính thức" trở thành dịch. Các nhà dịch tễ học và chuyên gia y tế không thể hiểu được tại sao một số lớn nam thanh niên da trắng đồng tính trước đây khỏe mạnh lại liên tục chết một cách bí ẩn ở Manhattan, San Francisco và Los Angeles.

Vào đầu những năm 1980, Szmuness được thưởng nhiều triệu đô la về công trình nghiên cứu của mình, và loại vác-xin viêm gan do ông chế tạo thành công được hoan nghênh như là loại thuốc có ý nghĩa to lớn đối với nhân loại. Ông hợp tác với các cơ quan y tế nổi tiếng của Mỹ : Viện Y tế Quốc gia, Viện Ung thư Quốc gia (NIC), Cơ quan quản lý dược - thực phẩm Hoa Kỳ (FDA), WHO, các khoa Y tế cộng đồng của các trường đại học như Cornell, Yale và Harvard và Viện Hàn lâm Y học Nga. Ông cũng có các quan hệ với Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu Ung thư ở Lyons (Pháp), và kết hợp chặt chẽ với các nước châu Phi. Các quân nhân của quân đội Senegal cũng được Szmuness thuê để lấy các tiêu bản máu cho một trong nhiều cuộc thử nghiệm ở châu Phi.

Tháng 6 năm 1982, Wolf Szmuness chết đột ngột vì ung thư phổi. Tôi không thể tìm được các cáo phó về cái chết của ông trong bất kỳ tập san y học nào, trừ báo cáo của Aaron Kellner.

Kết thúc bản báo cáo về Szmuness và những thành tựu khoa học của ông sau khi ông chết, Aaron Kellner viết : "Ông là người thầy thuốc tiêu biểu nhất của nghề. Phần lớn các thầy thuốc trong cuộc đời sự nghiệp của mình có ảnh hưởng đến sinh mạng của vài trăm hay vài ngàn người. Một số thầy thuốc may mắn có thể có ảnh hương đến sinh mạng của vài triệu người. Hiếm có một người thầy thuốc như Wolf Szmuness được Chúa ban ân huệ có thể tác động đến sinh mạng của nhiều tỷ người - những con người đang sống trên hành tinh này và các thế hệ chưa sinh ra".

Công trình nghiên cứu có ảnh hưởng sâu rộng của Szmuness tại trung tâm Máu tiếp tục tác động tới các lục địa. Hiện nay, thái tử Alfred là người điều phối các chương trình của trung tâm này với WHO, với IARC ở Pháp và với Tổ chức Thống nhất châu Phi. Trung tâm này đã xác định rằng tất cả các hài nhi châu Phi da đen đều "có nguy cơ cao" về viêm gan; và cần được tiêm chủng. Một báo cáo năm 1983, công bố sau cái chết của Szmuness, đưa ra chi tiết của một chương trình thử nghiệm vác-xin viêm gan B mới ở Kangwane mà đối tượng là các hài nhi da đen Nam Phi.

Đa số mọi người không biết đến các cuộc thử nghiệm với người đồng tính diễn ra trước khi xảy ra những cái chết hàng loạt trong các khu ở của dân đồng tính. Nhưng các chi tiết về những cuộc thử nghiệm vác-xin và hiệu quả của chúng đối với sức khỏe của những người đàn ông đồng tính được ghi lại trong các niên giám y học.

Tuy cái chết của Szmuness không kèn không trống, nhưng ông vẫn được tưởng nhớ và tôn vinh bởi một nhóm nhỏ các nhà khoa học xuất sắc - nững người có thẩm quyền y học quốc gia và quốc tế đang điều hành ngành y, và những người tiêu biểu trong số những người được giới truyền thông ưa chuộng. Những người tỏ lòng kính trọng đối với Szmuness bao gồm các nhà khoa học hàng đầu về AIDS và ung thư, hai người đã phát hiện ra vi rút HIV, các nhà nghiên cứu nổi tiếng nhất về thử nghiệm trên động vật, những người đứng đầu các cơ sở y sinh có uy tín nhất ở Mỹ, các giám đốc điều hành các công ty thuốc liên quan đến công nghệ gene, sản xuất vác-xin và nghiên cứu chiến tranh vi trùng.

Ngày 11 tháng 5 năm 1984, một cuộc mít tinh trọng thể đã diễn ra ở điện Capitol (tòa nhà Quốc hội Mỹ) để tôn vinh Wolf Szmuness. Trong số những người tham dự có một nhân vật, đó là tiến sĩ Robert Gallo, người đã công bố việc phát hiện ra vi rút HIV ba tuần lễ trước đó.

Điểm danh sách những người đóng góp và tham gia cuộc hội nghị khác thường được Hội Chữ thập đỏ Mỹ bảo trợ, tôi tự hỏi, không biết điều gì đã thực sự khiến những nhân vật tai to mặt lớn này tập hợp lại để tỏ lòng tôn kính Wolf Szmuness ? Tôi đã sống đủ để nhận ra sự thật chứa đựng trong câu tục ngữ "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã".

Có một mối liên hệ lạ lùng và quái gỡ giữa ung thư và AIDS, giữa việc thử nghiệm trên động vật và chế tạo vi rút bằng công nghệ gene, giữa công nghệ chiến tranh vi trùng và các công ty thuốc, giữa các cuộc thử nghiệm với người đồng tính và AIDS, giữa các chương trình vác-xin và sự nhiễm trùng nguồn cung cấp máu của quốc gia. Tại sao tất cả những con người này từ lĩnh vực khoa học khác nhau lại cùng tham dự các hội nghị cấp cao ấy do Chính phủ Mỹ tổ chức ?

Mặc dầu những người có thẩm quyền về y tế bác bỏ, trên thực tế đã có mối liên hệ giữa cuộc thử nghiệm với những người đồng tính nam của Szmuness và sự bùng phát của dịch AIDS ở các thành phố của nước Mỹ. Đó không phải là sự tưởng tượng của tôi. Và đó không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Càng nghiên cứu kỹ cuộc thử nghiệm viêm gan B thì tôi thấy những mối liên hệ với chiến tranh vi trùng và sự diệt chủng càng trở nên rõ ràng.

Kỳ 3: Máu của người đồng tính

Năm 1986, nhóm của Cladd Stevens làm nghiên cứu thứ hai tiếp theo với 212 người đàn ông đã được tiêm vác-xin thử nghiệm. Kỳ lạ là 6,6% những người đó có xét nghiệm dương tính trên các mẫu máu lấy trong thời kỳ tháng 11 năm 1976 và tháng 10 năm 1979. Đến năm 1981, trên 20% số đàn ông đó có kết quả xét nghiệm dương tính, năm 1984 (cuối thời kỳ nghiên cứu) trên 40% được xét nghiệm dương tính. Phần lớn những người đàn ông có kết quả dương tính HIV bị suy giảm miễn dịch

ca_va
22-01-2006, 05:56 AM
Âm mưu diệt chủng bằng AIDS. Phần 3: Máu người đồng tính
hiv.com.vn - 00:00' 05/09/2005 (GMT+7)

Năm 1991, chủ nhiệm một kênh truyền hình nổi tiếng ở New York hẹn gặp tôi để tìm hiểu về việc tôi xuât bản một cuốn sách cho rằng AIDS là do con người tạo ra. Ông ta xin các bản thảo cuốn sách của tôi và hứa sẽ trả lại. Tôi cho ông ta mượn, nhưng rồi không nhận được tin tức gì từ ông ấy nữa.
Kinh nghiệm trước đây của tôi với dân truyền thông mách bảo rằng câu chuyện con người tạo ra AIDS là một điều cấm kỵ. Các mạng truyền hình chính do các tập đoàn kinh doanh hùng mạnh làm chủ và kiểm soát, và tôi cảm thấy rằng đã có áp lực lên các nhà điều hành để không phát sóng câu chuyện rằng AIDS do con người tạo ra. Công chúng Mỹ đã hoàn toàn chấp nhận câu chuyện về khỉ. Thật là liều lĩnh và dại dột khi hù dọa những người xem truyền hình để họ nghĩ rằng AIDS là một trò vụng về nào khác của chính phủ.

Tôi ngạc nhiên khi ông chủ nhiệm kênh truyền hình gọi điện cho tôi vài tuần sau, giải thích rằng các phóng viên của ông đã kiểm tra lại câu chuyện của tôi với các viên chức chính phủ. Có thể đoán trước các viên chức y tế nói rằng câu chuyện con người tạo ra AIDS là vô lý và không hay ho gì. Ông chủ nhiệm thúc giục họ tìm những thông tin cụ thể về cuộc thử nghiệm viêm gan. Điều gì đã xảy ra với những người đàn ông tình nguyện ? Bao nhiêu người vẫn còn sống? Bao nhiêu người chết vì AIDS ? Hẳn là có các thông tin đó. Các viên chức chính phủ lãng tránh. Các báo cáo y tế về những người đàn ông đồng tính trong cuộc thử nghiệm là mật; không thể tiết lộ bất cứ thông tin nào và chắc chắn là không thể cho các phóng viên truyền thông biết.

Không có sự hợp tác của chính phủ, ông chủ nhiệm kênh truyền hình phàn nàn ông không có một câu chuyện “cân bằng” từ hai phía. Khi được hỏi, tôi gợi ý rằng câu chuyện chiến tranh sinh học AIDS là chương trình diệt chủng bí mật nhất của thế kỷ. Liệu ông có thực mong đợi có được sự hợp tác của các viên chức y tế để bóc trần sự thật ? Các cán bộ của ông đã bóc trần những điều bí mật khác của chính phủ ra sao ? Ông chủ nhiệm thông cảm, nhưng cuối cùng thừa nhận câu chuyện quá nhạy cảm, dễ gây bùng nổ nên không thể đưa ra mà không có thêm chứng cứ. Tôi đã phản đối. Thế còn con số có thực những người đàn ông đồng tính đã chết thì sao ? Ông nói : Xin lỗi, điều đó không thể dùng làm chứng cớ được.

Thế chứng cớ sáu triệu người Do Thái bị Đức Quốc Xã tàn sát ở đâu ? Tất cả các thi thể đó ở đâu ? Tài liệu ghi chép đâu ? Chứng cớ là ở sự thật, rằng trước chiến tranh có những thành phố và thị trấn đầy người Do Thái. Sau chiến tranh họ biến đi, và những người Do Thái đã biến mất không bao giờ được thấy sống lại.

Những người bạn trẻ của tôi mười năm trước đây đâu rồi ? Một nửa số họ đã chết vì AIDS. Những người có tính dục khác giới không mất tới một nửa bạn bè và người yêu vì AIDS. Chỉ những người đồng tính phải chịu đựng mất mát đó mà thôi. Nhưng thực tế đó không thích hợp đối với ông chủ nhiệm trong khi ông luôn miệng đòi “chứng cớ” và “tài liệu” để chứng tỏ thuyết của tôi. Bảng liệt kê các tử thi đầy những người đàn ông đồng tính, đối với ông ta, không chứng tỏ điều gì hết.

Thực vậy, không có chứng cớ rõ rệt trong các báo cáo được công bố về cuộc thử nghiệm viêm gan B chứng tỏ rằng các cuộc thử được thiết kế để giết những người đàn ông đồng tính. Nhưng nếu người ta tìm kiếm trong các sách báo y học cẩn thận, có những manh mối cho thấy những người đồng tính nam trong cuộc thử nghiệm bị tổn thương nghiêm trọng vì vi rút AIDS. Thực ra, nhóm viêm gan bị tổn hại hơn bất kỳ nhóm AIDS nào ở châu Phi, nơi mà các chuyên gia cho là căn bệnh có lẽ đã bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước. Và nếu người ta cẩn thận nghiên cứu các đồ thị trong báo cáo về viêm gan năm 1986 của Cladd Stevens cho thấy mức nhiễm HIV ở những người đàn ông trong cuộc thử nghiệm, thì một điều rõ ràng là - tất cả những người đàn ông đồng tính trong cuộc thử nghiệm đã phải chết vì AIDS.

Chứng cớ chứa trong máu những người đồng tính lưu giữ ở trung tâm Máu của thành phố New York.

Khi một cuộc thử máu để tìm các kháng thể HIV được tiến hành với mục đích thương mại vào năm 1985, người ta đã có thể xác định chính xác ai bị nhiễm vi rút. Với ý đồ phát hiện nguồn vi rút, các nhà dịch tễ học đã thử các mẫu máu cũ của dân đồng tính được lưu giữ tại trung tâm Máu của thành phố New York để xác định liệu họ có bị nhiễm không. Khi các mẫu máu cũ trước năm 1978 của những người Mỹ từ các nhóm khác nhau được thử, không có các mẫu dương tính HIV. Điều đó chứng tỏ rõ ràng vi rút HIV không có mặt ở Mỹ trước năm 1978.

Qua việc thử trở lại các mẫu máu của 1083 người đàn ông trong cuộc thử nghiệm viêm gan B ban đầu, cũng như hơn 10.000 đồng tính nam mà Szmuness đã kiểm tra, có thể xác định chắc chắn rằng vi rút HIV được đưa vào cộng đồng đồng tính vào khoảng năm 1978, cùng năm khi cuộc thử nghiệm vác-xin viêm gan B với người đồng tính bắt đầu.

June Goodfield nhắc lại rằng trong những tháng trước tháng 11 năm 1978, Szmuness đã có một số cuộc tiêm chủng ban đầu và không làm báo cáo thực hiện với 200 người được coi là đồng tính. Như vậy, ngay cả trước khi cuộc thử nghiệm chính thức bắt đầu, một số người tình nguyện đã bị tiêm vác-xin thử nghiệm.

Có phải vác-xin gan B thử nghiệm đã bị nhiễm vi rút HIV hay không ? Vác-xin đó được Viện Y tế Quốc gia và công ty dược phẩm Merck chế tạo. Trong các cuộc thử nghiệm lâm sàng, Szmuness đã lo vác-xin có thể bị nhiễm trùng. Theo Goodfield, người ta nghi có nhiễm vi rút trong lô vác-xin do Viện Y tế Quốc gia làm nhưng không bao giờ nghi có trong vác-xin do Merck làm.

Những mối liên hệ giữa Merck, cơ sở chiến tranh vi trùng của quân đội, và Viện Y tế Quốc gia được nhiều người trong giới thạo tin mật về y tế biết. Công ty dược phẩm Merck không lạ lẫm gì với chiến tranh vi trùng. George Merck, người lãnh đạo công ty trong chiến tranh Thế giới thứ hai, cũng lãnh đạo chương trình nghiên cứu vũ khí vi trùng của Mỹ. Để góp phần vào cuộc đấu tranh chống ung thư vào đầu những năm 1970, tổng thống Richard Nixon chuyển một bộ phận của đơn vị chiến tranh vi trùng của quân đội Mỹ ở Fort Detrick, Maryland sang Viện Ung thư quốc gia, dưới sự chỉ đạo của Viện Y tế Quốc gia.

Sau khi hoàn thành một cuộc thử nghiệm lớn trong đó nhiều ngàn mẫu máu được thử và lưu giữ, các mẫu thường bị bỏ đi. Tuy nhiên, sau khi các cuộc thử nghiệm vác-xin kết thúc, Szmuness khăng khăng đòi trung tâm giữ tất cả mấy chục ngàn mẫu máu do mười ba ngàn người đàn ông đồng tính hiến. Khi được hỏi tại sao ông giữ quá nhiều ống máu, Szmuness đáp :”Vì một ngày nào đó một bệnh khác sẽ bùng phát và chúng ta sẽ cần chúng”.

Tận cuối năm 1983, vài chuyên gia bệnh truyền nhiễm đã báo cáo rằng AIDS có thể liên quan tới vác-xin viêm gan vì người ta phát hiện ra rằng 93% các bệnh nhân AIDS của họ thử thấy dương tính đối với các kháng nguyên máu viêm gan B. Vì vác-xin viêm gan B đã được chế tạo từ máu của những người đồng tính mang vi rút viêm gan, các thầy thuốc sợ vi rút HIV có thể đã nhiễm vào vác-xin. Các quan chức y tế ở Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cam đoan chắc chắn với mọi người rằng vác-xin là an toàn.

ca_va
22-01-2006, 05:56 AM
Sự an toàn của vác-xin thử nghiệm cũng được Cladd Stevens bảo vệ, bà là người đã hợp tác chặt chẽ với Szmuness trong các cuộc thử nghiệm với dân đồng tính. Khi Szmuness chết năm 1982, Stevens trở thành người phát ngôn chính thức cho cuộc thử nghiệm. Trong một báo cáo tháng 5 năm 1983, bà tuyên bố rằng chỉ hai người đàn ông trong cuộc thử nghiệm được chẩn đoán bị AIDS. Một người được chẩn đoán hai năm sau khi tiêm vác-xin, người kia bốn năm sau. “Không có tỷ lệ mắc bệnh quá mức trong số dân có nguy cơ cao”, bà nhấn mạnh.

Sự khẳng định lại của Stevens là quá sớm. Trong năm 1983, năm mà bà viết báo cáo, sự thật đáng buồn là cứ ba người thì có một người tiêm chủng trong cuộc thử nghiệm bị nhiễm vi rút HIV.

Trước khi phát hiện chính thức vi rút HIV năm 1984, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và những nhà chế tạo vác-xin liên tục cam đoan với công chúng rằng vác-xin viêm gan B mới có trên thị trường không phải là loại thể nghiệm, là an toàn. Tuy nhiên, Abbort Laboratories, nhà chế tạo vác-xin viêm gan thương mại tỏ ra cẩn thận hơn khi nói về sự an toàn của vác-xin. Trong sách hướng dẫn thuyết phục những người đàn ông đồng tính tiêm vác-xin thương mại, công ty này khuyên :”Nhiều người lo lắng về việc có thể lây nhiễm HIV và u ác tính trên da, người ta không biết liệu các bệnh đó được truyền bằng máu hay các sản phẩm của máu. Vác-xin viêm gan B hiện nay tuy sản xuất từ máu gộp lại của những người mang mầm bệnh (vi rut) mãn tính nhưng được chế tạo qua một số quá trình xử lý được tin là đã làm bất hoạt tất cả các nhóm vi rút đã biết”.

Tuy Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tin tưởng về sự an toàn của vác-xin viêm gan B thương mại, nhưng công chúng thì không tin. Có lời đồn nanh chóng rằng vác-xin được làm từ máu của những người đồng tính. Do đó, nhiều người từ chối tiêm. Ngay cả khi vác-xin không còn được chế tạo theo cách sử dụng máu của những người đồng tính, nhiều người vẫn sợ vác-xin viêm gan B vì nó có liên hệ với những người đàn ông đồng tính và AIDS.

Năm 1986, nhóm của Cladd Stevens làm nghiên cứu thứ hai tiếp theo với 212 người đàn ông đã được tiêm vác-xin thử nghiệm. Kỳ lạ là 6,6% những người đó có xét nghiệm dương tính trên các mẫu máu lấy trong thời kỳ tháng 11 năm 1976 và tháng 10 năm 1979. Đến năm 1981, trên 20% số đàn ông đó có kết quả xét nghiệm dương tính, năm 1984 (cuối thời kỳ nghiên cứu) trên 40% được xét nghiệm dương tính. Phần lớn những người đàn ông có kết quả dương tính HIV bị suy giảm miễn dịch.


Vì những trường hợp đầu tiên được phát hiện năm 1979, giới truyền thông làm chấn động công chúng với vô vàn câu chuyện xúc động về AIDS. Tuy nhiên, chưa một lần giới truyền thông tin vào ý kiến cho rằng AIDS là do con người tạo ra. Một trong những câu chuyện có tính kỳ thị và trắng trợn nhất về AIDS là “Bệnh nhân số không”.

Tháng 10 năm 1987, cuốn sách bán chạy nhất “Và ban nhạc cứ chơi” được xuất bản. Randy Shilts, một người đàn ông đồng tính và là phóng viên tờ báo đầu tiên chuyên về AIDS, đã viết một cách tinh tế câu chuyện lịch sử chi tiết về bệnh dịch đó. Ông tố cáo chính quyền Reagan phớt lờ bệnh dịch này và trơ trẽn từ chối tài trợ cho việc nghiên cứu và giáo dục về AIDS.

Việc xuất bản cuốn sách là đáng khâm phục. Shilts có lẽ được nhớ nhiều nhất vì đã truyền bá câu chuyện “Bệnh nhân số không” - một chiêu đãi viên hàng không Canada, đồng thời là một đồng tính nam trẻ sống chung chạ bừa bãi tên là Gaetan Dugas, bị lên án đã mang vi rút HIV vào Mỹ.

Những “sự thật” y học về “Bệnh nhân số không” của Shilts (cùng với những chi tiết giật gân về đời sống tình dục của anh ta) đã được sốt sắng cung cấp bởi các nhà dịch tễ học ở Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và các thầy thuốc ở Manhattan. Gaetan Dugas được chẩn đoán có u ác tính trên da liên quan đến AIDS vào tháng 6 năm 1980 ở New York. Trong một năm trước khi chẩn đoán AIDS, Dugas bị sưng các tuyến hạch và phát ban trên da. Câu chuyện giật gân của Shilts về “Bệnh nhân số không” được tô vẽ thêm với những chuyện chung chạ bừa bãi của dân đồng tính nam và tình dục nhà tắm, đã được đưa lên truyền thông ào ạt một cách sống sượng.

Tuy Shilts thừa nhận thuyết “Bệnh nhân số không” của ông vẫn còn là “một vấn đề đang được tranh cãi và … rút cục, chưa có câu trả lời”, ông ta vẫn cho là Dugas đã mang AIDS từ Paris về Bắc Mỹ. Dugas “không nghi ngờ gì nữa… đã đóng vai trò chủ chốt trong việc lan truyền vi rút mới từ đầu này sang đầu bên kia của nước Mỹ ”. Shilts đã không nhắc đến các báo cáo y học chỉ rõ vi rút HIV đã được “đưa vào” cộng đồng đồng tính ở thành phố New York hai năm trước khi Dugas được chẩn đoán.

Các xét nghiệm máu trong cuộc thử nghiệm của Szmuness cho thấy rằng vi rút HIV hiển nhiên có mặt trong các mẫu máu ngay từ những năm 1978-1979. Trong các mẫu máu lấy năm 1980 (năm mà Gaetan Dugas được chẩn đoán), Cladd Stevens đã báo cáo rằng 20% những người đàn ông trong cuộc thử nghiệm có kết quả dương tính HIV. Như vậy, không thể hiểu được làm sao Dugas có thể từ Paris đến và làm lây nhiễm một số lớn người đồng tính nam như vậy, mà một số người trong số đó đã bị nhiễm từ những năm 1978-1979. Hơn nữa, “nguồn” lây HIV của chính Dugas đã không bao giờ được xác minh.

Không sao hết, giới truyền thông đã có cơ hội lớn với câu chuyện đó. Tờ Thời báo (số ngày 19-10-1987) điểm qua cuốn Và ban nhạc cứ chơi trong mục y học như là “Thiên truyện khủng khiếp về Bệnh nhân số không”. Minh họa bìa tạp chí California cho thấy hình bóng bao trùm của người chiêu đãi viên hàng không bước xuống máy bay, tay xách va li, là “Bệnh nhân số không : Người đàn ông đã mang AIDS đến California”. Hàng tít đậm của tờ Bưu điện New York (số ngày 6 tháng 10) viết : “Người đàn ông đã cho chúng ta AIDS - khởi đầu bệnh dịch ung thư đồng tính nam ở Mỹ”. Không chịu thua, tờ báo khổ nhỏ Ngôi sao mô tả Dugas như là “Con quái vật đã cho chúng ta AIDS” và lên án anh ta “Cô Marry thương hàn hiện đại - người đàn ông đã gây lây nhiễm HIV cho cả một lục địa”. Ngay cả ấn phẩm được cho là có tính khoa học Tập san Y học Mỹ (số ra ngày 23 tháng 10) cũng mò mẫm câu chuyện đó, kêu là Dugas “có thể đã mang AIDS vào nước Mỹ”.

Những lời kể như vậy về một người đàn ông đã chết được dùng như những ví dụ cho thấy “những sự thực” về AIDS đã trở thành công cụ tuyên truyền như thế nào, tức là rồi sẽ được sử dụng để thỏa mãn các chủ đề chính trị, khoa học, xã hội, đạo đức và ngay cả văn học.

Cùng với câu chuyện “Bệnh nhân số không” là các huyền thoại AIDS khác đạt tới tình trạng như thật. Không có gì được tin tưởng rộng rãi hơn là câu chuyện khỉ xanh châu Phi, một trong những truyện thần thoại hấp dẫn nhất của thời đại chúng ta.

Người lớn biết rằng các truyện thần thoại không bao giờ có thật. Nhưng giống như trẻ con, người lớn có thể nửa tin nửa ngờ và bị mê hoặc bởi nững chuyện phiêu lưu chứa trong các câu chuyện thần tiên yêu thích nhất của thế giới.

Và thế là chúng ta phịa chuyện. Và chúng ta làm cho các câu chuyện thần thoại trở thành có thật.

ca_va
22-01-2006, 06:00 AM
Âm mưu diệt chủng bằng AIDS. Phần 4:Chiến tranh vi trùng
hiv.com.vn - 00:00' 05/09/2005 (GMT+7)


http://www.hiv.com.vn/Upload/817.jpg

Có phải AIDS chỉ là một tai biến kỳ dị của thiên nhiên gây ra bởi một loại vi rút từ loài khỉ xanh châu Phi ? Hay AIDS là một chương trình diệt chủng do chính phủ Mỹ bảo trợ, đã cấy vi rút trong phòng thí nghiệm vào những cư dân được chọn lựa vì các mục đích chính trị và xã hội độc ác ?

Vào những năm 1960, cơ sở chiến tranh vi trùng Mỹ bắt đầu chú ý nghiêm túc đến những tiến bộ mới trong công nghệ sinh học và công nghệ gene. Các nhà khoa học biết rõ rằng các nhân tố lây nhiễm có thể được biến thành những vũ khí sinh học chết người, có thể được dùng để chống lại dân thường trong thời chiến. Sản xuất vũ khí sinh học rẻ hơn nhiều so với các vũ khí nguyên tử và vũ khí thông thường, và có ưu thế rõ rệt trong việc giết người mà không phá hủy tài sản.

Một nhóm các chuyên gia chiến tranh vi trùng, khi xuất hiện trước lệnh cấm của Liên Hiệp Quốc năm 1969 đã ước tính chi phí cho hoạt động giết người quy mô lớn chống lại dân thường sẽ lên đến 2000 đô la trên một ki lô mét vuông với vũ khí thông thường, 800 đô la với vũ khí hạt nhân, 600 đô la với vũ khí hơi ngạt và 1 đô la với vũ khí vi trùng.

Người được giải Nobel, giáo sư sinh học Sal Luria tại Viện Công nghệ Massachusetts, là một trong những nhà vi sinh vật học đầu tiên lên tiếng chống chiến tranh vi trùng. Chạy trốn khỏi châu Âu ngay trước chiến tranh Thế giới thứ hai, Luria hiểu rất rõ rằng người ta có thể sử dụng y học để giết người như thế nào. Ông cảnh báo rằng các vũ khí sinh học công nghệ gene có tiềm năng “làm suy thoái chất lượng gene của toàn thể dân chúng”.

Trong một bài tiểu luận năm 1968 nhan đề “Nhà vi sinh vật học và các cơ hội của mình”, Luria khẩn cầu các thành viên của Hội các nhà vi sinh vật học của Mỹ xét lại vấn đề đạo đức của việc họ nguy hiểm tham gia vào nghiên cứu quân sự lén lút. Bắt đầu trong những năm 1950, một ủy ban cố vấn của hội đã hợp tác với phòng thí nghiệm chiến tranh vi trùng của quân đội ở Fort Detrick, đóng ở Federick, bang Maryland.

Ông giáo sư sinh học can ngăn “Việc quyết định nghiên cứu hay không nghiên cứu chiến tranh vi trùng, và nghiên cứu liên quan đến chiến tranh nói chung, chắc chắn là một vấn đề cá nhân. Ý thức được những vấn đề khó khăn liên quan bắt ta phải cực kỳ dè dặt khi đưa ra những phán xét quan trọng liên quan hoặc với chính những người tiến hành công cuộc nghiên cứu đó hay những người mong muốn tách mình khỏi công việc đó”. Ý kiến cá nhân của Luria là hội không nên kết hợp với phòng thí nghiệm chiến tranh vi trùng ở Fort Detrick và ủy ban đó phải giải tán.

Năm 1969, tiến sĩ Donald M. MacArthur xuất hiện tại cuộc điều trần của Quốc hội về chiến tranh hóa học và chiến tranh vi trùng. Là thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ông chịu trách nhiệm quản lý các chương trình nghiên cứu và công nghệ như bộ phận đẩy tên lửa và đạn đạo, công nghệ vật liệu, các khoa học về y học và sự sống, các khoa học xã hội và hành vi, khoa học môi trường và công nghệ hóa học.

Donald MacArthur tuyên bố rằng các chuyên gia chiến tranh vi trùng có thể phát triển một loại “vi trùng siêu đẳng” tạo bằng công nghệ gene, sẽ rất khác với bất kỳ loại vi trùng nào trước đây mà nhân loại đã biết. Tác nhân đó sẽ giết người có hiệu quả cao vì hệ thống miễn dịch của người sẽ bất lực trước loại vi sinh vật siêu đẳng đó. Lời xác nhận đó được đưa ra ở Washington trước một tiểu ban của Ủy ban phân bổ ngân sách, Hạ nghị viện và Ủy ban phân bổ ngân sách Bộ Quốc phòng năm 1970, vào ngày 1 tháng 7 năm 1969.

Khi được hỏi về chi phí và thời gian cần để triển khai chương trình chiến tranh vi trùng đó, tiến sĩ MacArthur trả lời rằng một nhóm nỏ các nhà sinh học phân tử đã xem xét vấn đề này và cung cấp các chi tiết sau đây :

“1- Mọi tác nhân sinh học cho đến nay là những đại diện của bệnh dịch xảy ra trong tự nhiên, và như vậy được các nhà khoa học toàn thế giới biết đến. Chúng sẵn có cho các nhà khoa học có trình độ nghiên cứu nhằm các mục đích tấn công hay tự vệ.

2- Trong vòng 5 – 10 năm tới, có lẽ có thể làm ra một vi sinh vật lây nhiễm mới có thể khác về những phương diện quan trọng nào đó với bất kỳ sinh vật gây bệnh nào đã biết. Điều quan trọng nhất trong đó là nó sẽ có thể rất khó kiểm soát đối với các quá trình miễn dịch và trị liệu mà chúng ta vẫn dựa vào đó để phòng chống các ảnh hưởng của bệnh truyền nhiễm.

3- Một chương trình nghiên cứu để khảo sát tính khả thi của việc này có thể được hoàn thành trong gần 5 năm với tổng chi phí 10 triệu đô la.

4- Việc thiết lập một chương trìn như vậy sẽ rất khó khăn. Sinh học phân tử là một khoa học tương đối mới. Không có nhiều nhà khoa học giỏi trong lĩnh vực này. Hầu hết họ đều làm việc ở các phòng thí nghiệm của các trường đại học, và nói chung được trợ giúp đầy đủ từ các nguồn khác với Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, người ta thấy có thể khởi đầu một chương trình thích hợp thông qua Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia - Hội đồng nghiên cứu Quốc gia (NAS-NRC). Vấn đề này được bàn với NAS-NRC, và đã có những kế hoạch dự kiến để khởi đầu chương trình. Tuy nhiên, việc cắt giảm các quỹ nghiên cứu hóa/sinh, tăng sự phê phán chương trình hóa/sinh và việc chúng tôi lưỡng lự khi đưa NAS-NRC tham gia vào chương trình gây tranh cãi này khiến chúng tôi trì hoãn ó trong hai năm qua …

Không lấy làm lạ là Bộ Quốc phòng, với mạng lưới rộng lớn của các bệnh viện và các nhà nghiên cứu của mình, là cơ quan cấp liên bang chủ yếu tham gia vàoviệc nghiên cứu AIDS, được Quốc hội tài trợ. Theo tờ Thời báo New York, “Quốc hội thường đặt ra các ưu tiên nghiên cứu y học cấp quốc gia, thông thường sau khi có sự vận động hành lang mạnh mẽ của các nhà khoa học, các công ty và các nhóm quyền lợi”. Một số nhà nghiên cứu AIDS phàn nàn rằng các nhà lập pháp đã để những người vận động hành lang của các tập đoàn quyết định những nghiên cứu và điều trị AIDS nào sẽ được ủng hộ, dưới áp lực của đồng đô la. Giống như ung thư, AIDS là một món kinh doanh lớn. Và trước những món tiền lợi nhuận lớn liên quan rất nhiều đến nền công nghiệp AIDS hàng tỷ đô la, có lẽ các nhà chính trị sẽ tiếp tục không đếm xỉa đến ý nghĩa khoa học trong việc tìm kiếm cách chữa trị AIDS.

Nước Mỹ có kho vũ khí hóa học và vi trùng lớn nhất thế giới. Kho vũ khí sinh học của chúng ta chứa khí hơi ngạt và cháy da đủ để giết mỗi người trên hành tinh này 5.000 lần. Tuy nhiên, ít người biết đến các cuộc thử nghiệm chiến tranh vi trùng lén lút chống lại các công dân Mỹ do các cơ quan chính phủ, đặc biệt là quân đội và CIA tiến hành. Các số liệu được phân loại trước đây thu được thông qua Điều luật tự do thông tin đã tiết lộ hơn 200 cuộc thử nghiệm nhằm vào các thường dân và nhân viên quân sự.

Các chi tiết về một số cuộc thử nghiệm sinh học bí mật đó được đề cập đến trong cuốn sách Một hình thức giết người cao hơn (1982) do Robert Harris và Jeremy Paxman viết. Nghiên cứu hiển nhiên về chiến tranh vi trùng này là một chứng cớ rõ ràng cho sự vô nhân đạo của con người đối với con người, và cuốn sách của Harris và Paxman là cần thiết đối với mọi người quan tâm đến việc bảo vệ hành tinh chúng ta khỏi “hình thức giết người cao hơn” bằng sinh học đó.

Ví dụ “tháng 8 năm 1977, CIA đã thừa nhận có không ít hơn 149 dự án nhỏ, bao gồm các cuộc thử nghiệm để xác định ảnh hưởng của ma túy lên hành vi của con người; công trình về các máy phát hiện nói dối, thôi miên và điện giật; và phân phát lén lút các chất liệu liên quan tới ma túy. 44 trường chuyên nghiệp và đại học, 15 cơ sở nghiên cứu, 12 bệnh viện và phòng khám chữa bệnh và 3 cơ sở hình sự đã được đưa vào tham gia”. Trong các cuộc thử nghiệm tẩy não “MKULTRA” lén lút, các nạn nân đã bị nhử vào các buồng khách sạn để quan hệ với kẻ mãi dâm, rồi bị các nhân viên CA cho uống ma túy và theo dõi.

Các cuộc tấn công bằng vũ khí vi trùng của giới quân sự chống lại những cộng đồng người Mỹ không bị nghi ngờ vào những năm 1950 và 1960 là những sự thật đã được ghi lại. Khét tiếng nhất là cuộc tấn công sinh học của quân đội Mỹ trong sáu ngày vào San Francisco, trong đó những đám mây vi khuẩn có hại tiềm tàng đã được phun trên thành phố. Mười hai người đã có triệu chứng sưng phổi do các vi trùng truyền bệnh, và một ông già đã chết do cuộc tấn công sinh học này.

ca_va
22-01-2006, 06:00 AM
Trong các cuộc thử bí mật khác, vi khuẩn được phun vào các đường xe điện ngầm ở thành phố New York; vào các đám đông ở một sân bay Washington D.C, và lên các đường cao tốc ở Pennsylvania. Việc thử nghiệm chiến tranh vi trùng cũng diễn ra ở các căn cứ quân sự ở Virginia, ở Key West, Florida, và ngoài khơi bờ biển California và Hawaii.

Có lẽ người ta không bao giờ biết phạm vi đầy đủ của các chương trình lén lút đó. CIA thừa nhận đã hủy và xé đi một cách phi pháp nhiều tài liệu buộc tội. Dẫu sao thì những báo cáo có tính học thuật về sự lạm dụng y tế của các cơ quan chính phủ không chỉ ở Mỹ mà trên toàn thế giới cũng dần dần được đưa ra ánh sáng.

Những phát giác gây chấn động về việc các thầy thuốc dùng y khoa tra tấn, với sự đồng ý của chính phủ, được trình bày trong cuốn Cuộc hành trình vào sự điên rồ : Câu chuyện thật về kiểm soát tâm trí và lạm dụng y tế bí mật của CIA (1989). Tóm tắt công trình nghiên cứu của mình, nhà văn y học Gordon Thomas tiết lộ rằng “không có cái gì khiến tôi sẵn sàng chịu đựng sự kinh hãi hàng ngày trong hơn hai năm, thường mười hai đến mười bốn giờ mỗi ngày, đối đầu với sự thật không thể tránh được là các bác sĩ đã làm việc tra tấn – và vẫn đang làm việc đó. Vào cuối cuộc nghiên cứu, tôi đã có thể hiểu rõ tại sao các nhà điều tra khác đã lảng tránh chủ đề này : đó thực sự là những cơn ác mộng.”

Có phải AIDS là chiến tranh vi trùng ? Đối với những ai nghi vấn liệu Chính phủ Mỹ có khả năng làm hại các công dân của chính họ không, câu trả lời đã quá rõ ràng.

Đầu thập niên 1970, chương trình chiến tranh vi trùng của quân đội Mỹ đã tăng cường, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu ADN và “ghép gene”. Để xoa dịu mối lo sợ của giới phê bình, tổng thống Richard Nixon tuyên bố từ bỏ chiến tranh vi trùng, trừ “nghiên cứu phòng vệ y tế”.

Năm 1971, khi Nixon chuyển một phần lớn Đơn vị chiến tranh vi trùng của quân đội sang Viện Ung thư Quốc gia, các cuộc thí nghiệm chiến tranh vi trùng bí mật tiếp tục dưới vỏ bọc nghiên cứu ung thư. Sử dụng những kỹ thuật tân tiến nhất của công nghệ gene và nuôi cấy tế bào trong phòng thí nghiệm, các nhà vi rút học ung thư đã học cách “nhảy” mầm ung thư động vật từ một loài vật này sang loài khác. Các vi rút gà được đặt vào các tế bào thận cừu non. Các vi rút khỉ mõm chó được ghép vào các tế bào máu người. Những sự kết hợp là vô tận. Trong quá trình chuyển đổi đó, những dạng ung thư mới, sự suy giảm miễn dịch và các nhiễm khuẩn cơ hội đã được sản sinh trong các động vật.

Như dự đoán của các chuyên gia chiến tranh vi trùng, con quái vật “vi trùng siêu đẳng” đã được tạo ra có tác động chết người đến hệ miễn dịch.

Khi tôi gặp Robert Strecker vào mùa hè năm 1986 thì ông đã công bố bí mật điều ông tin AIDS là một cuộc chiến tranh vi trùng. Vào lúc đó, ít người để ý đến ông và ông hiếm có dịp nói lên quan điểm của mình trong giới truyền thông. Tuy vậy, chẳng bao lâu sau khi ông công bố rằng bệnh dịch này do con người tạo ra, những câu chuyện lạ lùng về AIDS bắt đầu xuất hiện trên báo chí.

Mùa thu năm 1986, những người Xô viết công bố rằng AIDS là kết quả của chiến tranh vi trùng của Mỹ vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Tờ Thời báo (số ra ngày 17 tháng 11) đăng một mẫu tin ngắn về câu chuyện này, gán cho nó là “tuyên truyền lây nhiễm” và cho thuyết AIDS do con người tạo ra của Robert Strecker chỉ là “suy đoán”.

Một bài xã luận trong tờ Thời báo Ấn Độ ở New Delhi ra cùng ngày thực sự lưu ý những lời tố cáo chiến tranh vi trùng, thuyết phục độc giả hãy chú ý tới mối nguy hiểm nghiêm trọng của chiến tranh vi trùng. “Có thể tin được rằng các vi trùng chết người đó đang được chế tạo thông qua công nghệ gene và một số vi trùng có thể bị rò rỉ từ các phòng thí nghiệm, có thể là tình cờ hay vì lý do khác. Tất cả những điều đó gợi cho ta nghĩ rằng những tiến bộ mới trong công nghệ sinh học và công nghệ gene đang được nhanh chóng quân sự hóa. Những hậu quả của điều này quá kinh khủng, làm ta không dám nghĩ tới. Những vi trùng chết người đó, cũng như các vũ khí hạt nhân, là những tác nhân hủy diệt hàng loạt. Cách xử lý duy nhất đối với chúng là cấm và loại bỏ.”

Có phải AIDS là chiến tranh vi trùng ? Charles Piller, một phóng viên điều tra, và Keith R.Yamamoto, một nhà sinh học phân tử, bàn ngắn gọn câu hỏi này trong cuốn sách nhiều thông tin của họ về chiến tranh vi trùng nhan đề Chiến tranh gene : Sự kiểm soát của giới quân sự đối với các công nghệ gene mới (1988). “Những người Xô viết đã gọi AIDS là một cuộc thử nghiệm chiến tranh vi trùng của Mỹ tuột khỏi sự kiểm soát. Tuy không có chứng cớ giúp cho lời tố cáo, việc sử dụng công nghệ gene để đánh gục hệ thống miễn dịch của cơ thể người là hoàn toàn khả thi và nhất quán với một số nghiên cứu của Mỹ”. Piller và Yamamoto nhấn mạnh rằng những phát hiện của sinh học phân tử đã được quân đội lợi dụng, dẫn tới những khả năng hoàn toàn mới trong việc sản xuất các chất độc, vi rút và vi khuẩn chết người.

Thượng nghị sĩ George S. Mcgovern ca ngợi cuốn Chiến tranh gene như “một cuốn sách hấp dẫn về những nguy cơ và hậu quả kỳ quái của công nghệ gene được vận dụng cho tranh vi trùng. Cuốn sách này cần được đọc,suy ngẫm và hành động thích hợp bởi tất cả những ai lo lắng về tương lai của sự sống trên hành tinh chúng ta thì đây là một thách thức đặc biệt để các cộng đồng khoa học và y tế hành động”.

Trong một phần của chương trình chiến tranh sinh học của Saddam Hussein, các máy bay quân sự đã rải hơi ngạt xuống các làng cô lập của người Kurd. Trong vài phút, hàng trăm nông dân đã chết. Hơn một trăm ngàn người Kurd được cho là đã chết trong chương trình diệt chủng của Hussein. Mặc dầu có việc giết chóc như thế, Chính phủ Mỹ tiếp tục cho Irak vay nhiều tỷ đô la, những món vay mà có lẽ sẽ không bao giờ trả.

Trong năm 1991, các nhà lãnh đạo trên thế giới đặt câu hỏi liệu Hussein có sử dụng vũ khí sinh học trong chiến tranh vùng Vịnh không. Trong khi họ còn suy nghĩ, những người Ixrael lo lắng phát hoảng đã phát mặt nạ phòng độc để chuẩn bị cho các cuộc tấn công hơi ngạt của Saddam. Đến tận năm 1992, người ta nghi ngờ rằng Irak đang cung cấp các loại thuốc đã bị làm nhiễm trùng cho người Kurd, dẫn tới “căn bệnh bí hiểm” chết người với những triệu chứng ỉa chảy ra máu và hỏng thận hoàn toàn.

Những người Mỹ rùng mình khi giới truyền thông công bố tiềm lực kho vũ khí sinh học và hóa học của Irak phần lớn do Chính phủ Mỹ cung cấp. Không có một lời nào nhắc đến khối lượng chứa trong kho vũ khí vi trùng của quân đội Mỹ, trừ việc cam đoan với công chúng Mỹ rằng chúng ta có khả năng giết toàn bộ dân trên thế giới 5.000 lần trở lên.

AIDS có sinh ra từ phòng thí nghiệm không ? Ý kiến cho rằng lấy vi rút gây ung thư của động vật và cố tình tiêm vào người nghe thật khó tin. Tuy nhiên, đó đúng là cung cách tiến hành các thử nghiệm công nghệ gene của con người hiện đại. Năm 1990, sau ba thập kỷ thể nghiệm động vật ghép gene, các nhà khoa học đã sẵn sàng bắt đầu các cuộc thử chính thức lên con người.

Mục tiêu là một bé gái nặng 16 kg có hệ thống miễn dịch suy yếu vì khiếm khuyết về gene. Để chỉnh lại sự bất thường về gene, các nhà khoa học thoạt tiên lấy các tế bào từ một người khỏe mạnh và cho một vi rút ung thư động vật nhiễm vào các tế bào bình thường đó. Vi rút lây nhiễm là một vitrovirus bệnh bạch cầu ở chuột “đã bị làm yếu đi” và “được cấy ghép vào” vật liệu di truyền trong các tế bào thường của người khỏe mạnh.

Tạp chí Thời báo (số ngày 24-9-1990) giải thích rằng vitrovirus chuột thuộc cùng một loại vi rút như vi rút HIV. Các tế bào nhiễm vi rút từ chuột sau đó được cho “chạy vào” và niễm nơi nuôi cấy các tế bào của cô bé. Các tế bào nuôi cấy của cô bấy giờ chứa gene cần thiết, được nhân bản vô tính. Trong quá trình nhân bản vô tính, nhiều tỷ bản sao các tế bào cần thiết đã được sản xuất. Các tế bào nhân bản vô tính nhiễm mầm ung thư chuột được biến đổi gene, bây giờ được cấy trở lại vào cơ thể cô bé.

Nếu cuộc thử nghiệm thành công, cô bé sẽ sống. Cô sẽ luôn luôn mang các vệt ung thư chuột trong tế bào của mình. Vi rút ấy không phải từ châu Phi mà từ một phòng thí nghiệm.

Công nghệ gene mới là chiến thắng của y học. Tuy nhiên, tờ Thời báo cảnh báo rằng công nghệ này có thể được sử dụng cho các mục đích xấu. “Sự phản đối chắc chắn sẽ dâng cao nếu các nhà khoa học quay sang một mục đích hãy còn xa vời : biến đổi di truyền của các tế bào tinh trùng và trứng”. Những sự nhào nặn kiểu kỷ nguyên mới đó sẽ ảnh hưởng đến sự kế thừa gene của các thế hệ tương lai, nảy sinh nững vấn đề đạo đức mới và gây ra những rủi ro không lường được”

Phần lớn mọi người không nhận ra sự thật là di sản gene của những người đàn ông đồng tính đã thay đổi. Có tới một nửa số đàn ông đồng tính có các tế bào tổ chức và máu đã bị thay đổi vĩnh viễn bởi loại vi rút chết người “đến từ châu Phi”. Mối lo lắng của Sal Luria về “sự xuống cấp” chất lượng gene của toàn thể dân chúng giờ đây đã thành sự thật.

Đầu những năm 1990, có hai điều đã rõ ràng. Câu chuyện khỉ là chuyện làm ăn lớn. Và phi vụ làm ăn từ khỉ có thể được dùng để huỷ diệt nhiều người trên hành tinh này.

ca_va
22-01-2006, 06:05 AM
Âm mưu diệt chủng bằng AIDS. Phần 5: Phi vụ làm ăn từ con khỉ
hiv.com.vn - 00:00' 05/09/2005 (GMT+7)


http://www.hiv.com.vn/Upload/818.bmp

Khi cuốn sách của Robert Gallo Săn lùng vi rút AIDS, ung thư và retrovirus của người được xuất bản năm 1991, tôi tò mò muốn biết điều gì đã khiến ông nghi ngờ khỉ xanh châu Phi là con vật mang AIDS cho chúng ta.

Trong chú giải ở trang 227, ông giải thích :”Kỳ lạ là trong giai đoạn đầu của cuộc nghiên cứu của tôi về AIDS (đầu năm 1983) Ann Guidici Fettner, một nhà văn độc lập đã đến thăm và kể cho tôi, nhấn mạnh rằng nguồn gốc và trung tâm của bệnh dịch này là ở lưu vực sông gần hồ Victoria. Bà cũng nói bà tin rằng vi rút đến từ các con khỉ xanh châu Phi, dường như bà dựa trên những quan sát và kinh nghiệm của mình ở Trung Phi”.

Tôi ngạc nhiên là Gallo qui câu chuyện khỉ cho Fettner, một nhà báo được biết đến nhiều nhất bởi những báo cáo về AIDS của bà trên tờ Người New York trong những năm đầu của bệnh dịch. Tôi quen thuộc với những bài viết của bà trên tờ báo đó, nhưng không một lần nào tôi đọc được rằng bà đã đề xuất câu chuyện khỉ xanh với Gallo. Thực ra, một số câu chuyện của bà hết sức phê phán nhà khoa học đó.

Fettner cùng với nhà sinh vật học William Check, viết cuốn Sự thật về AIDS (1984), một trong những cuốn sách đầu tiên xuất bản về bệnh dịch này. Theo các ghi chú trên bìa rời cuốn sách, Fettner đã phục vụ với tư cách một cố vấn y tế cho chính phủ Kenya. Cuốn sách được xuất bản một thời gian trước khi Gallo phát hiện vi rút HIV tháng 4 năm 1984.

Trong cuốn Sự thật về AIDS không có ghi chép gì về những kinh nghiệm của Fettner ở châu Phi; các con khỉ xanh không bao giờ được nhắc đến, và không có gợi ý nào rằng AIDS bắt nguồn từ châu Phi. Ngược lại, Fettner và Check kết luận rằng AIDS bắt đầu từ người Mỹ.

Theo quan điểm của tôi, Gallo có hai lý do chắc chắn để nêu nguồn gốc AIDS là từ châu Phi và đổ lỗi cho các con khỉ xanh châu Phi. Thứ nhất, nguồn gốc châu Phi che dấu thuận lợi mối liên hệ giữa chương trinh vác-xin viêm gan B ở người đồng tính và sự bùng phát AIDS ở các thành phố của Mỹ. Thứ hai, đổ lỗi cho các con khỉ xanh hoang dã là một cách có hiệu quả che lấp nguồn gốc HIV có thể từ phòng thí nghiệm và từ vi rút ung thư động vật trong phòng thí nghiệm.

Không lấy làm lạ là Max Essex, một bác sĩ thú y của Đại học Harvard, người đã làm thí nghiệm AIDS với mèo trước khi có sự bùng phát AIDS ở người, đã nhanh nhảu đồng tình với Gallo chỉ tay sang châu Phi. Cùng hòa giọng với họ là Donald Francis, người đã làm việc với Essex trong các cuộc thí nghiệm với mèo ở Đại học Harvard. Francis đã tiêm cho những người châu Phi trong chương trình vác-xin bệnh đậu mùa của WHO, và cũng tiêm chủng những người đồng tín Mỹ trong cuộc thử nghiệm viêm gan B. Donald Francis thích nói :”Tôi thích đi vào nghề của tôi vì tôi muốn tìm ra một bệnh dịch, tìm một vác-xin, tiêm chủng để chống lại bệnh đó và tiếp tục một bệnh dịch khác”.

Giới truyền thông lập tức tôn vinh Gallo, Essex, Francis và đồng nghiệp của họ như những ánh sáng dẫn đường trong cuộc nghiên cứu AIDS. Những công bố của Gallo và câu chuyện khỉ của ông ta đã trở thành kinh thánh. Những nhà khoa học nào dám chống lại các quan điểm “chính thống” của Gallo sẽ gặp nhiều phiền toái. Tuy nhiên, sau các cánh cửa đóng kín, các nhà khoa học nguyền rủa rằng Gallo đã ăn cắp HIV từ các nhà nghiên cứu Pháp ở Viện Pasteur.

Tờ Thời báo (số ra ngày 30-4-1984) nhắc đi nhắc lại khẳng định của Gallo rằng HIV “có thể đã ẩn nấp trong các bụi rậm châu Phi một thời gian”. Tờ Newsweek (Tuần tin tức - số ngày 7 tháng 5) chụp một bản đồ thế giới cho thấy các mũi tên chỉ hướng các con đường cỏ thể của HIV “đang chuyển động” ra khỏi châu Phi.

Căn bệnh đó đã bắt đầu ở châu Phi ra sao ? Nobert Rapoza, một nhà vi rút học có kinh nghiệm, làm việc cho Hội Y học Mỹ, đã thông báo cho các độc giả y học của tờ Tin tức y học Mỹ (”Thông điệp khủng khiếp của chuyên gia AIDS”, số ra ngày 5-12-1986) rằng “AIDS đã bắt đầu ở Trung Phi, có lẽ là một vi rút từ khỉ đã nhảy sang loài khác. Có thể nó được lan truyền do muỗi đốt dân bộ lạc châu Phi. Sau đó, có thể vi rút đã đột biến và khi dân bộ lạc đi vào thành phố lớn, hai điều đã xảy ra : họ quan hệ với dân mãi dâm và nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, và họ đã được trị bệnh với những kim tiêm bẩn. Hoặc là vi rút ban đầu có thể đã đến từ một động vật móng guốc - một con bò hay một con lợn – và có thể đã được lan truyền bởi tục lệ của dân châu Phi cắt cổ thú vật và uống máu”.

Thế HIV cuối cùng lây nhiễm tới dân đồng tính ở làng Greenwich như thế nào ? Rapoza cũng đã có câu trả lời :”Một thuyết cho rằng HIV bắt nguồn từ châu Phi nói rằng một số dân Haiti thường làm việc ở Daia (ở Trung Phi – nay là nước Cộng hòa dân chủ Công gô) đã trở về vào năm 1977, cùng thời gian với một hội nghị quốc tế của người đồng tính họp ở Haiti, từ đây vi rút có thể đã lan truyền bằng đường tình dục hay ma túy hoặc cả hai cách, và rồi có thể đã được mang về New York và California”.

Tôi đã không bao giờ đọc loại câu chuyện phi khoa học, phân biệt chủng tộc và kỳ thị như vậy trong một ấn phẩm y học. Là một người đàn ông đồng tính, tôi hoàn toàn biết rõ không bao giờ có một hội nghị quốc tế của dân đồng tính ở Haiti, và không bao giờ nghe nói đến chuyện người đồng tính ở Westcoast đi Haiti để quan hệ tình dục. Thật là tồi tệ, tại sao các thầy thuốc lại bị lừa bịp để tin những câu chuyện tức cười nhất về AIDS như vậy.

Một ngày nào đó, lịch sử “khác” của AIDS sẽ được ghi lại trong các sách y học. Các nhà sử học sẽ điều tra đến nơi đến chốn sự nghiệp khoa học của các nhà nghiên cứu AIDS nổi tiếng nhất của chính phủ, và họ sẽ phát hiện ra rằng làm thế nào mà những người đó đã nhanh chóng trở thành những nhân vật xuất sắc của y khoa. Khi việc nghiên cứu chiến tranh vi trùng bí mật của các nhà khoa học và vi rút học của Chính phủ Mỹ được đưa ra ánh sáng, nguồn gốc thực sự trong phòng thí nghiệm của AIDS sẽ được phát hiện.

HIV có xuất phát từ phòng thí nghiệm về ung thư không ? Năm 1971, sau khi một bộ phận của đơn vị chiến tranh vi trùng ở Fork Detrick được chuyển sang Viện Ung thư quốc gia, việc nghiên cứu chiến tranh vi trùng của quôn đội được phép tiếp tục dưới cái vỏ bọc nghiên cứu ung thư. Tổ chức được cải tổ đó giờ đây gọi là Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Frederick.

Richard Hatch viết rằng Robert Gallo là một cán bộ dự án của “một chương trình tiêmchủng vi rút rộng lớn bắt đầu từ năm 1962 và hoạt động cho đến ít nhất là năm 1976, và đã sử dụng hơn 2000 con khỉ. Các con khỉ đã được tiêm mọi thứ, từ các mô ung thư của người đến các vi rút hiếm, và ngay cả máu cừu, với nỗ lực nhằm tìm ra một loại ung thư lây truyền được. Nhiều con khỉ trong số đó đã bị chết vì ức chế miễn dịch sau khi bị tiêm vi rút khỉ Mason Pfiser, loại retrovirus ức chế miễn dịch lần đầu được biết đến, một loại vi rút bao gồm cả vi rút HIV gây suy giảm miễm dịch ở người”.

Các vi rút phòng thí nghiệm đã bị cấy chuyển từ loài vật này sang loài vật khác. Và giữa những năm 1970, các mầm ung thư mới đã được tạo ra bởi một quá trình của công nghệ gene. Trong quá trình đó, cái gọi là “rào cản loài” đã thường xuyên bị phá vỡ. Trong thời kỳ 1977-1978, chương trình vi rút ung thư đã sản xuất 60.000 lít vi rút gây ung thư và ức chế miễn dịch.

Công cuộc nghiên cứu quân sự rộng lớn đó thực hiện được là nhờ sự giúp đỡ của Viện Y tế quốc gia và Viện Ung thư quốc gia. Trong báo cáo của mình năm 1991 “Cuộc chiến ung thư”, Hatch kết luận :”Trong khi Nixon ra lệnh dường như là để chấm dứt những nỗ lực tấn công bằng chiến tranh vi trùng năm 1969. Chương trình vi rút ung thư rất có thể bề ngoài làm ra vẻ tìm cách chữa trị ung thư trong khi thực ra là để tiếp tục các cuộc thử nghiệm chiến tranh vi trùng”.

Như dự đoán của các chuyên gia chiến tranh vi trùng, các vi rút quái vật gây ung thư mới được tạo ra có tác động chết người lên hệ miễn dịch. Trong một thí nghiệm được báo cáo vào năm 1974, các con tinh tinh mới sinh được tách khỏi mẹ chúng khi ra đời và được nuôi dưỡng bằng sữa lấy từ các con bò bị nhiễm vi rút. Một số con tinh tinh bị bệnh và chết do hai bệnh chưa từng thấy ở tinh tinh - thứ nhất là viêm phổi pneumocystis carinii (sau này được gọi là “viêm phổi của người đồng tính” bị bệnh AIDS); thứ hai là bệnh bạch cầu, một bệnh ung thư máu.

Có ít nhà khoa học tỏ ra quan tâm về sự an toàn của các phòng thí nghiệm, nơi có các vi rút đột biến và vi trùng siêu đẳng nguy hiểm đó Điều gì sẽ xảy ra nếu một trong những con vi trùng công nghệ gene chết người đó thoát ra khỏi phòng thí nghiệm.

Tháng 11 năm 1973, một hội nghị cấp cao có tên gọi là “Các tai biến trong nghiên cứu sinh học” được triệu tập ở Asilomar, gần Pacific Grove ở Bắc California. Các chuyên gia vi rút học ung thư hàng đầu đã sẵn sàng thừa nhận rằng không có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa sự đào thoát của các vi rút gây ung thư rất nguy hiểm đó vào cộng đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp có “tai nạn”, các kế hoạch đã được vạch ra để bảo đảm rằng việc đưa một vi rút ấy vào cộng đồng người có thể bị phát hiện và điều tra.

Tại hôi nghị, các chương trình bệnh dịch học phức tạp và công phu đã được vạch ra. Các cơ quan chính phủ sẽ giám sát các nhóm hay “đám đông” người “có thể bị ảnh hưởng bởi nguy cơ” vi rút thoát ra trong tương lai. Các nhóm khác “trước đây đã bị ảnh hưởng bởi nguy cơ” của các vi rút gây ung thư cũng sẽ được đặt dưới sự giám sát. Các nhà nghiên cứu ở Asilomar đã biết rõ những rủi ro nghiêm trọng cúa công cuộc nghiên cứu vi rút ung thư. Song, họ cũng hiểu sứ mệnh khoa học của họ, là chứng tỏ rằng các vi rút ung thư của loài vật có thể gây ung thư ở người.

Các nhà khoa học như Francis Black của trường Đại học Yale không chống lại việc chấp nhận rủi ro. “Nếu chúng ta thực sự tin vào sứ mệnh của mình là cố tìm cách kiểm soát ung thư thì nên chấp nhận một mức rủi ro nào đấy. Nếu như, như người ta nói, năm hay mười người có thể mất mạng, điều đó có thể là một giá nhỏ để nhiều mạng người khác được cứu”.

Khoa học và đạo đức đã chính thức cắt đứt quan hệ.

ca_va
22-01-2006, 06:07 AM
Âm mưu diệt chủng bằng AIDS. Kỳ 6: AIDS có phải là một bệnh dịch do người tạo ra
hiv.com.vn - 00:00' 13/09/2005 (GMT+7)


http://www.hiv.com.vn/Upload/879.jpg

Ngay sau khi Gallo tuyên bố vào tháng 4 năm 1984 rằng mình là người phát hiện ra vi rút HIV, Luc Montagnier khẳng định mình đã phát hiện vi rút HIV một năm trước Gallo. Montagnier, một nhà nghiên cứu của Viện Pasteur, đã cô lập được loại vi rút của mình khỏi các hạch bạch huyết bị sưng của một người ở Pari đồng tính đã có quan hệ tình dục ở Manhattan năm 1979. Tháng 1 năm 1983, Montagnier gởi loại vi rút của mình cho phòng thí nghiệm của Gallo để nhận dạng.

Montagnier và Viện Pasteur giờ đây tố cáo Gallo đã ăn cắp vi rút của Pháp và trình bày với giới khoa học như là phát hiện của mình. Những người Pháp đòi hỏi rằng họ phải được công nhận là những người thực sự phát hiện ra vi rút gây ra AIDS.

Gallo đã bác bỏ lời tố cáo, khẳng định rằng vi rút của Montagnier kông phải là vi rút gây AIDS thực sự.

Trung tâm kiểm soát bệnh tật đứng về phía Gallo, nhấn mạnh rằng vi rút của Pháp và vi rút gây AIDS cúa Gallo là hai loại vi rút hoàn toàn khác nhau. Cuối cùng thì hai loại vi rút “khác nhau” đó được chứng minh là một.

Năm 1985, Viện Pasteur đệ đơn kiện chính phủ Mỹ. Những người Pháp biện luận rằng họ là những người thực sự phát hiện vi rút gây ra AIDS, và họ muốn được hưởng toàn bộ phần lợi tức của mình từ công nghiệp AIDS mới. Các luật sư Pháp nói bóng gió về những điều không đúng về mặt khoa học và những sự thay đổi các tài liệu khoa học về phía những người Mỹ. Các luật sư cũng cho biết về những sai lầm nghiêm trọng trước kia của Gallo trong việc nhận dạng vi rút. Chẳng hạn, “phát hiện” năm 1975 của Gallo về một vi rút HL-23 “mới” và “của người” cuối cùng được chứng tỏ là ba loại vi rút khỉ không đuôi bị nhiễm trùng (vi rút vượn, vi rút ung thư mô liên kết của khỉ, và vi rút nội sinh của khỉ mõm chó). Gallo kêu là ông ta không hiểu tại sao các vi rút đó đã nhiễm vào mẫu nghiên cứu của ông.

Chứng cớ pháp lý khác còn tai hại hơn. Gallo đã nói đi nói lại rằng vi rút của Montagnier không phải là vi rút thật. Ông ta cũng khẳng định vi rút của Montagnier không nhiễm vào các chỗ nuôi cấy của ông. Nhưng việc điều tra sau này chứng tỏ rằng hai loại vi rút gây ra AIDS đó chỉ là một loại mà thôi. Các luật sư Pháp có thể dễ dàng chứng minh Gallo đã ăn cắp vi rút gây ra AIDS của Montagnier.

Đầu năm 1987, Thủ tướng Pháp và Tổng thống Ronald Reagan can thiệp vào vấn đề đang ngày càng nhạy cảm đó. Sau các cánh cửa đóng kín, người ta đã quyết định rằng việc tranh cãi khoa học về AIDS ở trước tòa sẽ có thể gây ra những rắc rối lớn. Vấn đề chiến tranh vi trùng là đặc biệt nhạy cảm. Và không chính phủ nào muốn có bất kỳ sự ám chỉ bóng gió nào về chiến tranh vi trùng được đưa ra trước công chúng.

Người ta đã có một cuộc dàn xếp nhanh chóng bên ngoài toà án với số tiền không được tiết lộ, và công chúng muốn dấu một vụ scandal khoa học của thế kỷ. Người Pháp được chính thức chấp nhận là những người cùng phát hiện ra vi rút gây ra AIDS, và năm sau Gallo và Montagier cùng bắt đầu thu 100.000 đôla hàng năm từ bản quyền phát minh về cách thử máu dùng để phát hiện các kháng thể vi rút HIV.

Câu chuyện nguồn gốc từ khỉ của Gallo vẫn là câu chuyện AIDS chính thức. Dẫu sao thì một số rạn nứt trong thuyết khỉ đã xuất hiện trên sách báo. Ngày 2 tháng 6 năm 1988, một bài nhan đề “Nghiên cứu bác bỏ ý kiến cho rằng vi rút gây AIDS ở người bắt nguồn từ khỉ” xuất hiện trên tờ Thời báo Los Angeles. Trong quá trình giải mã và so sánh cấu trúc gene của vi rút ở khỉ với vi rút gây AIDS ở người, các nhà sinh học phân tử ở Nhật đã phát hiện ra rằng các chuỗi gene của hai loại vi rút đó khác nhau hơn 50%. Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu kết luận rằng không có mối liên hệ gene giữa khỉ xanh và vi rút gây AIDS. Phát hiện của các nhà sinh học phân tử Nhật Bản hoàn toàn trái ngược với quan điểm chính thức của Gallo và Essex.

Các nhà đìều tra Nhật Bản đặc biệt phê phán Myron (Max) Essex và Phyllis Kanki của khoa Y trường đại học Harvard, là những người “đã phát hiện” một vi rút gây AIDS thứ hai ở khỉ xanh châu Phi mà ban đầu đã được thông báo trong giới y học và giới truyền thông. Nhưng loại vi rút gây AIDS “thứ hai“ của Essex và Kanki tỏ ra là một loại vi rút “ô nhiễm” khác. Nguồn gốc của vi rút khỉ ô nhiễm được dò ra là ở phòng thí nghiệm riêng của các nhà nghiên cứu ở đại học Harvard.

Nếu vi rút gây AIDS của người không liên quan tới khỉ xanh châu Phi thì nguồn gốc của nó là gì ? Theo Robert Steinbrook, người viết về những vấn đề y học trên tờ Thời báo Los Angeles : “Những phát hiện mới (của Nhật Bản) hỗ trợ những cách giải thích khác về nguồn gốc vi rút gây AIDS của người. Đó là, chúng khởi đầu từ những tổ tiên chung của người và linh trưởng, chúng hiện diện trong các nhóm người biệt lập vài trăm hay vài ngàn năm, hay sự tồn tại của vi rút giống như vi rút gây AIDS nguyên mẫu trước đây chưa được nhận ra, lần đầu tiên nhiễm sang người trong thời hiện đại.” Tôi cố hiểu người viết định nói gì, nhưng dường như đó là cách nói lập lờ để che dấu tư tưởng khoa học rối rắm và nguồn gốc thật sự của HIV.

Phi vụ làm ăn từ con khỉ của Gallo thật ra là một sự xào nấu sự thật và viễn tưởng. Điều rõ ràng là vị chuyên gia vi rút hàng đầu thế giới ấy không thể bao giờ cũng phân biệt được giữa các vi rút ở loài vật và vi rút ở người, cũng không thể lúc nào cũng phân biệt được các vi rút phòng thí nghiệm ô nhiễm với vi rút trong tự nhiên. Tuy vi rút HIV của ông và vi rút của Pháp được chứng minh là đồng nhất, ông ta vẫn khẳng định chúng là những vi rút hoàn toàn khác nhau. Thế mà ông vẫn là vị vua về AIDS, được kính trọng, tôn vinh, được thưởng hậu hĩ bởi giới quan chức khoa học và y học.

Gần đây, vương quốc của Gallo tại Viện Ung thư quốc gia có dấu hiệu sụp đổ. Các nhà điều tra độc lập tại Viện Ung thư quốc gia đã kết luận rằng ông đã giả mạo và mạo nhận các ấn phẩm khoa học của mình. Tiến sĩ Prem Sarin, nguyên phó phòng của ông ở phòng thí nghiệm Viện Ung thư quốc gia, bị bồi thẩm đoàn truy tố về tội đã nhận tiền bất hợp pháp từ một công ty thuốc và dối trá trong các bản khai tài chính. Các viên chức Viện Ung thư quốc gia tố cáo Gallo có hành vi vô đạo đức và kiến nghị vĩnh viễn không cho Mikulas Poporic, phó phòng hiện nay của ông, được nghiên cứu y học.

Hòa cùng những phiền toái khoa học hiện tại của Gallo là những lời ầm ỹ trong giới truyền thông gợi ý rằng AIDS có thể đã bắt đầu từ các cuộc thử nghiệm trên người hay các vác-xin bị nhiễm trùng.

AIDS có phải là một bệnh dịch do người tạo ra ? Một số câu chuyện trên sách báo những năm 1991-1992 dường như chỉ theo hướng đó.

ca_va
22-01-2006, 06:17 AM
Âm mưu diệt chủng bí mật bằng AIDS.
Kì 7: AIDS, căn bệnh mới hay cũ?
hiv.com.vn - 00:00' 20/01/2006 (GMT+7)


http://www.hiv.com.vn/Upload/1556.jpg

7. AIDS : Căn bệnh mới hay cũ ?

AIDS có được “đưa” vào cộng đồng đồng tính thông qua thử nghiệm viêm gan B ở thành phố New York tháng 11 năm 1978 hay không ? Hay HIV có trong dân đồng tính ở Manhattan trước năm đó ? Những câu hỏi quan trọng đó chưa bao giờ được trả lời đầy đủ bởi cơ quan có thẩm quyền về AIDS.

Có sự nhất trí chung là các mẫu máu cũ (trước năm 1978) của người Mỹ đều có xét nghiệm âm tính đối với kháng thể HIV. Đây là lý do tại sao hầu hết các nhà dịch tễ học tin HIV được đưa vào Mỹ khoảng năm 1978.

Các mẫu máu trước năm 1978 lấy từ những người đàn ông đồng tính trong cuộc thử nghiệm viêm gan của Szmuness có xét nghiệm âm tính với HIV. Tuy nhiên, việc xem xét các mẫu máu của các năm 1978-1979 lưu giữ tại Trung tâm Máu thành phố New York được báo cáo là có 6,6% số người đồng tính được tiêm vác-xin viêm gan là dương tính HIV.

Làm thế nào mà những người đồng tính trở thành dương tính HIV trong năm 1978 ? HIV có mặt ở thành phố New York trước năm 1978 hay không ? Và nếu HIV có mặt trong dân đồng tính trước năm 1978, vi rút đó có nhiễm vác-xin của Szmuness được làm từ máu của những đàn ông đồng tính mang vi rút viêm gan B hay không ?

Không có lẽ nguồn lây nhiễm của HIV là máu gom lại của dân đồng tính được dùng để làm vác- xin thí nghiệm, vì phải mất 65 tuần lễ để chế tạo vác-xin. Điều đó có nghĩa là việc sản xuất vác-xin của Szmuness bắt đầu từ năm 1977. Nếu HIV đã có trong cộng đồng người đồng tính Manhattan từ năm 1977 thì một số mẫu máu người đồng tính hải có xét nghiệm dương tính. Nhưng, như đã nói, các xét nghiệm máu người đồng tính năm 1977 là âm tính HIV.

HIV có được “đưa vào” vài trăm người đồng tính tình nguyện đã được tiêm vác-xi trong các tháng trước khi cuộc thử nghiệm của Szmuness chính thức bắt đầu tháng 11 năm 1978 hay không ? Khả năng này không thể bỏ qua.

Mặc dầu các câu hỏi đó không được trả lời, dường như rõ ràng rằng nguồn gốc của vi rút gây AIDS là từ cuộc thử nghiệm với dân đồng tính của Szmuness. Hơn nữa, không có trường hợp nào chứng minh có AIDS ở Manhattan được ghi trong các năm 1976, hoặc 1977 hay 1978. Theo các nhà dịch tễ học của Trung tâm kiểm soát bệnh tật, trường hợp chứng minh có AIDS đầu tiên ở người đồng tính xuất hiện ở Manhattan năm 1979, một thời gian ngắn sau khi cuộc thử nghiệm bắt đầu.

Năm 1982, một năm sau khi “chính thức” diễn ra dịch AIDS, không một chuyên gia nào về AIDS từng bình luận về mối liên quan rõ rệt giữa cuộc thử nghiệm trên dân đồng tính và sự bùng phát đặc biệt của AIDS trong cộng đồng đồng tính.

Sau khi tiến sĩ Robert Strecker công bố quan điểm của mình năm 1986, và sau khi cuốn sách AIDS và các bác sĩ thần chết được xuất bản năm1988, các chuyên gia đã hát minh những thuyết mới để giải thích AIDS đã bắt đầu ra sao trong cộng đồng đồng tính nam. Tiến sĩ Strecker và tôi cho là các nhà nghiên cứu AIDS của Chính phủ Mỹ đang tung ra những câu chuyện cho giới truyền thông nhằm đánh bại nghiên cứu của chúng tôi về nguồn gốc của AIDS.

Tiến sĩ Mathilde Krim, đồng Chủ tịch (cùng với Elizbeth Taylor) của Tổ chức nghiên cứu AIDS của Mỹ, cũng trình bày một thuyết khác nhưg nó nhanh chóng biến mất. Trong tạp chí Phỏng vấn (số ra tháng 2 năm 1987) Krim giải thích AIDS đã bắt đầu trong cộng đồng đồng tính nư thế nào : “Chúng ta có lẽ đã bắt đầu đưa AIDS vào nhữg người đàn ông đồng tính bằng cách tiêm chủng họ với globulin gama bị lây nhiễm, có lẽ đó là những gì đã xảy ra”. (Globulin gamalà một sản phẩm máu tiêm được, hiện diện kháng nguyên, đôi khi được sử dụng để tạm thời tăng cường sự miễn dịch chống lại bệnh tật như viêm gan và các bệnh do vi rút khác).

Theo Krim, máu gom lại được dùng trong sản xuất globulin gamađã tình cừ bị nhiễm vi rút AIDS. Máu bị nhiễm đó có lẽ lấy từ các tù nhân bị giam ở châu Phi và Caribê. Bà ta mau chóng bác bỏ mọi sự liên hệ với cuộc thử nghiệm viêm gan B năm 1978 bằng cách tuyên bố (sai lầm) rằng “chúng ta đã có ca AIDS trước đó”. Ba khăng khăng cho rằng các ca AIDS “xảy ra ít nhất 5 năm trước đó” và kết luận rằng “AIDS hẳn phải xảy ra vào đầu những năm 1970”. (Như đã nêu trên, Trung tâm kiểm soát bệnh tật đã tìm ra ca AIDS đầu tiên ở thành phố New York năm 1979).

Mặc dầu Krim có đưa ra quan điểm về nguồn gốc của AIDS, tôi không bao giờ thấy lại thuyết của bà trên các sách báo, hay nghe thấy bất kỳ nhà nghiên cứu AIDS nào bình luận về nó. Lý do, có lẽ là thuyết của bà có quá nhiều lổ hổng và sự không chính xác khiến không ai có thể ủng hộ.

ca_va
22-01-2006, 06:21 AM
Âm mưu diệt chủng bí mật bằng AIDS.
Kì 8: Những người da đen
hiv.com.vn - 00:00' 21/01/2006 (GMT+7)


http://www.hiv.com.vn/Upload/1563.jpg

8. Những người da đen. Những người da đen hiểu rất rõ sự diệt chủng. Trong ba thế kỷ, họ đã bị bắt cóc từ các làng mạc châu Phi, bị xích rồi chở bằng tàu thủy đến châu Mỹ và đem bán làm nô lệ. Thời đó tình trạng nô lệ được coi là đúng về chính trị và được sự ủng hộ nhiệt tình của nhiều người cơ đốc da trắng. Sự đối xử vô nhân đạo đối với người da đen không gây nên mối quan tâm lớn nào đối với dân da trắng sống theo giáo lý của Giêsu và kinh thánh. Những người da đen bị coi là các con vật. Như vậy, những giáo lý của kinh thánh về tình anh em và tình yêu không áp dụng cho nô lệ.

Dân da đen hoàn toàn hiểu quyền lực và tai họa từ phía dân da trắng. Không may là người da đen vẫn còn chịu những ảnh hưởng tồi tệ của thành kiến bao thế kỷ bị xã hội bỏ rơi. Nạn giết người và AIDS nay là những nguyên nhân hàng đầu đem đến cái chết cho thanh niên da đen.

Mỗi người da đen đã nghe đồn đại rằng AIDS là một vi rút được tạo ra bằng kỹ thuật gene để giết hết chủng tộc da đen. Theo kết quả thăm dò của tờ Thời báo New York (số ra ngày 29-10-1990), 30% dân da đen ở New York đều thực sự tin rằng AIDS có thể là một vũ khí sinh học phân chủng đặc biệt được làm ra trong phòng thí nghiệm nhằm gây lan nhiễm và giết người da đen.

Louis Farrakhan, lãnh tụ tinh thần của dân tộc Hồi giáo, tố cáo các bác sĩ Do Thái đã tiêm AIDS cho các hài nhi da đen. Ông giảng giải rằng, những người Do Thái giàu có đứng đằng sau chương trình diệt chủng, y như cách họ đã câu kết chặt chẽ trong việc buôn nô lệ rất có lãi với các cơ sở của người Hà Lan.

Khi bàn về những niềm tin có tính chất kích động của Farrakhan, Morris Wolfe khẳng định rằng “nhiều người da đen, đặc biệt là đàn ông, bao gồm cả số lượng đang tăng lên các sinh viên đại học, bây giờ tìm đến sự lãnh đạo của Farrakhan. Ở đây có một cương kĩnh đơn giản : Không nam nữ bình đẳng hay các quyền của dân đồng tính, không nạo thai, không thịt heo, không ma túy hay rượu, không bàn cãi”.

Khi lần đầu tiên tôi gặp tiến sĩ Strecker, tôi đã hỏi về “mối liên hệ” của AIDS trong dân đòng tính với châu Phi. “Không có gì cả”, ông trả lời. “”Tất cả cái đó là màn che lớn để giấu diếm sự thật. Những người châu Phi đã bị nhiễm bệnh đó trong chương trình tiêm vác-xin đậu mùa. Châu Phi da đen bị định đoạt phải chết”.

Thoạt tiên, dự đoán của tiến sĩ Strecker về châu Phi dường như không có cơ sở. Nhưng tờ Thời báo (số ra ngày 16-2-1987) dẫn lời Sam Okware, Bộ trưởng Y tế Uganda, nói :”Đến năm 2000, cứ một trong hai người lớn hoạt động tình dục sẽ bị nhiễm bệnh”.

Năm năm sau, bìa tờ tạp chí Thời báo Los Angeles (số ra ngày 1-3-1992) có hình một bà mẹ châu Phi da đen ôm con trong lòng. Tiêu đề là “Bản án tử hình của châu Phi : nơi mà phụ nữ bất lực, AIDS đang lan tràn không ngừng từ chồng sang vợ, mẹ sang con. Và một lục địa đang chết.” Câu chuyện của Scott Kraft khẳng định rằng vào năm 2000, ước tính có 15 triệu người da đen châu Phi sẽ chết vì AIDS. Hiện tại, cứ bốn trong năm phụ nữ bị nhiễm AIDS là ở châu Phi. Tuy dân châu Phi chỉ chiếm 10% dân số thế giới, lục địa này chiếm hai phần ba số ca AIDS toàn thế giới.

WHO ước tính rằng 25% lực lượng lao động châu Phi sẽ bị quét sạch trong 20 năm tới, và tuổi thọ trung bình sẽ bị sụt từ 60 xuống 47.

Tiến sĩ Robert Strecker tin rằng “kế hoạch” độc ác đối với châu Phi được giải thích rõ ràng trong một bản ghi nhớ năm 1972 được công bố trong Bản tin WHO. Báo cáo đó chỉ rõ rằng sự lây nhiễm các retrovirus nào đó có thể đưa đến “sự tổn hại” đối với hệ thống miễn dịch, đặc biệt đối với các tế bào máu trắng được gọi là “các tế bào T”. Sự tổn hại hệ thống miễn dịch đó cũng có thể dẫn đến ung thư. WHO kiến nghị “đánh giá có hệ thống” các retrovirus ức chế miễn dịch ấy. Phần hai của bản ghi nhớ ấy duyệt lại những kết quả của các cuộc thử nghiệm lên động vật trước đây “dính líu nghiêm trọng đến bệnh của người và nghiên cứu lâm sàng”.

Cũng trong năm đó (1972), một tài liệu công bố trong Hồ sơ liên bang đề nghị nghiên cứu tiếp về “các kháng nguyên” vi khuẩn và vi rút đã giết một cách có lựa chọn các tế bào T trong máu. Ủy ban khoa học đã “hình dung” các cuộc thí nghiệm vác-xin lên người được tiến hành trên các nhóm cá thể cùng huyết thống “trong cuộc tiêm chủng phòng ngừa”. Nói rõ hơn, cụm từ “các nhóm cá thể cùng huyết thống” là để chỉ các trẻ em trong cùng một gia đình. “Trong cuộc tiêm chủng phòng ngừa” có nghĩa là với các trẻ em, người ta đã lén đưa vào các tác nhân lây nhiễm “thí nghiệm”(tức là “các kháng nguyên vi rút và vi khuẩn”) vào thời điểm tiêm chủng thường lệ. Các viên chức WHO nhấn mạnh sự cần thiết “lựa chọn một đám người có thể được kiểm soát thích hợp”.

Trong vòng vài năm diễn ra các cuộc thử nghiệm bí mật theo đề nghị ấy, một bệnh ức chế miễn dịch bí ẩn mới bắt đầu giết hàng triệu người da đen châu Phi.

Tiến sĩ Strecker đã đúng. Châu Phi da đen đang tiến tới diệt chủng


Các ca AIDS của châu Phi bắt đầu xuất hiện cùng khoảng thời gian với các ca AIDS được phát hiện ở Manhattan

và Haiti. Tuy Robert Gallo và Max Essex tuyên bố rằng một số mẫu máu châu Phi “cũ” có kết quả xét nghiệm “dương tính”, sự thực vẫn là không có ca nào ở châu Phi sớm hơn cuối những năm 1970.

Trong cuốn Bệnh dịch học về AIDS, Thomas Quinn và Jonathan Mann viết : ”Những ca AIDS đầu tiên được khẳng định ở những người châu Phi cận Sahara đã được báo cáo từ châu Âu năm 1983”. Quinn và Mann cũng cảnh báo phải đề phòng những nguy cơ xét nghiệm máu “cũ” của người châu Phi với ý đồ chứng tỏ “sự có mặt trong quá khứ của HIV-1 ở châu Phi”. Do vấn đề các xét nghiệm máu “giả dương tính”, giờ đây các nhà bệnh lý học tin rằng “một số báo cáo sớm về tần số cao của bệnh di truyền trong huyết thanh từ Đông và Tây Phi trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 bây giờ được xem là không thể giải thích được”.

Để chứng minh rằng AIDS không phải là một bệnh cũ ở châu Phi, một nhóm các nhà khoa học do J.W. Carswell lãnh đạo đã xét nghiệm máu của những người già không hoạt động tình dục, sống trong các nhà dưỡng lão ở Kampala – thành phố lớn nhất của Uganđa và là tâm điểm AIDS của châu Phi. Máu những người già được xét nghiệm đối chiếu với 716 người lớn khỏe mạnh, có hoạt động tình dục, sống trong cùng thành phố. Mười lăm phần trăm người khóe mạnh có kết quả xét nghiệm dương tính với các kháng thể HIV nhưng không có người già nào có kết quả xét nghiệm dương tính.

Nghiên cứu năm 1986 đó chỉ rõ vi rút HIV không hề có ở Uganđa trong một thời gian dài như Gallo và Essex đã công bố. Các nhà nghiên cứu kết luận : “Các kết quả trình bày ở đây không chứng minh cho các đề xuất trước đây rằng vi rút có thể bắt nguồn ở Uganđa; trái lại, nếu giải thích cho đúng, chúng cho thấy rõ nó chỉ mới đến nước này trong một thời gian gần đây thôi”.

Năm 1989, một nhóm khoa học khác đã điều tra sự nhiễm kháng thể HIV trong số dân San sống nửa du mục ở sa mạc Trung Kalahari ở Bốtxoana. Những người San được coi là chủng tộc cổ nhất hiện sống ở châu Phi. Những bộ xương kiểu người San có niên đại 15.000 năm hay hơn nữa. Lưu ý rằng “nguồn gốc của sự lây nhiễm retrovirus ở người là một vấn đề còn đang tranh luận”, nhóm khoa học này đã xét nghiệm 150 người San trưởng thành. Không có ai có kết quả xét nghiệm dương tính HIV.

Các kết quả của cuộc nghiên cứu này, cũng như các nghiên cứu khác, tất cả đều gợi lên nghi ngờ về nguồn gốc châu Phi của HIV và bác bỏ “sự thật” rằng HIV đã có ở đâu đó tại châu Phi hàng thế kỷ và hàng ngàn năm. Như tiến sĩ Strecker hay nói, “Nếu HIV ở đâu đó tại châu Phi lâu lắm rồi, thì nó ở đâu ?”.

Richard và Rosalind Chirimuuta, trong cuốn sách nghiên cứu cẩn thận và đầy đủ tư liệu của họ : AIDS, châu Phi và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã hết sức phê phán Robert Gallo và quyết tâm của ông ta chứng minh nguồn gốc châu Phi của AIDS và HIV. Họ cho rằng công trình khoa học của ông ta “ dường như chịu ảnh hưởng của ám ảnh phân biệt chủng tộc”. Hai ông bà Chirimuuta bàn trên tờ Thời báo Luân Đôn về câu chuyện đậu mùa và khẳng định rằng HIV là một vi rút do con người tạo ra. Tuy các nhà khoa học đã bác bỏ thuyết con người tạo ra HIV do thiếu chứng cớ, các tác giả viết :”Không có chứng cớ có lẽ vì mọi người quá bận rộn săn đuổi thuyết về các con khỉ trong rừng rậm”.

Sau khi nhắc người đọc nhớ lại tai nạn chết người trong phòng thí nghiệm, trong đó “vi rút Marburg” đã được truyền từ các con khỉ xanh sang người năm 1977, ông bà Chirimuuta kết luận :”Nếu có sự thật nào trong giả thuyết cho rằng vi rút gây AIDS bắt nguồn từ các con khỉ, dường như điều thích hợp là phải điều tra về nghiên cứu y học hiện đại hơn là suy đoán rộng theo kiểu dốt nát và chướng tai về tục lệ và hành vi của những người châu Phi như vậy”.

ca_va
22-01-2006, 06:22 AM
Ở Mỹ, các cuộc thử nghiệm có tính chất phân biệt chủng tộc sử dụng những người da đen như những con chuột thí nghiệm giờ đây đã được mọi người biết đến. Trong năm 1932, một cuộc thử nghiệm y học do Cơ quan Y tế Mỹ tiến hành với 400 người lính canh da đen nghèo và mù chữ ở Tuskegee, bang Alabama. Tất cả đều bị bệnh giang mai. Các bác sĩ thực hiện cuộc thử nghiệm đã nói dối những người đàn ông đó và gia đình họ rằng họ bị “máu xấu”. Dưới sự giám sát của chính phủ và cơ quan có thẩm quyền về y tế, cuộc thử nghiệm ở Tuskegee đã kéo dài 40 năm.

Cuộc thử nghiệm có tính chất phân biệt chủng tộc đó vừa đơn giản, vừa độc ác. Các thầy thuốc muốn biết điều gì sẽ xảy ra với họ nếu ngừng điều trị giang mai. Các bác sĩ cam đoan với họ rằng họ sẽ được chăm sóc, chữa trị miễn phí căn bệnh “máu xấu” cho những người đàn ông này và cung cấp tất cả chăm sóc y tế miễn phí.

Những năm 1940, khi đã có pênixilin để chữa trị bệnh giang mai, những người đàn ông đó không được điều trị vì việc điều trị sẽ làm hỏng cuộc thử nghiệm y học. Suốt cuộc đời họ, họ không bao giờ biết rằng họ bị mắc bệnh hoa liễu nghiêm trọng, đe doạ tính mạng. Một số người đã truyền bệnh cho vợ và người yêu của họ qua đường tình dục. Một số cháu bé do các phụ nữ nhiễm bệnh đó sinh ra đã bị bệnh giang mai. Khi họ chết, những người làm cuộc thử nghiệm cung cấp tiền chi phí đám ma và chôn cất với điều kiện gia đình họ cho phép mổ xác ở một bệnh viện riêng dành cho cuộc nghiên cứu.

Trong phong trào nhân quyền của người da đen những năm 1960, Chính phủ Mỹ bị áp lực mạnh đòi chấm dứt cuộc thử nghiệm vô đạo đức và có tính chất phân biệt chủng tộc đó. Năm 1972, cuộc nghiên cứu bệnh giang mai ở Tuskegee cuối cùng đã bị xóa bỏ. Báo cáo cuối cùng của nghiên cứu bệnh giang mai ở Tuskegee xuất hiện trong cuốn Máu xấu của James H.Jones. Martin P.Levine cũng báo cáo về việc nghiên cứu gây chấn động này với hàm ý diệt chủng (“Máu xấu”, trên tờ Người New York, số ra ngày 16-2-1987). Levine nhấn mạnh rằng thử nghiệm ở Tuskegee được Trung tâm Kiểm soát bệnh tật giám sát, đây cũng là cơ quan của chính phủ hiện đang theo dõi dịch AIDS.

Có nhiều người da đen tin rằng họ đang bị các nhà khoa học phân biệt chủng tộc Mỹ sử dụng như những kẻ có tội về căn bệnh AIDS. Ngay cả mối liên hệ của u ác tính trên da của dân đồng tính với u ác tính trên da (KS) của người châu Phi cũng chứng tỏ là giả. Khi xét ngiệm vi rút AIDS, phần lớn các bệnh nhân KS châu Phi có HIV âm tính.

Ý nghĩa chính xác của KS coi như chỉ thị của nhiễm HIV và AIDS tiếp tục làm rối các nhà khoa học về AIDS. Cuối những năm 1970, KS không bao giờ là một chỉ thị của AIDS. Nhưng khi “đưa ra” vi rút gây AIDS, KS trở thành một bệnh ung thư thường thấy trong những người đồng tín nhiễm HIV. Theo định nghĩa, một bệnh nhân u da ác tính có xét nghiệm dương tính HIV được chẩn đoán là AIDS. Ngược lại, các bệnh nhân KS có HIV âm tính không thể chẩn đoán là AIDS.

Phớt lờ sự cần thiết phải đối chiếu một chẩn đoán lâm sàng KS với một xét nghiệm máu HIV, các nhà nghiên cứu giờ đây điều tra các ca KS “cũ” và đặt ra thuyết về nguồn gốc AIDS. Năm 1987, các chuyên gia bệnh truyền nhiễm Harold Katner và George Panker xem lại 28 ca KS chết người nhanh chóng, lúc ấy được phân loại lại là “các ca kháng nguyên có thể” của AIDS, và được đưa ra làm “chứng cớ” rằng AIDS không bắt nguồn ở châu Phi. Trên cơ sở của nghiên cứu trong thư viện ấy, Katner và Panker kết luận rằng vi rút AIDS có nguồn gốc “Âu - Mỹ” và rằng AIDS được “xuất khẩu” sang châu Phi, nhưng giọng điệu kỳ thị trong báo cáo của họ gợi ý rằng nó được xuất khẩu bởi những người đàn ông đồng tính Mỹ đã “từ bỏ lối sống tình dục khác giới”.

Trong một bức thư gởi người biên tập nhan đề “Nguồn gốc của AIDS” công bố trong Tạp chí Hội Y học Mỹ, Harold Katner suy đoán tiếp về vai trò của retrovirus ngựa, dê và bò trong sự bùng nổ AIDS. “Các vi rút đó được tìm thấy ở các động vật châu Âu và Mỹ, người ta báo cáo rằng tất cả các con vật này đã có những tiếp xúc tình dục của người, (như vậy) giải thích một cách có thể truyền bệnh giữa các loài”.

Trong một cố gắng khác “chứng tỏ” rằng các ca AIDS đã tồn tại trước khi đưa HIV ra ánh sáng cuối những năm 1970, một vài thầy thuốc Ixraen đã xem lại 19 ca trong sách báo y học gợi ra có “AIDS trong kỷ nguyên trước AIDS”. Mười sáu bệnh nhân đã nhiễm bệnh cơ hội, ba người có KS. Các ca đó là năm 1950 và gồm hai người đàn ông chắc chắn là đồng tính. Những người Ixraen kết luận :”Xét theo số liệu lịch sử, các ca AIDS không được phát hiện có dấu hiệu đã xảy ra rải rác trong kỷ nguyên trước AIDS”. Bài báo này được công bố trong ấn phẩm có uy tín Điểm qua các bệnh truyền nhiễm tháng 11 năm 1987.

Trước AIDS, tất cả các ca KS tôi gặp đều ở những người đàn ông Do Thái lớn tuổi. Cho tới nay, tôi chưa bao giờ thấy phụ nữ có KS, tuy các ca bẹnh của phụ nữ có được báo cáo. Ở Mỹ, trước khi có dịch, KS được chẩn đoán thường xuyên nhất là ở những người Do Thái.

Cho đến năm 1950, chỉ có 600 ca KS được ghi lại trong sách báo y tế thế giới. Rõ ràng các ca khác đã xảy ra nhưng không được ghi lại. Trong cuốn U ác tính trên da (1957), chuyên gia da liễu Sam Bluefarb viết :”Ở nhiều thành phố lớn, KS không được báo cáo trừ phi bệnh nhân có biểu hiện bất thường về bệnh này”.

[FONT=Tahoma]Quan điểm của Bluefarb được nhắc lại năm 1973 khi ba chuyên gia da liễu ghi lại một trăm người New York có KS đủ chứng cứ. Một trăm bệnh nhân đó có tuổi từ 40 đến 89, trong đó 78 người là đàn ông, 53 là Do Thái, 18 là người Italia. Các thông tin sau này về 56 bệnh nhân tiết lộ rằng không ai chết vì bệnh đó. Các thầy thuốc viết báo cáo nhận xét “đây rõ ràng là một số đông bệnh nhân KS được báo cáo lần đầu tiên trong thế giới phương Tây”. Họ ước tín “mức độ và phạm vi phổ biến thực sự của KS có lẽ lớn hơn gấp vài lần con số ước tính mà sách báo đã công bố”.

ca_va
22-01-2006, 06:23 AM
Khi sử dụng kiểu lô gích “khoa học” để trình bày, các tập san hiện nay vẫn nói bóng gió rằng tình dục đồng tính, tình dục của người da đen, và tình dục động vật là gốc rể của AIDS, tôi có thể hình dung Louis Farrakhan tuyên bố có lý rằng những người Do Thái ở New York bị KS là những người chịu trách nhiệm về sự bùng phát AIDS không những ở Mỹ mà cả ở châu Phi nữa.

Năm 1992, qua bài của báo Đá lăn và sự rùm beng trên các phương tiện truyền thông, công chúng Mỹ được biết các vác-xin bại liệt bị nhiễm trùng chứa vi rút của khỉ xanh gây ung thư. Có thể nào AIDS ở châu Phi đã bắt nguồn từ vác-xin bại liệt được tiêm chủng cho nhiều triệu người da đen châu Phi trong những năm 1950 hay không ?

Khi người viết là Tom Curtis hỏi David Haymann về khả năng này, viên chức của WHO đó tuyên bố :”Nguồn gốc của vi rút HIV không quan trọng gì đối với khoa học hiện nay. Bất kỳ sự suy đoán nào về việc nó nảy sinh như thế nào đều chẳng quan trọng”. Giáo sư bệnh học William Haseltine của Đại học Harvard còn cương quyết hơn. Ông phát khùng “Ai để ý nguồn gốc là gì ? Ai thực sự để ý ? Nếu anh muốn làm điều gì tốt, hãy viết về những vấn đề người ta còn đang phải chịu đựng. Ai để ý nó đến từ đâu ? Đó là một câu hỏi không trả lời được”. Curtis nhấn mạh vấn đề này, nhưng Haseltine chấm dứt cuộc nó i chuyện :”Tôi không quan tâm bàn đến nó”, ông ta gằn mạnh.

Tôi không ngạc nhiên về thái độ của các viên chức của WHO đối với nguồn gốc của AIDS và HIV. Tháng 6 năm 1989, cuốn sách của tôi AIDS và các bác sĩ thần chết bị ỉm đi tại Hội nghị Quốc tế lần thứ năm về AIDS tổ chức ở Montreal, Canada. Cuốn sách được bán tại một cuộc triển lãm do hiệu sách Highway bảo trợ. Một viên chức của WHO (một trong những cơ quan tài trợ cho hội nghị) gây áp lực với các chủ hiệu sách của Canada để bỏ cuốn sách đó khỏi các giá sách. Những người bán sách bị đe dọa để phải tuân theo yêu cầu của viên chức đó.

Phóng viên Bill Andriette đã viết một mẫu tin ngắn về điều bất thường đó của WHO trong Hướng dẫn cho những người đồng tính Đông Bắc (tháng 7 năm 1989). Một nhân viên của WHO (đề nghị giấu tên) mô tả cuốn sách là “cuồng tín cánh hữu” và khẳng định nó chứa đựng “một số giả định thực sự kỳ quặc”. Nhân viên đó thừa nhận : “Chúng thôi thực sự không thể cấm bán cuốn sách đó”.

Phóng viên Bill Andriette đã bình luận về việc này : “Thật lạ là, WHO cảm thấy bị đe dọa vì sự phê phán của Cantwell đến nỗi họi nghĩ tốt nhất là ỉm cuốn sách của ông ở Montreal. Người ta không hiểu tại sao họ cảm thấy cần phải bảo vệ những người tham dự hội nghị, những người trong giới được cho là phải có đủ thông tin nhất về AIDS. WHO hẳn phải tin hoặc là những tố cáo của Cantwell có tính thuyết phục mạnh mẽ, hoặc những người đứng ở mũi nhọn cuộc chiến đấu toàn cầu chống căn bệnh này là cực kỳ ngờ nghệch, cả tin”.

Mặc tất cả những lầm lẫn lô gích quanh vấn đề AIDS và vi rút HIV, niễm tin rộng rãi về nguồn gốc châu Phi của AIDS vẫn vững chắc. Tuy vậy, nếu người ta cẩn thận theo dõi những mưu mô của khoa học về AIDS, rõ ràng có một số điểm đáng nghi về thuyết này. Điều lạ lùng là những điều nghi ngờ lại được nói ra bởi người Pháp đã phát hiện ra HIV là Luc Montagnier.

Năm 1988, Montagnier đưa ra một vài bình luận bất ngờ về AIDS châu Phi và những con khỉ xanh. Những lời nhạo báng của ông hiển nhiên là chĩa vào Gallo là người bị tố cáo ăn cắp vi rút AIDS của Montagnier từ Viện Pasteur. “Không có chứng cớ về bất kỳ nguồn cung cấp hay loài khỉ nào thực sự có kết quả xét nghiệm dương tính với HIV, vi rút gây AIDS”, Montagnier tuyên bố. Nguồn gốc của AIDS “tiếp tục là một bí ẩn”. Ông giải thích tiếp : “Người ta sử dụng những lý lẽ không thuyết phục để quy nguồn gốc của HIV về châu Phi. Một lý do được đưa ra là đã phát hiện vi rút gây AIDS trong mẫu huyết thanh của một phụ nữ ở Daia (Nay là nước Cộng hòa Dân chủ Công gô) trước năm 1970, những sự việc đó xảy ra cách đây không lâu, và không chứng minh cho việc vi rút nảy sinh lần đầu tiên từ vùng đó. Chúng ta phải rất cẩn thận trong việc đánh giá nguồn gốc của loại vi rút này, đây là vấn đề thực sự bí ẩn”.

Có nhiều câu hỏi không có câu trả lời về nguồn gốc của AIDS. Khi gác sang một bên câu chuyện người thủy thủ Manchester năm 1959 và cậu bé ở St. Louis năm 1968, có sự nhất trí chung là các ca dịch AIDS ở châu Phi, Haiti và New York đều xuất hiện khoảng cùng thời gian vào cuối những năm 1970. Từ điều đó, tôi kông bao giờ có thể hiểu được làm thế nào mà một bệnh dịch của người da đen tình dục khác giới ở Trung Phi có thể tự nó biến đổi thành bệnh dịch của người đồng tính da trắng ở Manhattan.

Không có chuyên gia AIDS nào giải thích được đầy đủ điều đó đã xảy ra như thế nào. Những “sự thực” bao quanh việc nhập khẩu AIDS từ châu Phi chắc chắn thách thức thuyết về nguồn gốc tình dục của AIDS. Trong thực tế, việc biến đổi một bệnh dịch của người tình dục khác giới châu Phi da đen thành một bệnh dịch của người đồng tính da trắng ở phía bên kia địa cầu là điều không thể được. Không bao giờ có thể xảy ra cái việc như “người ta” nói. Không bao giờ có bất kỳ “mối liên quan” nào giữa AIDS của Mỹ và AIDS của châu Phi. Chỉ đơn giản là nó không thể xảy ra. Dù các chuyên gia có nói gì chăng nữa.

Nhưng nếu các vác-xin chứa các tác nhân sinh học chết người được tiêm vào những người da đen ở châu Phi, và vào những người đàn ông đồng tính ở Manhattan, thì hoàn toàn có thể tạo ra một cuộc hủy diệt sinh học đối với người da đen và người da trắng, để loại bỏ có hiệu quả hai nhóm người “không ai ưa” hoàn toàn khỏi bề mặt trái đất và rồi đổ lỗi luôn cho họ là đã gây ra sự lây lan.

Bị cưỡng bức rời khỏi Lục địa đen nhiều thế kỷ trước đây, và xa khỏi tâm điểm bệnh dịch AIDS châu Phi, những người da đen Mỹ lại một lần nữa bị đưa vào một chương trình diệt chủng.

Năm 1980, AIDS chưa được biết đến trên hành tinh này. Năm 1980, AIDS là nguyên nhân đứng hàng thứ sáu gây ra cái chết trong dân da đen Mỹ. Đối với những người đàn ông đồng tính Mỹ gốc Phi trong độ tuổi từ 35 đến 44, AIDS là nguyên nhân chết hàng đầu, chiếm tới 25% số người chết của nhóm này. Đối với nhóm đàn ông và phụ nữ Mỹ gốc Phi trong độ tuổi từ 25 đến 35, AIDS là nguyên nhân chết đứng thứ hai.

Châu Phi da đen đã bị định đoạt phải chết. Tôi sợ rằng điều đó cuối cùng cũng đúng với người Mỹ da đen.

ca_va
29-01-2006, 08:49 PM
Âm mưu diệt chủng bí mật bằng AIDS
Kỳ 9. Sự kỳ thị
hiv.com.vn - 00:00' 22/01/2006 (GMT+7)

Từ khi lịch sử bắt đầu được ghi chép, chưa từng có một nhóm đàn ông hay phụ nữ nào bị mọi người căm thù và khinh bỉ như những người đồng tính. Bị lên án như những kẻ có tội và bị những người Do Thái, Cơ đốc và Hồi giáo ruồng bỏ, trừng phạt đối với hành vi đồng tính thường là sự nhục nhã, bỏ tù và thậm chí cái chết. Luật nước Anh thời Trung cổ là chôn sống những kẻ kê gian (giao hợp qua đường hậu môn). Trong thế kỷ XVI, luật nhẹ hơn, cho phép treo cổ.

Việc giết những người đồng tính vẫn còn tiếp tục cho đến hiện nay ở nhiều nơi trên thế giới. Có báo cáo là những đội xử tử bán quân sự ở Côlômbia và Êcuađo đã giết hơn 300 người đồng tính trong những năm từ 1986-1990. Theo thông tin của mạng San Francisco Latino, hơn 1200 người đồng tính nam và đồng tính nữ đã bị giết ở Braxin trong thập kỷ qua. Các đội xử tử ở Pêru cũng chịu trách nhiệm về những cái chết của hàng trăm người đồng tính. Ngày 12 tháng 7 năm 1992 năm nhà hoạt động AIDS đồng tính đã bị giết một cách dã man ở thủ đô Mêxicô. Một trong số người đã được tìm thấy bị tra tấn, đâm dao và thắt cổ là tiến sĩ Francisco Estrada Valle, Chủ tịch và là người sáng lập của Ave de Mexico, tổ chức giáo dục và trợ giúp AIDS hàng đầu nước này.

Một cuộc khảo sát gần đây cho thấy rằng cứ một trong ba người Nga được cho là đồng tính nam và đồng tính nữ phải bị “trừ khử”. Năm 1988, Chính phủ Ixraen hủy bỏ một đạo luật phạt tù mười năm tội kê gian. Ở hạt Los Angeles, đàn ông đồng tính thường hay trở thành nạn nhân nhất của các hành động tội phạm bạo lực. Khi dẫn ra kinh thánh, một số lãnh tụ Cơ đốc giáo chính thống tiếp tục ủng hộ án tử hình đối với những kẻ kê gian. Các nhóm phân biệt chủng tộc da trắng cũng kêu gọi giết những người đồng tính như một phần của chương trình “niềm kiêu hãnh da trắng” và “quyền lực da trắng” của chúng.

Khuynh hướng tình dục của 75% các ca AIDS hiện nay trên thế giới là tình dục khác giới. Sự kiện này không ngăn cản Pat Buchanan, một ứng cử viên của Đảng Cộng hòa cho chức Tổng thống Mỹ năm 1992, rao giảng rằng AIDS là sự trừng phạt của Chúa đối với bọn đồng tính. Thị trưởng New York David Dinkins, người đã tự hào đi cùng những người đồng tính trong cuộc diễu hành ngày lễ Thánh Patrick hàng năm của thành phố, đã bị Buchanan chỉ trích gay gắt là “vênh váo đi cùng bọn kê gian và xúc phạm những người Thiên chúa giáo”. Khi chửi rủa “bọn kê gian và đồng tính nữ”, vị ứng cử viên Tổng thống gọi các nam nữ đồng tính là bọn quỉ Sa tăng.

Những đòn tấn công của cánh hữu bây giờ đang lên đến đỉnh điểm khi mà giới đồng tính đang được phần lớn công luận chấp nhận. Đối với một số chính khách, đánh vào giới đồng tính là một kỹ thuật giành phiếu phổ biến. Nguyên Thượng nghị sĩ Mỹ Bill Armstrong, phát ngôn viên hiện tại cho “Bang Colorado vì những giá trị gia đình”, tin rằng AIDS “được tự tạo ra bởi những người đồng tính ham mê khoái lạc”. Nghị sĩ California William Dannemeyer nói rằng những người đồng tính giàu có và nhiều quyền lực âm mưu đề cao tình dục trụy lạc của họ. Ông phàn nàn “mạng lưới đồng tính” này ảnh hưởng xấu đến các chính sách về AIDS của Bộ Y tế và Phúc lợi con người của Mỹ.

Người truyền đạo trên truyền hình John Hagee bảo các tín đồ rằng “Nước Mỹ đang chết” vì AIDS và nạn đồng tính hoành hoành. Ông ta tuyên bố "Chúa yêu những người đồng tính, nhưng nhà thờ của Chúa Giêsu sẽ không bao giờ chấp nhận đồng tính luyến ái như một lựa chọn lối sống kiểu khác."

Về nguồn gốc của AIDS, Hagee nhắc lại “một thuyết chính” là “AIDS bắt đầu trong các nhà tù châu Phi, trong đó hàng ngàn người đàn ông bị tước bỏ tình dục bình thường đã quay sang tình dục lầm lạc. Sự nhiễm trùng do tình dục lệch lạc đã dẫn tới nhiễm bệnh AIDS”. Hagee có một cách chữa AIDS: sự trinh bạch.

Những kẻ kỳ thị cơ đốc giáo tin rằng những người đồng tính “chống lại gia đình” và đi lệch khỏi “các giá trị gia đình truyền thống”. Tuy vậy, đổ lỗi cho những người đồng tính về sự băng hoại gia đình hiện nay ở Mỹ là phi lý.

Những vấn đề lớn về tâm sinh lý và xã hội giờ đây ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội Mỹ. Theo Trung tâm Nạn nhân Quốc gia, 683.000 phụ nữ đã bị hiếp dâm ở Mỹ năm 1990, nhưng chỉ có 16% nạn nhân báo cáo về tội phạm này. Tại Mỹ, cứ tám phụ nữ thì có một người bị tấn công cưỡng bức tình dục. Hai triệu rưỡi trẻ em bị lạm dụng tình dục hàng năm, 1.200 cháu chết vì sự lạm dụng ấy. Ở Los Angeles mỗi tuần có một cháu bé bị giết, ở thành phố New York tỷ lệ là mỗi tuần hai cháu. Một nghiên cứu gần đây ở California tiết lộ rằng cứ một trong năm cháu gái, và một trong bảy cháu trai bị họ hàng gạ gẫm tình dục.

Một triệu vị thành niên tìm cách tự tử mỗi năm. Một phần tư số đó cần điều trị y tế. Gần 30% thiếu niên đồng tính cố tự sát.

Cứ hai trong ba trẻ em da đen, và một trong ba trẻ em Mỹ la tinh sinh ra có cha mẹ không cưới nhau; 40% người da đen và 35% người Mỹ la tinh sinh ra đã nghèo khổ, ở California một nửa số trẻ em sống trong các gia đình chỉ có cha hoặc mẹ.

Hàng năm, trên một nửa triệu trẻ em được sinh ra bởi cha mẹ ở lứa tuổi vị thành niên. Hơn 25% trẻ em California (trên 2 triệu) không có bảo hiểm y tế.

Đối với việc thanh toán theo yêu cầu của luật pháp để nuôi trẻ, một phần tư của tổng số những người cha không chi gì cả, một nửa số người cha trả ít hơn yêu cầu của tòa án. Có phải những người đồng tính nam và đồng tính nữ chịu trách nhiệm trước tiên về những con số thống kê bất hạnh ấy, phản ánh “các giá trị gia đình trong những năm 1990” ở Mỹ ?

Năm 1991, hai mươi bốn ngàn người Mỹ đã bị giết; đã ghi lại được 1.800 nạn nhân bị giết ở Los Angeles, nơi tôi ở. Mỹ đứng đầu thế giới về số tội phạm giết người. Có trên 5,6 triệu tội phạm bị kết án; và nước Mỹ bỏ tù nhiều người tính theo đầu người hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới. Năm 1991, các nhà tù cấp bang và liên bang chứa 823.414 tù nhân, tăng 150% tính từ năm 1980.

Vào tuổi 19, một nửa triệu thanh thiếu niên có quan hệ tình dục. Năm 1991, một cuộc nghiên cứu cấp chính phủ được đề xuất để tiếp tục xác định phạm vi đầy đủ hành vi tình dục của thanh thiếu niên và người lớn đã bị hủy bỏ, chủ yếu là do sự phản đối ở quốc nội của dân biểu William Dannemeyer, thượng nghị sĩ Jesse Helms và các chính khách có quyền lực khác muốn đề cao “các giá trị gia đình truyền thống”.

Từ khi có AIDS, tội kê gian giờ đây là một đề tài nổi bật cho các phân tích và thảo luận khoa học. Tuy công chúng nghĩ tất cả đàn ông đồng tính đều kê gian, việc thực hiện tình dục bằng đường hậu môn và bằng miệng của những người tính dục khác giới ít được để ý tới.

Tiến sĩ June Renisch, Giám đốc Viện Nghiên cứu tình dục Kinsley ước tính có 39% phụ nữ trưởng thành Mỹ tham gia giao hợp hậu môn, cùng khoảng chừng đó số nam giới. Dựa trên một số nghiên cứu, bà cũng khẳng định rằng 29% các bà vợ Mỹ ít nhất có một lần ngoại tình. Cứ tám trong mười đàn ông đồng tính cũng có quan hệ tình dục với một phụ nữ ít nhất một lần.

Theo số phát hành tháng 7 năm 1989 của ấn phẩm “Từ trung tâm tới trung tâm” (do Công ty burroughs Wellcome cung cấp cho các thầy thuốc), các số liệu không công bố cho thấy 25% phụ nữ có chồng đã giao hợp qua hậu môn. Trong một nghiên cứu công bố trong cuốn Văn thư lưu trữ về hành vi tình dục năm 1991, Bruce Voeller khẳng định rằng 10% phụ nữ Mỹ và bạn tình nam giới của họ có hành vi tình dục hậu môn với mức độ đều đặn nào đó. Ông kết luận rằng “tình dục qua hậu môn trong những người Mỹ tính dục khác giới được giữ khá bí mật, có thể gồm 16 triệu người hay nhiều hơn nữa”. Những thống kê sơ bộ đó cho thấy rằng số kẻ kê gian có tính dục khác giới vượt xa tổng số đồng tính nam ở Mỹ.

Công chúng coi dân đồng tính là những người chung chạ bừa bãi. Từ điển định nghĩa sự chung chạ bừa bãi là “không giới hạn ở một bạn tình”. Nói một cách chặt chẽ, bất cứ ai có hơn một bạn tình là chung chạ bừa bãi. Vào khoảng những năm 1960, giáo sư da liễu của tôi một lần đã ranh mãnh nhận xét rằng một người chung chạ bừa bãi là người có nhiều bạn tình hơn anh. Tuy định nghĩa chính xác về sự chung chạ bừa bãi có thể còn phải bàn, sự thực trong cuộc sống là ngày nay càng ít người chỉ một vợ một chồng. Những người tính dục khác giới Mỹ thong thường chắc chắn không sống một vợ một chồng. Theo tờ Nước Mỹ ngày nay (số ra ngày 28-6-1991), những người Mỹ trung bình có bảy bạn tình bắt đầu từ tuổi 18.

ca_va
29-01-2006, 08:50 PM
Người ta không biết phạm vi ảnh hưởng đầy đủ đến sự lan truyền AIDS của hành vi lưỡng tính, đặc biệt của những người đàn ông lưỡng tính. Nhà nghiên cứu Schaar Gochros, tác giả cuốn Khi những người chồng thú nhận, ước tính rằng có 6 triệu đàn ông lưỡng tính Mỹ cưới vợ hay có quan hệ đầu tiên với một phụ nữ, nhưng bí mật có quan hệ tình dục với đàn ông.

Vấn đề ở đây không phải là để phê phán những người đồng tính, những người tình dục khác giới hay lưỡng tính, mà là nêu rõ rằng ngày nay phần lớn mọi người không phải là một vợ một chồng. Do đó, phần lớn những người hoạt động tình dục đều có nguy cơ bị AIDS.

Tại sao có quá nhiều người ghét dân đồng tính ? Theo các nhà nghiên cứu của Viện Kinsley trong cuốn Tình dục và luân lý ở Mỹ (1989), việc công chúng không tán thành và sợ dân đồng tính “gắn liền với ba niềm tin thông thường: rằng họ ốm yếu, giống đàn bà, và nguy hiểm”.

Niềm tin họ ốm yếu dựa trên các thuyết phân tâm học lâu đời về đồng tính luyến ái. Ý tưởng cho rằng những người đồng tính nam giống đàn bà rõ ràng dựa trên khuôn mẫu vai trò tình dục thịnh hành trong nền văn hóa của chúng ta.
Cái nhãn “nguy hiểm” thườn áp dụng cho các nhóm thiểu số, đặc biệt khi người ta biết ít về họ. Vác nà nghiên cứu kết luận rằng sự thù địch đối với dân đồng tính “dường như nảy sinh từ những điều giáo huấn từ thơ ấu, có khuynh hướng quán tính trừ phi cách sống của một người trở nên tự do về tình dục hơn so với cha mẹ, hoặc là nền giáo dục hình thức đưa người ta đến chỗ nghi vấn thực sự những niềm tin và giá trị đã được học trong khi lớn lên”.


Nguồn gốc của AIDS ở Mỹ rõ ràng bắt nguồn từ các cuộc thử nghiệm với dân đồng tính do chính phủ tiến hành. Vào lúc mà Szmuness đang cẩn thận chọn lựa những người đàn ông đồng tính khỏe mạnh nhất ở Manhattan cho các cuộc thử vác-xin của mình, đất nước đang trãi qua thời kỳ kỳ thị nhất trong lịch sử.

Tháng 10 năm 1978, một tháng trước khi cuộc thử nghiệm của Szmuness bắt đầu, các cử tri California đang quyết định liệu có cấm những người đồng tính dạy trong các trường học của bang này hay không. “Dự luật 6” là một vấn đề tranh luận nóng bỏng trong giới truyền thông.

Tờ Thời báo Los Angeles (số ra ngày 15-10-1978) mang tiêu đề : “Các giáo viên đồng tính có phải là một mối đe dọa ?” James F.Baxter, một giáo viên đã 22 năm kinh nghiệm và là cha của bôan đứa trẻ, lên án đồng tính luyến ái như một sự lệch lạc với bản chất con người. Baxter gán cho những người đồng tính là “tàn tật” và không xứng đáng dạy trẻ. “Những người đồng tính bị kiểm soát bởi những mối quan tâm về nhục dục chứ không phải trí tuệ, và trong bất kỳ tình huống nào khi hai mặt đó cạnh tranh nhau thì nhục dục sẽ thắng. Đồi bại, lệch lạc, kỳ quái và khác thường không phải là các tính từ mà là những điều mô tả thích hợp cho hành vi đồng tính. Gọi một người đồng tính là gay (phóng đãng) thực tế là một hành động vô nhân đạo, vì nó không cho thấy yêu cầu đầu tiên nếu muốn chữa trị những què quặt tâm lý đó : sự thừa nhận khách quan về bệnh tật của họ”.

May thay, đa số cử tri California không đồng ý với các quan điểm khắc nghiệt của ngài Baxter, và Dự luật 6 bị đánh bại hoàn toàn trong các cuộc bỏ phiếu.

Khi AIDS xuất hiện năm 1981, các quan chức y tế khẳng định với công chúng rằng không có gì phải sợ. “AIDS là một bệnh của người đồng tính”, là một câu được lặp đi lặp lại trong giới truyền thông. Đến tận năm 1987, Robert Gallo đã nói với phóng viên David Black của tờ Playboy rằng “Cá nhân tôi không biết một ca nào (ở Mỹ) mà người đàn ông bị nhiễm virus (AIDS) từ một người phụ nữ qua giao hợp tình dục”.

Ở châu Phi, nơi AIDS lây nhiễm cho số đàn ông và pụ nữ nhiều như nhau, lời giải thích của Gallo với Black là : “Nó xảy ra, nhưng đó có thể là do những khác biệt về cách thực hiện tình dục, chung chạ bừa bãi hơn hay số trường hợp bệnh hoa liễu lớn hơn”.

Những tuyên truyền về AIDS và các nhận xét phân biệt chủng tộc trong giới truyền thông không hề bị thách thức, nghi ngờ. Ví dụ, những người châu Phi da đen (nhưng không bao giờ là người châu Phi da trắng) bị nghi ngờ là chung chạ bừa bãi. Tương tự, những người Mỹ tình dục khác giới da trắng không bao giờ bị coi là những người chung chạ bừa bãi. Gallo đã cho Playboy biết đánh giá chuyên môn của mình về triển vọng của AIDS ở những người tính dục khác giới tại Mỹ :”AIDS sẽ không bao giờ trở thành mối nguy hiểm áp đảo đối với công chúng”.

Tại sao AIDS được coi là một căn bệnh riêng của người đồng tính ở Mỹ ? Lời giải thích của tiến sĩ Strecker là cách duy nhất cắt nghĩa điều đó. Lý do AIDS bắt đầu như một “căn bệnh của người đồng tính” là vì vi rút AIDS được cố ý đưa vào cộng đồng đồng tính trong các thử nghiệm vác-xin viêm gan B.

Khi bệnh dịch lan ra dân chúng “nói chung”, các viên chức chính phủ cố hết sức làm cho nhân dân tin rằng AIDS thoạt tiên là một bệnh của dân đồng tính “có nguy cơ cao” và rằng AIDS không phải là một căn bệnh của người tính dục khác giới. Tình dục của người đồng tính là “nguy cơ cao” nhưng tình dục của người tính dục khác giới thì không bao giờ bị cho là “nguy cơ cao”. Các thống kê chính thức của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật được nhào nặn để củng cố cho quan điểm ấy.

Những người lưỡng tính bị AIDS đều được kê khai cùng với những người đàn ông đồng tính. Đàn ông lưỡng tính không được đặt thành loại riêng “lưỡng tính” hay trong cùng một loại “tính dục khác giới/ lưỡng tính”. Những người nghiện ma túy tiêm tĩnh mạch có tính dục khác giới được đưa vào loại đặc biệt “ma túy IV”. Các nhà dịch tễ học thường cho rằng những người dùng ma túy IV là đàn ông có tính dục khác giới bị HIV từ những kim tiêm bẩn - chứ không bao giờ do quan hệ tình dục với phụ nữ nhiễm bệnh.

Vài năm sau khi AIDS bùng phát ở thành phố New York, căn bệnh trở thành nhân tố giết người hàng đầu đối với nam thanh niên đồng tính và nam nữ thanh niên tính dục khác giới ở thành phố này. Vẫn cực kỳ hiếm thấy AIDS ở một người đồng tính nữ, trừ trường hợp liên quan đến ma túy. Một số phụ nữ bị nhiễm bệnh do chồng hoặc người tình có quan hệ chung chạ bừa bãi.

Một thập kỷ sau cuộc thử nghiệm viêm gan, AIDS ngày nay là vấn đề số một về sức khỏe đối với các nam nữ thanh niên Mỹ. AIDS là nguyên nhân chết hàng đầu của đàn ông trong độ tuổi từ 33 đến 45. Nhiều đàn ông chết vì AIDS hơn là chết ở chiến tranh Việt Nam. Tổng số đàn ông chết vì AIDS ở San Francisco bây giờ lớn hơn tổng số đàn ông San Francisco chết trong cả ba cuộc chiến tranh : Chiến tranh thế giới thứ II, Chiến tranh Triều tiên và Chiến tranh Việt Nam.

Năm 1991, Earvin (Magic) Johnson, ngôi sao bóng rổ được mọi người yêu thích, công khai thừa nhận anh đã bị nhiễm HIV. Anh khẳng định anh là người tính dục khác giới và không bao giờ có quan hệ đồng tính. Lần đầu tiên, nhiều người tính dục khác giới bắt đầu coi AIDS là nghiêm trọng. Nhiều thanh niên nghĩ :”Nếu nó có thể xảy ra với Magic, nó có thể xảy ra với tôi”.

ca_va
29-01-2006, 08:50 PM
Khoảng cùng thời gian đó, huyền thoại bóng rổ Wilt Chamberlain tiết lộ với công chúng một điều rất ấn tượng rằng anh ta đã ngủ với 20.000 người đàn bà khác nhau. Trong giới đồng tính, không ai biết có bất cứ người nào có thể vượt kỷ lục của Chamberlain. Rõ ràng Chamberlain thoát được lây nhiễm HIV, nhưng năm sau anh ta phải vào bệnh một thời gian ngắn vì tim loạn nhịp.

Không có nơi đâu mà sự kỳ thị lại trắng trợn hơn và độc ác hơn trong quân đội. Tuy đồng tính luyến ái đã được coi là không hợp với đời sống quân ngũ, sự thật vẫn có vô số nam và nữ đồng tính pục vụ đất nước họ một cách hiệu quả và đáng tự hào trong thời bình và trong thời chiến. Mặc dầu vậy, hàng ngàn đàn ông và phụ nữ đồng tính đã bị thải hồi khỏi quân đội vì khuynh hướng tình dục của họ. Trong quá trình bị đuổi ra khỏi quân ngũ, nhiều người đã bị làm thương tổn hay bị giết.

Kinh nghiệm của tôi với quân đội bắt đầu năm 1951, ở tuổi 17, khi tôi đăng ký vào một chương trình của học viện ROTC. Vào tuổi 20, tôi được cử đi Fort Sill, Oklahoma cho một chương trình huấn luyện mùa hè. Được nghỉ phép ba ngày, một nhóm chúng tôi lên một chuyến xe buýt do quân đội bảo trợ đi Monterey, Mexico. Chuyến thăm thành phố bao gồm điểm dừng bắt buộc tại một nhà thổ trong khu đèn đỏ khét tiếng.

Tôi bước vào hoạt động tình dục của nhóm tình dục khác giới vào năm 1961 trong khi phục vụ với tư cách một thầy thuốc quân đội trong lực lượng Liên Hiệp Quốc đóng tại vùng phi quân sự ngăn cách Bắc và Nam Triều Tiên. Những kỳ nghỉ phép cuối tuần hiếm hoi tới Seoul với các sĩ quan đồng ngũ bao giờ cũng có nhiều đợt uống rượu, tiếp theo là lùng sục gái điếm, mỗi chúng tôi một người. Không ai, trừ tôi, tỏ ra quan tâm về chuyện giữ gìn sự kín đáo, mà còn ngược lại.

Không thể tránh những cuộc gặp gỡ như vậy ở Triều Tiên sau chiến tranh. Không đắm chìm vào những trò tiêu khiển tình dục khi có cơ hội thì bị coi là không đàn ông và không hiểu nổi. Việc các sĩ quan đồng ngũ của tôi đều đã có vợ không làm thay đổi vấn đề. Không ai mong đợi bất kỳ một quân nhân nam bình thường nào trong trắng hay chung thủy. Đồng tính hay tính dục khác giới, người ta đều cho rằng anh ta sẽ thực hiện hành vi tình dục và hưởng khoái lạc. Đó là cung cách diễn ra ở Triều Tiên đầu những năm 1960. Tôi cho rằng nó vẫn như thế hiện nay.

Như có thể dự đoán, tỷ lệ bệnh hoa liễu trong binh lính ở Triều Tiên là rất lớn. Các sĩ quan không ngừng diễn thuyết với binh lính về mức độ nhiễm bệnh hoa liễu không thể chấp nhận được, nhưng binh lính ít khi để ý đến điều đó. họ biết quá rõ các sĩ quan cũng làm như vậy. Sự khác biệt duy nhất là các sĩ quan có đủ tiền để kiếm gái điếm Triều Tiên trông khá hơn và khỏe mạnh hơn. Các sĩ quan cấp cao thường vung tiền để ngủ với đàn bà da trắng trong các khu riêng của họ.

Thống kê mức bệnh da liễu trong các sĩ quan không tồn tại. Chẳng bao lâu, tôi đã rõ lý do của nó. Vị trung sĩ chỉ huy đơn vị tôi khuyên tôi không ghi các trường hợp nhiễm bệnh của các sĩ quan. Giang mai hay lậu là chẩn đoán không chấp nhận được trong y bạ của sĩ quan - một y bạ ghi bệnh hoa liễu sẽ làm hỏng cơ hội thăng cấp của anh ta.

Kinh nghiệm của một sĩ quan quân y ở Triều Tiên đã dạy tôi mọi điều cần biết về sự chính xác của “các thống kê” chính thức của chính phủ, cũng như tính đạo đức giả của luân lý tình dục khác giới trong quân đội.

Bốn thập kỷ sau, năm 1992, một số bí mật tình dục của quân đội đã bị phơi bày ra công luận. Chuyên gia quân đội Jacqueline Ortiz, trong khi phục vụ làm thợ cơ khí trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh đã bị trung sĩ của cô cưỡng bức kê gian. Khi cô đầm đìa nước mắt báo cáo sự việc với các sĩ quan chỉ huy, họ đã bỏ ngoài tai những lời tố cáo của cô.

Sự việc của Ortiz đã được để ý nghiem túc hơn tại một cuộc điều trần ở Thượng viện về lạm dụng tình dục trong quân đội. Trong khi điều trần, người ta tiết lộ rằng có tới 60.000 cựu binh nữ có thể đã bị hiếp dâm hoặc hành hung trong khi còn ở quân ngũ. Người ta kết luận rằng một phụ nữ phục vụ trong quân đội ở vùng Vịnh Péc xích dễ bị quân mình tấn công hơn là bị kẻ thù tấn công.

Trong các sảnh đường bên ngoài buồng của họ tại khách sạn Las Vegas Hilton, nơi diễn ra Hội nghị “Tailhook 91”, các sĩ quan hải quân say rượu hành hung ít nhất hai chục phụ nữ, bao gồm mười bốn nữ sĩ quan hải quân. Các phụ nữ kinh hãi khi những người đàn ông này mò mẫm và sờ soạng họ, và cố cưỡng bức lột quần lót của họ. Không lấy làm lạ là những lời phàn nàn của các nữ sĩ quan đã rơi vào những cái tai điếc. Cuối cùng, vụ scandal hải quân được đưa ra ánh sáng và làm rung chuyển Washington, dẫn đến sự từ chức của Bộ trưởng Hải quân vào tháng 6 năm 1992.

Khi kể lại câu chuyện trên, tờ Thời báo (số ra ngày 13-7-1992) trích dẫn một nghiên cứu của Lầu Năm Góc cho thấy hai phần ba các nữ quân nhân bị quấy nhiễu tình dục bởi các nam quân nhân. Tờ Thời báo cũng nhắc lại một trường hợp năm 1987 trên một tàu cứu hộ hải quân, thuyền trưởng đã thực hiện hành động tình dục bằng miệng đối với một gái điếm trước sự chứng kiến của thủy thủ đoàn; và một trường hợp khác vào năm 1990, một nữ chuẩn úy hải quân tại học viện Hải quân Mỹ đã bị một nam chuẩn úy hải quân đồng ngũ ép buộc còng tay vào bồn đi tiểu của nam giới.

Tất cả các vụ đó đều mờ nhạt nếu so với thú nhận của Chính phủ Nhật Bản tháng 7 năm 1992 rằng có tới 200.000 phụ nữ các nước Nhật Bản,Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Philippin và Inđônêxia đã được tuyển để phục vụ như những “đàn bà giải trí” trong các nhà chứa của quân đội trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Chính phủ Nhật Bản cuối cùng đã tỏ ra hối tiếc vì những đau khổ họ gây ra cho các phụ nữ đó.

Vấn đề đồng tính luyến ái trong quân đội trở thành những tin hàng đầu ngày 8 tháng 7 năm 1992 khi phóng viên truyền hình Barbara Qalters hỏi ứng cử viên Tổng thống Ross Perot rằng liệu ông có cho phép những người đồng tính gia nhập quân đội không. Cộng đồng đồng tính nổi giận khi Perot trả lời : ”Tôi không cho đấy là thực tế.”. Mấy tuần sau, Perot cam đoan rằng ông sẽ không tha thứ sự phân biệt đối xử chống những người đồng tính, nhưng từ chối nói rõ quan điểm của ông về việc cấm gia nhập quân đội.

Tướng Colin Powell, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, đã nhắc lại lý do quân đội đã trục xuất các nam nữ đồng tính : Mối quan tâm chủ yếu của Lầu Năm Góc là bảo vệ quyền riêng tư của những người lính, họ có thể cảm thấy không thoải mái khi phục vụ quân ngũ với “những người đồng tính công khai”. Lầu Năm Góc lấy cớ rằng sự có mặt của những người đồng tính trong quân ngũ sẽ có hại cho “đạo đức và kỷ luật” quân đội.

Những lý lẽ không cho các nam nữ đồng tính tham gia lực lượng vũ trang cũng tương tự các lý lẽ trước đây không cho người da đen hòa nhập hoàn toàn với người da trắng trong quân đội. Người ta không hiểu tại sao dân đồng tính có thể bị loại trừ khỏi quân đội dựa trên các cơ sở đạo đức. Làm thế nào mà các quân nhân được huấn luyện kỹ càng nghệ thuật giết chóc lại bị lo lắng bối rối vì các nam nữ đồng tính đòi quyền phục vụ đất nước họ và quyền tình dục như bất cứ ai khác.

Tháng 11 năm 1992, có hơn 242.000 người Mỹ được kê khai là bị AIDS. Khoảng một nửa các trường hợp đó là người da đen hay Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Trong số các thanh thiếu niên chết vì AIDS, 37% là da đen, 19% là Mỹ La Tinh; 100.000 ca đầu tiên mất tám năm để phát triển bệnh, 100.000 ca thứ hai mất hơn hai năm; 7% các ca AIDS gần đây nhất là do tình dục khác giới.

Ở hạt Los Angeles nơi tôi sống, đã ghi được 16.000 ca AIDS, với 11.000 người chết. Chín mươi phần trăm các ca được phân loại là “đồng tính/ lưỡng tính”. Trước đây, trong lịch sử y học, chưa bao giờ có bệnh dịch nào lại được giới hạn lạ lùng trong những người da màu hay dân đồng tính.

Ngày nào đó, nhân dân sẽ nhận ra rằng sự kỳthị, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và khuynh hướng tình dục là gốc rễ của AIDS. Không phải loài khỉ xanh mang HIV đến cho chúng ta. Nguyên nhân là do chính chúng ta và sự ngây thơ của chúng ta về nhiều mặt bản năng giới tính của con người.

ca_va
29-01-2006, 08:51 PM
Âm mưu diệt chủng bí mật bằng AIDS
Kì 10: Khoa học về AIDS
hiv.com.vn - 00:00' 24/01/2006 (GMT+7)

http://hiv.com.vn/Upload/1588.jpg
Bất cứ ai nhìn một người chết vì AIDS cũng biết rằng việc điều trị căn bệnh này là một việc thương tâm. Lý do của thảm kịch này là các thầy thuốc, mặc dầu trải qua một thế kỷ y học hiện đại, không có phương thuốc nào khôi phục được hệ thống miễn dịch bị thương tổn.

Thuốc duy nhất được dùng để trị nhiễm HIV là Zidovudine, thường gọi là “AZT” hay Retrovir. Các bệnh nhân dùng AZT vì họ nghĩ nó tốt cho máu và hệ thống miễn dịch. Họ tin nó sẽ giết vi rút, và ngăn ngừa KS (khối u), viêm phổi pneumocystis và các lây nhiễm có tính cơ hội khác. Nhưng thực ra, AZT không làm các việc đó.

Thực tế là AZT cực kỳ độc cho máu. Kết quả là nhiều bệnh nhân dùng lâu AZT cần truyền máu thường xuyên. AZT không ngăn ngừa KS (khối u ác tính) và viêm phổi pneumocystis , cũng không ngăn ngừa bất kỳ lây nhiễm cơ hội chết người nào của AIDS. Khi AZT được kết hợp với các thuốc khác, tính độc của nó tăng lên.

Kinh thánh về thuốc của các bác sĩ là cuốn PDR (Physician’s Drug Reference – Sách tham khảo thuốc của thầy thuốc) cảnh báo rõ ràng : “Trị liệu bằng AZT có thể kèm theo ngộ độc huyết học bao gồm chứng giảm bạch cầu hạt (số bạch huyết thấp) và thiếu máu nghiêm trọng cần truyền máu. Ngoài ra, các bệnh nhân điều trị bằng AZT có thể tiếp tục phát triển các lây nhiễm cơ hội và các biến chứng khác của nhiễm HIV”.

Tại sao các bác sĩ kê đơn AZT ? Tại sao mà một bệnh nhân lại để mình được điều trị bằng một thuốc độc như vậy ? Câu trả lời thật đơn giản : AZT là thuốc duy nhất được FDA (Cơ quan quản lý Dược - Thực phẩm Hoa Kỳ) duyệt cho bệnh AIDS, và việc duyệt đó dựa trên những nghiên cứu cố chứng minh rằng AZT kéo dài sự sống. Do đó, các thầy thuốc điều trị AIDS bằng AZT; và các bệnh nhân từ chối dùng thuốc này thường bị coi là khó bảo, không hợp tác và không khôn ngoan. Khi có biến chứng ở những người dùng AZT, bác sĩ có khuynh hướng đổ lỗi cho “vi rút”. Khi có vấn đề y tế nảy sinh với những người không dùng AZT, thầy thuốc đổ lỗi cho bệnh nhân không chịu dùng AZT.

Các nguy cơ của AZT được chứng minh rõ ràng trong ca của John Kuivenhoven, một người đàn ông đồng tính đã được điều trị sai lầm về AIDS “phát triển đầy đủ” trong sáu năm bằng AZT và các thuốc thử nghiệm khác. Các tác dụng phụ đau đớn của thuốc chữa AIDS đó đã tàn phá sức khỏe của ông, buộc ông phải bỏ việc trong khi đợi chết. Giờ đây, người ta biết rằng ông chưa bao giờ bị AIDS, ông cũng chưa từng xét nghiệm HIV cho tới năm 1992, khi mà cuối cùng phát hiện ra rằng ông không bị suy giảm miễn dịch và có kết quả xét nghiệm HIV âm tính.

Kuivenhoven đã đệ đơn kiện đòi bồi thường 2 triệu đôla đối với Kaiser Permanente, tổ chức bảo dưỡng sức khỏe lớn nhất nước. Luật sư của ông tuyên bố rằng những liều cao AZT làm cho khách hàng của mình nhức đầu kinh niên, cao huyết áp và liên tục đau các cẳng chân (bệnh thần kinh ngoại biên). Các thầy thuốc thường đổ lỗi các triệu chứng của AIDS đó cho “virus”. Tuy nhiên, nếu các thuốc được duyệt về AIDS có thể gây những tác dụng phụ phá hoại như vậy ở một người HIV âm tính và không suy giảm miễn dịch như ông Kuivenhoven, thì các thuốc đó đóng góp bao nhiêu vào sự đau đớn và những cái chết của các bệnh nhân AIDS có HIV dương tính ?

AIDS thường được coi là căn bệnh “chắc chết”, có hay không có AZT, kết cục cuối cùng là chết. Vào lúc ban đầu của dịch AIDS, các chuyên gia dự đoán 10% những người đồng tính nhiễm HIV sẽ có AIDS phát triển đầy đủ. Giờ đây hầu hết các nhà nghiên cứu tin rằng 90% những người HIV dương tính cuối cùng sẽ chết vì căn bệnh này. Có những người khẳng định rằng AIDS không phải là một bản án tử hình và có thể “chữa” , nhưng phần lớn các chuyên gia bác bỏ khả năng đó. Dẫu sao thì cũng có một số ít người thoát chết một thời gian dài tuyên bố đã chinh phục được AIDS.

Cái gì quyết định một phương thuốc chữa AIDS ? Tuy không tồn tại một phương thuốc AIDS được chấp nhận về mặt y học, dường như hợp lý khi chấp nhận một “định mức chữa năm năm” , như đối với bệnh nhân ung thư. Cơ quan thẩm quyền y học coi bất kỳ bệnh nhân ung thư nào sống được 5 năm sau khi chẩn đoán là “chữa được ung thư” . Ngay dù một bệnh nhân chết vì ung thư hơn 5 năm sau khi chẩn đoán, bệnh nhân vẫn được coi là “khỏi bệnh” .

Trong suốt thời gian hành nghề của tôi, chỉ có một người đồng tính (một đàn ông trung niên da đen) bị AIDS phát triển đầy đủ mà còn mạnh khỏe và sống sót sau hơn 5 năm. Bệnh của ông bắt đầu với những hạch bạch huyết lan rộng ở bẹn, chứng tỏ đó là KS kiểu thông thường ở châu Phi. Ông còn có rất nhiều thương tổn da kiểu KS, và các cẳng chân bị sưng. Tuy các xét nghiệm máu cho thấy chứng cớ ức chế miễn dịch, ông vẫn cảm thấy khỏe và không bị tàn tật bất cứ kiểu gì. Ông không bao giờ dùng AZT hay hóa trị liệu.

Tuy chúng ta có “các thuốc chữa ung thư 5 năm” và AZT, việc điều trị và chẩn đoán cho ung thư giai đoạn cuối và AIDS vẫn còn cực kỳ xấu đối với nhiều bệnh nhân.

Trong những năm 1960, tôi bắt đầu nghiên cứu “vi khuẩn ung thư” , là tác nhân lây nhiễm đi đôi với ung thư và các bệnh về miễn dịch khác. Vi khuẩn cũng là “đồng nhân tố” lây nhiễm không nhận ra, cần thiết cho sự phát triển đầy đủ AIDS. Không may là mọi mặt nghiên cứu vi khuẩn ung thư đã bị các cơ quan y tế thẩm quyền bỏ qua. Các chi tiết về một thế kỷ nghiên cứu vi khuẩn ung thư đã được ghi lại trong cuốn sách của tôi Vi khuẩn ung thư (1990).

Vi khuẩn ung thư tồn tại trong máu và trong tổ chức bị tổn thương vì ung thư và AIDS. Sự hiểu biết về vi khuẩn này và độc tính của nó là nhân tố cốt yếu để hiểu tại sao AIDS và ung ung thư là những căn bệnh tàn phá như vậy. Trước khi tác nhân lây nhiễm này được nhận ra, người ta ngờ rằng y học sẽ chẳng bao giờ đạt tới điều trị có hiệu quả AIDS và ung thư.

ca_va
29-01-2006, 08:52 PM
Theo quan điểm của tôi, phát hiện khoa học quan trọng nhất của thế kỷ này là nhận dạng được vi khuẩn ung thư. Vi khuẩn ung thư thì “đa hình”, nghĩa là vẻ bề ngoài trên kính hiển vi của nó có thể thay đổi, phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của nó. Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng nó có thể giống các vi rút và vi trùng. Vi khuẩn ung thư tồn tại trong mọi sinh vật.

Việc phát hiện các vi khuẩn ung thư ở người và động vật có liên quan tới sự có mặt khắp nơi của chúng trong mọi vật chất sống. Việc các nhà khoa học không đủ năng lực nhận ra tầm quan trọng sinh học sâu sắc của vi khuẩn ung thư đã dẫn tới các cuộc thử nghiệm vi rút động vật nguy hiểm và nghiên cứu chiến tranh vi trùng. Kết quả của toàn bộ nghiên cứu công nghệ cao đó là sự sản xuất và gieo rắc “các vi rút siêu đẳng” đột biến, giờ đây đe dọa lây nhiễm toàn thể loài người.

Vi khuẩn ung thư cư trú trong mỗi tế bào, và y học không nhận biết được. Khi một tế bào bị thương tổn (vì bất cứ ký do gì), vi khuẩn ung thư trở nên hoạt động. Khả năng của vi khuẩn ung thư đa hình có thể hiện ra như một vi rút và như một vi trùng, thách thức mọi quy luật của vi sinh học. Tính đa hình của vi khuẩn ung thư giống như con tắc kè luôn thay đổi màu sắc là lý do chính tại sao vi khuẩn đã không được giới y học “thừa nhận”.

Vi khuẩn ung thư đã được chứng minh bằng kính hiển vi trong các bệnh miễn dịch, trong ung thư và trong các tổ chức bị thương tổn vì AIDS. Vi khuẩn ung thư là tác nhân lây nhiễm gây nên u ác tính trên da (KS). Vi khuẩn này đã được nhận ra trong mô tế bào bị KS, trong các hạch bạch huyết bị sưng đi đôi với AIDS và trong các cơ quan bị AIDS làm thương tổn. Tuy nghiên cứu này đã được công bố trong các tạp chí y học có tiếng, giới thẩm quyền về AIDS vẫn hoàn toàn làm ngơ.

Nhiều dạng khác nhau của vi khuẩn ung thư cư trú trong máu của các cá thể khỏe mạnh và ốm yếu. Một hệ thống mễn dịch bình thường cho phép vi khuẩn ung thư tồn tại trong sự cân bằng thích hợp bên trong cơ thể. Tuy nhiên, trong trạng thái có bệnh, vi khuẩn ung thư sẽ sinh sôi nảy nở. Sự phát triển các mầm bệnh đó trong máu và trong các tổ chức của bệnh nhân là nguyên nhân của phần lớn sự nhiễm độc và tê liệt kèm theo ung thư và AIDS. Sự thiếu máu nghiêm trọng của các bệnh nhân ốm nặng chủ yếu là do các vi khuẩn ung thư phá hủy các hồng huyết cầu. Các thuốc độc như AZT tăng cường quá trình hủy hoại đó.

Mặc dù có một thế kỷ nghiên cứu vi khuẩn ung thư, các nhà khoa học vẫn tin rằng máu bình thường là “vô trùng”. Song, sự quan sát đơn giản về máu bằng cách dùng một kính hiển vi “trường tối” đã cho thấy rõ ràng các yếu tố của vi khuẩn ung thư.

Các hạt nhỏ nhất của vi khuẩn là những dạng sống, là những khối cấu trúc nhỏ nhất của tự nhiên. Tiến sĩ y khoa Virginia Livingston, người đã nghiên cứu vi khuẩn ung thư hơn 40 năm, tin rằng các vi rút ung thư đều liên quan với vi khuẩn ung thư có ở khắp nơi. Livingston, chết năm 1990 ở tuổi 84, đã viết rất nhiều về vi sinh vật học ung thư, và làm nhiều việc để phổ biến về vi khuẩn ung thư hơn bất kỳ thầy thuốc nào khác của thế kỷ này. Bà đã phải chịu nhiều đau khổ vì những niềm tin của mình, và bị giới y học ngược đãi vì những phương pháp điều trị ung thư không chính thống của bà, bao gồm vác-xin “tự phát” được làm từ chính vi trùng ung thư của bệnh nhân.

Cuốn sách của bà Cuộc chinh phục bệnh ung thư (1984) đã tạo ra tiếng vang trong cộng đồng khoa học. Một bài báo không có tính chất tán dương, viết về những ý tưởng cách mạng của bà trong vấn đề vi trùng ung thư đã xuất hiện trên tờ Thời báo Los Angeles (số ra ngày 6-4-1984).

Trong nhiều năm, Virginia Livingston đã là bạn và là thầy của tôi, và tôi kính trọng bà hơn bất kỳ thầy thuốc nào tôi biết. Trong nghiên cứu được công bố của tôi, tôi đã khẳng định nhiều quan sát của bà về vi trùng trong ung thư và các bệnh miễn dịch khác. Trong bài viết cho tờ Thời báo, tôi đã bảo vệ quan điểm không chính thống của Virginia Livingston về tính chất truyền nhiễm của ung thư.

Các đối thủ khoa học của Livingston lên án công trình của bà một cách không thương tiếc. Tờ Thời báo hỏi ý kiến Robert Gallo, ông này đâu cũng có mặt, về sự nghiệp nghiên cứu ung thư của Virginia Livingston. Ông ta nói giọng huênh hoang :”Cái gì đang diễn ra ở đất nước này ? Đây là sự điên rồ. Bà ấy có thể có thuyết riêng của mình và tôi có thể nói gì đây ? Tôi khôngcó cơ sở nào để ủng hộ nó.”

Cũng năm ấy, người ta hỏi Gallo về phát hiện của tôi về vi trùng trong KS, trong một cuộc phỏng vấn do James D’Eramo tiến hành trên tờ Người New York (số ra ngày 9-9-1984). Gallo đáp :”Tôi không biết nguyên nhân của KS. Điều phỏng đoán của tôi là nó có thể liên quan tới HTLV -3 (HIV) theo cách nào đó.” D’Eramo hỏi tại sao KS lại xảy ra phần lớn ở đàn ông đồng tính, Gallo trả lời :”Tôi không biết. KS làm tôi bối rối.”

Mấy năm sau, vào năm 1991, Gallo vẫn im lặng về các báo cáo được công bố của tôi về vi trùng trong KS. Khi nói với các nhà khoa học về AIDS, ông ta tuyên bố mình đang tìm kiếm tới cùng “đồng nhân tố bí ẩn” trong KS. “Tôi muốn nói với các vị rằng chúng ta đã tìm kiếm 7 năm, và chúng ta không tìm thấy bất kỳ vi rút hay vi khuẩn nào khác. Điều đó không có nghĩa là nó không có ở đó, mà có nghĩa là chúng ta hay bất cứ ai khác đã không tìm thấy mối liên hệ bị thiếu”.

Các phương diện nghiên cứu vi khuẩn ung thư có liên quan đến nghiên cứu hiện nay của Luc Montagnier, người phát hiện ra vi rút gây AIDS. Montagnier công bố tại Hội nghị AIDS quốc tế lần thứ sáu rằng ông ta đang nghiên cứu một vi khuẩn rất nhỏ gọi là một “mycoplasma” (Một loại trong nhóm các vi sinh vật rất nhỏ không di động, khôgn có thành tế bào cứng và vì thế nó có thể có nhiều dạng) mà ông đã tìm thấy ở AIDS. Các mycoplasma là các tác nhân gây nhiễm, là một phần vi rút và một phầnvi trùng. (Nhớ lại những năm 1950 và 1960, Virginia Livingston đã công bố công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng vi khuẩn ung thư có một giai đoạn giống mycoplasma !)

huyduc
31-01-2006, 01:28 AM
Hay! Thiên phóng sự này hết chưa anh, çava? Sao çava không post thêm về đề tài tế bào mầm nhỉ? Em muốn đọc lắm!

ca_va
12-02-2006, 08:21 AM
Âm mưu diệt chủng bí mật bằng AIDS
Kì 11: Giải pháp cuối cùng
hiv.com.vn - 00:00' 07/02/2006 (GMT+7)


http://img203.imageshack.us/img203/6716/traveler200405p11454pk.jpg
Từ ngôi nhà của tôi trên đồi nhìn về phía nam, tôi thấy khói bốc lên từ những đám cháy trên đại lộ Hollywood. Những đám cháy được cố ý đốt lên trong các khu người da đen của thành phố, đã lan về phía bắc. Bây giờ những ngọn lửa cách nhà tôi không đầy nửa dặm. Người ta đồn rằng các băng nhóm da đen và La tinh sắp đốt toàn bộ thành phố, và tôi sợ bọn đốt nhà điên cuồng sẽ châm lửa vào các bụi cây khô ở các khe bên trên Hollywood. Đội cứu hỏa vốn đã vất vả, không thể dập tắt các đám cháy lớn trên những ngọn đồi.

Thành phố đã trở nên điên rồ do hậu quả phán quyết của Rodney King. Những người da đen đánh đập người da trắng và người La tinh. Các cửa hàng của người Triều Tiên bị đốt. trong cơn bạo lực và giết chóc, dân chúng sợ hãi bảo vệ tài sản của họ bằng súng. Và cảnh sát dường như bất lực không chấm dứt được sự phá phách.

Cái xã hội ở Los Angeles chắp từ nhiều mảnh chủng tộc nhạy cảm đột nhiên bị rách toang. Khi tôi đến đây đầu những năm 1960, Los Angeles là một thành phố mà người da trắng chiếm ưu thế, nhưng trong những năm tiếp theo, bộ mặt của nó đã hoàn toàn biến đổi. Những năm 1980, việc nhập cư ồ ạt đã biến công đồng nơi đây thành một nơi hỗn cư gồm 40% người Anglo, 40% người La tinh, 10% người da đen, và 10% người châu Á.

Thành phố của các thiên thần bùng nổ thành một thành phố của địa ngục, sự phá phách được ghi lại tỉ mỉ bởi các đội quay phim từ trên các máy bay trực thăng, bay hàng đàn trên các đám đông vô luật pháp. Tôi như mụ đi vì những cảnh trên vô tuyến chiếu sự cướp bóc các cửa hàng quen thuộc của Hollywood mà tôi vẫn ghé mua hàng. Những người La tinh, hai tay đầy hàng ăn cắp được, chạy tán loạn vào các đường phố nơi tôi ở, trong khi cảnh sát túm tụm bên trong các xe tuần tra và quan sát sự cướp phá trong thành phố.

Dĩ nhiên có mù mới không thấy các cảnh bạo loạn. Trong nhiều năm. Trên báo chí đầy những mẩu tin câu khách vè lối sống ngày càng suy đồi của Los Angeles và những mối nguy hiểm của nó. Thống kê tội phạm trong hạt thật sự là cơn ác mộng : 55.000 vụ cướp mỗi năm, 70.000 vụ trộm, 65.000 vụ hành hung, 150.000 xe hơi bị lấy cắp.

Tờ Thời báo Los Angeles (số ra ngày 17-05-1991) cảnh báo : “Dân chúng hạt Los Angeles đang sống dưới súng đạn. Nhiều người bị bắn chết hơn là chết vì tai nạn xe cộ. Năm ngoái, ít nhất 8.600 người bị trúng đạn - hầu như gần mỗi người một giờ - trong khi hàng ngàn người khác suýt nữa bị bắn”.

Từ những năm 1960, dân chúng đã thấy sự biến đổi dần của Los Angeles từ một thành phố đẹp và khá an toàn thành một thành phố xấu xa. Ở nơi mà một thời các phố xá nhộn nhịp, rực rỡ, giờ đây tràn ngập rác rưởi và các mảnh vỡ. Các hình vẽ hoặc chữ viết bậy bạ trên tường có ở khắp nơi, gây nhức mắt, ngay cả ở những khu dân cư trù phú nhất. Những kẻ vô gia cư, nghiện ngập, tâm thần và ăn xin lang thang khắp thành phố. Một ủy ban liên bang báo cáo rằng một nửa số người Mỹ có HIV/AIDS là vô gia cư, hoặc là sắp vô gia cư, 15% số dân sống lang thang trên phố bây giờ có HIV dương tính. Thành phố một thời tuyệt vời, giờ đây có những cảnh tượng của một thành phố bị bần cùng hóa của thế giới thứ ba.

Dân nhập cư nghèo từ khắp thế giới đổ về Los Angeles. Một nửa số học sinh của trường tiểu học địa phương là người gốc La tinh, một phần tư là gốc Mỹ. Một nửa dân số Los Angeles không nói tiếng Anh ở nhà. Cứ ba người thì một người được sinh ra ở nước ngoài.

Nghèo khổ ở khắp nơi. Một trong bảy người trong hạt sống bằng tiền trợ cấp. Trong vùng Nam trung tâm Los Angeles bạo loạn tơi bời, một nửa số thanh niên da đen bị thất nghiệp hoặc bị gạt ra khỏi lực lượng lao động. Sự tuyệt vọng và nạn nghiện ma túy lan tràn trong khu người da đen.

Trong ba ngày bị bao vây, thành phố biến thành một vùng chiến tranh. Mọi người không được phép ra ngoài khi trời tối. giống như bất kỳ người nào khác bị kìm hãm trong cơn ác mộng chủng tộc và dân tộc, tôi rất tức giận. Tôi đã làm việc vất vả để có chổ đứng trong xã hội, và giờ đây vị thế của tôi bị đe dọa bởi một bầy người cùng sống nơi đây với những bó đuốc chiến tranh trong tay.

Tôi nghĩ đến những kẻ thù của nước Mỹ mà người ta đã khích lệ tôi căm thù và sợ hãi trong cuộc đời mình : người Nhật, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Đức, Nga, và cộng sản. Nhưng trong vụ đốt Los Angeles này, không có những kẻ âm mưu, không có cánh tả hay cánh hữu, không CIA. Chỉ chúng tôi thôi.

Cuộc chiến tranh Los Angeles bùng nổ trong khi viết cuốn sách này là chứng cớ nữa về sự điên rồ của xã hội chúng ta. Sự tàn phá cộng đồng đồng tính bởi AIDS không khác gì với sự tàn phá Los Angeles có chủ tâm. Về bản chất, cả hai sự tàm phá là “do con người tạo ra”.

Chống lại quan điểm cho AIDS là sự diệt chủng, lý lẽ phổ biến nhất là những người Mỹ sẽ không bao giờ cố ý giết nhau bằng chiến tranh vi trùng. Không may là, lịch sử thế giới hiện đại cho ta vô số ví dụ về việc người ta giết lẫn nhau ngay trong một quốc gia. Các nhóm tôn giáo khác nhau ở Nam Tư (Ngày 4-2-2003, Nhà nước Sécbia và Môngtênêgrô đã chính thức được tuyên bố thành lập, thay thế Liên bang Nam Tư sau 75 năm tồn tại) hiện đang tìm cách tiêu diệt nhau để nắm quyền lực. Toàn bộ dân Hồi giáo của Bosnia-Herzegovina nay đang bị dân Cơ đốc đe dọa tiêu diệt. Giới truyền thông có một từ mới chỉ dự giết chóc ấy: “thanh lọc sắc tộc”.

Ở Irắc, ở các nước thuộc Liên Xô trước đây, ở các quốc gia châu Phi và bất cứ nơi đâu trên hành tinh này, người ta tiếp tục giết lẫn nhau mà chỉ có Chúa biết lý do vì sao. Yêu nhau thì khó; giết nhau thì dễ.

Tại sao có người muốn tiêu diệt hàng triệu người trên hành tinh này ? Câu trả lời là sự quá tải dân số. Chỉ vì có quá nhiều người tranh nhau các nguồn tài nguyên hạn chế. Trong nhiều thập kỷ, một số nà quy hoạch thế giới khẳng định rằng cần có những biện pháp giảm dân số thế giới. Không may là các chương trình kiểm soát sinh đẻ bắt buộc đã tỏ ra không hiệu quả.

Tại Hội nghị thượng đỉnh về trái đất ở Rio de Janeiro tháng 6 năm 1992, chủ đề về sự tăng nhanh dân số thế giới đã bị hoãn lại, thoạt tiên do áp lực từ Vatican và những người Hồi giáo chính thống. Các biện pháp hạn chế tăng dân số bị coi là “không đúng đắn về chính trị”.

Sự lây nhiễm HIV đã chứng tỏ là một công cụ kiểm soát sinh đẻ có hiệu quả cao để giảm dân số ở những khu vực nhất định của thế giới, đặc biệt là châu Phi. Người ta dự đoán rằng Uganđa sẽ có 20 triệu dân trong vòng 15 năm, thay cho 24 triệu, do có thể chết vì lây nhiễm vi rút HIV.

Các thống kê hiện tại về sự tăng không có kiểm soát của dân số nhân loại thật đáng kể. Theo tài liệu của Tổ chức Tăng trưởng Dân số số không thì “trong 6 giây mà bạn đọc xong câu này, dân số thế giới đã tăng thêm 24 người, trong vòng một giờ tăng lên 11.000, hết ngày hôm nay tăng 260.000. Và, 2 ngày nữa tính từ bây giờ, tổng số dân tăng thêm sẽ đủ ở đầy một thành phố cỡ San Francisco. Chúng ta đang tăng thêm 95 triệu người mỗi năm. Không lấy làm lạ người ta gọi đó là cuộc thi dân số !”. Dân số thế giới hiện nay là 5,3 tỉ chắc sẽ tăng tới 10 tỉ vào năm 2050.

Giới truyền thông Mỹ đã kiểm duyệt mọi sự bàn bạc nghiêm túc về AIDS như một căn bệnh do con người tạo ra, và đã bác bỏ những lời tố cáo, coi như sự tuyên truyền xấu xa nhất. Thật khó tin là câu chuyện chiến tranh vi trùng đã bị dập đi trong hơn một thập kỷ. Tuy nhiên, trong vài năm qua, mọi người đã có được nhận thức sâu sắc về chính phủ “bí mật” đã điều hành nước Mỹ và thường xuyên nói dối công chúng. Ngày nay, người ta đã biết rõ rằng các cơ quan bí mật như FBI và CIA và các tổ chức lén lút như mafia, đều có ảnh hưởng đến các công việc quan trọng của nước Mỹ. Các cơ quan đó đều hoạt động ngoài ý muốn của nhân dân Mỹ.

Những phim như JFK của Oliver Stone đã gây nên một làn sóng công phẫn đối với việc ỉm đi chứng cớ và các sự việc xung quanh vụ ám sát Tổng thống John F.Kennedy. Ngày nay, 30 năm sau vụ giết Kennedy, những người Mỹ đã biết nhiều về âm mưu của Chính phủ Mỹ dẫn đến việc giết Kennedy trong “cuộc đảo chính” năm 1963.

Người ta hẳn nghĩ rằng câu chuyện chiến tranh vi trùng sẽ là bản tin tuyệt vời trên vô tuyến, một nền công nghiệp chuyên say mê các trò giải trí, tình dục, và xì căng đan. Chẳng hạn “Bản tin mười một giờ” của đài ABC (ngày 19-05-1992) đưa tin về các sự kiện đáng đưa tin sau đây trong ba mươi phút buổi tối : Một cuộc phỏng vấn với Tom Cruise và Nicole Kidman đang gắng công thực hiện bộ phim mới Xa và cách biệt, các trích đoạn của bộ phim sắp trình chiếu Người ngoài hành tinh 3, một tác phẩm ngắn của Ringo Starr cựu thành viên ban Beatle trước kia, một mẩu tin về việc có thể tìm lại “nịt ngực” của Madonna bị lấy trộm mất ở Hollywood, một câu chuyện về việc Larry Fortensky (chồng của Elizabeth Taylor) bị kiện ra tòa vì tội lái xe khi đang say. Các mẫu tin khác gồm tin ngắn về các chú chó cảnh sát, những gay go về pháp lý của một người đàn ông Georgia bị tố cáo hiếp dâm một phụ nữ bị rối loạn nhân cách, sự tiết lộ rằng cái chết của “Brady Bunch” cha (Robert Reed) có liên quan đến AIDS, và một mẫu tin về bệnh sởi ở Đức. Hai đoạn tin quan trọng nhất liên quan đến Jesse Jackson (“Tất cả chúng ta phải học sống cùng nhau”), và phó Tổng thống Dan Quayle tìm cách trở lại “các giá trị gia đình” và việc ông lên án nhân vật trên vô tuyến “Murphy Brown” có con ngoài giá thú. Ngoài ra, tin thể thao và tin thời tiết (và vô số tin thương mại) bổ sung cho “các sự kiện quan trọng” trong ngày.

Những người mê tín về các âm mưu biết rằng giới truyền thông chủ yếu bị kiểm soát bởi các nhóm lợi ích làm ăn lớn. Những kẻ kiểm soát, điều hành và kiểm duyệt giới truyền thông biết rõ các hàm ý chính trị và xã hội của câu chuyện chiến tranh sinh học AIDS. Một số nhà nghiên cứu các âm mưu tin rằng việc giới truyền thông ỉm đi câu chuyện về AIDS làm cho nó thậm chí đáng tin hơn.