View Full Version : Tuyển tập 1 của Sanya
Sanya
01-12-2005, 03:04 PM
Nhà quê
Ai cũng biết anh Út Sương Gió. Khắp xóm này từ con nít năm tuổi đến ông già tám mươi đều kể vanh vách khi có ai đó hỏi về anh. Anh nổi danh như cồn chỉ vì anh làm mướn. Kỳ vậy? Kỳ đâu mà kỳ, bởi anh làm việc bằng hai, ba người. Mà anh nổi danh cũng vì cái tánh ba lơn, nói chuyện cứ khơi khơi, chẳng biết anh nói thiệt hay nói dóc.
Có người nói anh ''mát'', có người nói anh ''ở trển xuống", chuyện gì anh cũng thấy "đơn giản như đang giỡn'' vậy. Có bữa, anh oang oang kể:
- Hồi hôm qua, tôi đi phát ở ruộng bà Sáu Cà, đang phát ngon lành bỗng nghe “cụp" một cái, tôi thấy máu đỏ lòm cả đám cỏ chát. Thì ra tôi chém đứt đầu con hổ đất to bằng bắp chân, dài cỡ hai thước, lôi về hầm đu đủ ăn tới giờ chưa hết.
Ông Ba trợn mắt thò lõ:
- Thiệt hả mậy?
Anh cười hì hì, khoe hàng tiền đạo sún mất một cái, tỉnh queo:
- Giỡn!
Ông Ba mất lửa, cầm cây cuốc nhứ nhứ:
- Thằng quỷ! Mày là cháu nội bác Ba Phi hả mậy?
- Nói cho vui mà bác, tui mà không tào lao thì buồn lắm. Đời tui buồn thiệt, bác biết mà!
Đúng là ở cái xóm Đình Cũ này chẳng ai có cuộc đời buồn như anh. Đến ba má mình mà anh cũng không biết là ai nữa. Chỉ biết rằng hồi nhỏ thì ông bà Tám nuôi, lớn chút thì đi mót lúa, soi cá về đổi gạo. Theo lời bà Tám, cách đây khoảng hăm bốn, hăm lăm năm gì đó, khoảng năm giờ sáng, bà ra mé sông rửa mớ chén bát ông Tám nhậu hồi tối với mấy ông bạn già trong xóm, chợt nghe tiếng khóc oe oe. Lúc đầu bà run lập cập tưởng ma vì trời vẫn còn tối. Nhưng tiếng khóc ngày càng rõ hơn, bà căng mắt tìm một hồi thì thấy một cái thúng để sát bụi trâm bầu cặp bến xuồng. Trong đó một đứa con nít nhỏ xíu, ngó bộ dạng chắc đang đói và lạnh lắm. Ông bà không con nên tin đây là đứa con trời cho, mặc dù trong thúng còn có thêm miếng giấy ghi mấy dòng chữ nghiêng nghiêng nhoè nhoè vì mấy giọt nước, có lẽ là nước mắt: “Mong ai đó cứu giùm đứa nhỏ, sau này có dịp đền ơn". Năm anh mười tuổi thì cả ông bà Tám lần lượt qua đời, anh sống một mình trong sự đùm bọc của bà con chòm xóm. Hai mươi tuổi anh cao nhồng, gân guốc như cây đướác, khoẻ mạnh như cây chà là quanh năm ngập mặn vẫn lớn vùn vụt. Anh làm mướn khắp xóm, bất cứ việc gì làm ruộng, rửa dừa, xên đất. Dòm anh tròng cổ vô láp cõng nguyên cái máy D8 nặng cả trăm ký đi ào ào qua hai, ba cái mương, ai cũng le lưỡi. Chính cái gian nan, cực khổ từ nhỏ tới lớn và cũng chính vì cái kiểu nói hay ''đâm xuồng lủng" không đâu ra đâu mà anh được đặt biệt danh: Anh Út Sương Gió. Ai đặt không biết, cả xóm đều kêu như vậy. Anh nghe vậy, biết sao!
Căn nhà ông Tám để lại đã mục nát nhưng anh không sửa vì không có tiền. Mà dù gì thì cái nhà lớn làm nỗi cô đơn trong lòng anh càng tăng lên. Anh chỉ một thân một mình. Khi cái nhà sập sau một cơn mưa lớn, anh dọn lên ở trên chiếc xuồng có cái mui thấp lè tè, tròn dình, chiếc xuồng bằng cây sao ông bà Tám để lại. Ăn, ngủ gì cũng trên đó, muốn tắm thì phóng xuống sông, chiều buồn thì ra trước mũi xuồng câu cá, gió mát hứng tình thì làm vài câu vọng cổ khơi khơi. Cuộc sống đâu có thua ông... ông gì trong vô tuyến mới coi hồi tối cà. Ờ, Khương Tử Nha! Ông phải ngồi câu cá trên bờ mà cần câu không có lưỡi. Còn anh giật cá phà phà, lại được ngồi trước mũi xuồng lắc lư theo nước, gió hiu hiu mát mê hồn. Ai hơn ai? Nghe anh so sánh, cả xóm không nín cười được. Út ơi là Út! Khương Tử Nha câu cá là để tìm cách phò vua giúp nước, câu cá mà đầu óc nghĩ chuyện quốc sự, còn trong đầu anh có gì đâu ngoài hình ảnh mấy công ruộng, mấy đám dừa, mấy cái đìa chưa xên bùn...
Nhưng bây giờ trong đầu anh lại có cái khác ngoài mấy thứ kia. Hình bóng một người con gái. Không ai tin điều này, bởi có khi nào nghe anh nhắc đến chuyện vợ con đâu. Cũng có mấy đám kêu gả con mà anh đâu có chịu. Thứ nhất là anh không thương. Thứ hai là anh hổng biết họ thương mình thiệt hay muốn có thằng con rể làm lụng giỏi như anh, đặng họ khỏi mướn người làm. Ông Ba nói anh nghe vậy, chớ vợ mà ai không muốn, tối nằm một mình trên xuồng cũng đứt ruột chớ chơi đâu. Nếu nói đến động đất ở xóm Đình Cũ này còn có người tin, chớ nói đến bóng hồng trong tim anh Út là cô giáo Hà thì tới đứa con nít mũi dài còn thò lò cũng hổng tin nổi. Mà thiệt vậy mới chết. Hôm cô Hà về dạy ở trường cấp một của xóm cũng là hôm mà anh Út thấy trái tim mình run lẩy bẩy. Thấy cổ đi trên lộ, anh Út đang ôm cái ''đầu bò” hút bùn dưới mương mà hai chân lập cập đứng không vững, ủi cái đầu bò vô bờ làm nó hút muốn sập bờ đìa. Ông Ba vừa chửi vừa cười:
- Thằng mắc dịch, mày bị sét đánh hả con! Ráng né nghe mậy, cô giáo chứ hổng phải chơi đâu!
Mọi người cười ầm lên, anh tỉnh rụi:
- Mắc gì né, cho đánh trúng luôn.
Sanya
01-12-2005, 03:05 PM
Tin anh Út thương cô Hà làm chấn động cả cái xóm nhỏ quê mùa. Chuyện giật gân này nhanh chóng bay từ đầu làng đến cuối xóm, bởi gặp bất cứ ai anh cũng nói, nói như xí phần vậy, nhưng với cô Hà thì anh có dám “tỉnh tò” lời nào đâu. Nói với người ta thì bạo miệng, bạo mồm chứ mỗi lần đụng cổ đi trên lộ là y như rằng anh tắt đường ruộng mà đi. Hỏi sao vậy? Anh biểu kiếm mấy con ếch dìa nhậu. Mỗi sáng thức dậy, anh ngồi trước mũi xuồng ngó lom lom chiếc cầu khỉ bắc qua sông để nhìn cô Hà thướt tha trong bộ áo dài, tay ôm chiếc cặp táp đến lớp dạy. Mới đây thôi, anh cùng đám trẻ còn tắm sông cởi trần trùi trụi, lên cầu nhảy ùm ùm xuống nước. Bây giờ, anh cấm tụi nó lên cầu nhảy xuống. Anh sợ tụi nó làm ướt cầu cô giáo đi không được. Anh đóng lại tay vịn cho chắc, còn đem mấy bụi bông soi nhái về trồng hai bên đầu cầu vàng rực rỡ. Anh Út cũng lãng mạn lắm chớ bộ.
Chắc cô Hà cũng biết tin này vì tất cả mọi việc của anh Út cả xóm đều biết. Mỗi sáng qua cầu, cô cũng hay nhìn về phía chiếc xuồng bơ vơ dưới rặng mắm. Mỗi lúc như vậy, tim anh Út đánh lô tô loạn xạ. Cổ còn cười nữa, trời ơi là trời, cái răng lòi xỉ như đâm vào tim anh nhoi nhói. Có lần, cổ hỏi thăm khi thấy anh ngồi trước mũi xuồng câu cá bống:
- Câu cá được nhiều hôn, anh Út? Có mình ên ăn gì hết!
- Tui muốn có người ăn chung nè! Không biết có ai chịu ăn với tui không? Anh muốn nói như vậy lắm nhưng khi không đầu lưỡi cứng đơ, không rặn ra được một tiếng. Đành cười hì hì, tay gãi lia lịa mớ tóc bờm xờm như xơ dừa. Cô Hà đi rồi, anh nằm trong mui tự rủa mình. Hằng ngày cái miệng bằng mười người khác, gặp cổ tự nhiên câm ngang xương, tức mình thiệt!
Thường cặp nách bao gạo ra bến sông, réo um sùm:
- Anh Út Sương Gió ơi! Gạo nè!
Anh ló đầu từ mui ra:
- Ừ chờ chút! Tới liền!
Thường quăng bao gạo sang cho anh, nhìn từ đầu tới chân, giọng dài thườn thượt:
- Chèn ơi, cấp này cạo râu láng o ta. Nè, tui biết hết trơn rồi nghen. Ăn hết bao gạo này trả luôn bốn bao trước, hổng cho thiếu nữa!
Không cho thiếu chắc chết đói quá, đến mùa nước lên rồi có đi mần ruộng, mầm đất gì được nữa đâu. Út nghĩ Thường quạu quọ, vậy chắc có chuyện rồi đây. Hồi nào tới giờ, năm bảy tháng anh mới trả một lần cũng được. Sao bây giờ...
- Đến tháng chạp tui trả được hôn? Hồi đó tới giờ cô đâu có đòi.
Giọng Thường vẫn chua lè chua lét:
- Hồi trước hổng đòi, bi giờ đòi đó, ai biểu...
Biểu gì chắc anh hiểu mà! Ai biểu người ta thương anh mà anh vô tình chi vậy. Ai biểu không biết một con chữ nào mà bày đặt, bày điều yêu cô giáo. Hai con mắt tui đỏ chạch nè, thấy người ta sắp khóc mà không hiểu chút nào hả? Ngu gì đâu! Mặc dù anh hay nói chuyện tào lao thiệt nhưng chưa đến nỗi khờ khạo không biết Thường thương mình. Đâu có ai ở xóm này lo cho anh như cổ. Mỗi lần đem gạo ra xuồng cho anh bao giờ cũng kèm theo vài thứ lặt vặt, khi bịch đường, khi hũ nước màu. Thấy áo anh rách vai do dầm mưa dãi nắng, cổ còn mang ra cả kim chỉ nữa. Có lần cổ thử:
- Tui vá áo cho anh suốt đời nghen!
Anh vẫn vô tư như người cổ đại:
- Bi giờ thì được, nhưng chừng nào cô có chồng thì thôi, heng!
Anh cũng chẳng hiểu tại sao mình lại dửng dưng trước một tấm chân tình như vậy. Chắc có lẽ từ nhỏ tới giờ cả cái xóm này với ai anh cũng đối xử như vậy. Nhưng với cô Hà thì khác à. Cổ ở tỉnh xuống mà. Anh dọn cỏ dại cái nền nhà cũ, chắc hẳn đang ôm ấp một dự định gì quan trọng lắm. Đám con nít giúp anh gom cỏ dại. Vừa đốt, chúng vừa chọc: Tính mần nhà đặng cưới vợ hả anh Út. Trời, tụi này mới chút xíu mà tài thiệt. Nói y chang! Anh đang mộng mơ xây dựng một thiên đàng thì đùng một cái giấc mơ kia sụp đổ tan tành. Đang thiu thiu ngủ trưa thì thằng Tâm đi học về, đứng trên cầu la:
- Anh Út ơi, thứ năm này tụi em được nghỉ học, đám cưới cô Hà.
Anh bật dậy:
- Giỡn mậy! Có nghe ai nói gì đâu, xạo là chết với tao nghen!
Thằng Tâm hét lên như nói với cả xóm nghe:
- Thiệt mà, với thầy hiệu phó, nói dóc cho sập cầu xuống sông đi.
Không kịp mặc đồ, anh cứ quần tà lỏn, chạy ngời ngời lên nhà ông Ba hỏi cho chắc ăn. Đúng là cô Hà sắp có chồng! Anh thất thểu ra về, chân đi sao mà cứ lẹo xẹo như dính vào nhau. Trách ai bây giờ, tại cô Hà vô tình, hay tại anh nhút nhát, để ý người ta hơn năm rồi mà chẳng nói lời nào, gặp người ta cứ tắt đường ruộng, đường sông mà đi. Ai mà biết. Mấy lần mon men tới trường, đứng tuốt đằng xa, núp vô gốc còng coi cô Hà giảng bài. Hổng biết một chữ bẻ đôi mà anh nhìn say sưa như đứa học trò giỏi nhất lớp. Kẻng tan học vang lên cũng là lúc anh vượt qua rào, chạy một hơi về nhà. Lỡ cô Hà thấy thì có nước độn thổ.
Tin anh Út thất tình cũng lan nhanh trong xóm như cái hồi anh tuyên bố hùng hồn cứ mặc kệ cho tiếng sét ái tình đánh trúng. Mọi khi, anh ở đầu xóm thì cuối xóm đã nghe cái giọng ồm ồm như vịt đực của anh rồi. Bây giờ, cả ngày anh chẳng nói tiếng nào, cái bản mặt lầm lầm như ai ăn hết của. Tụi con nít cũng chẳng đứa nào dám mở miệng ghẹo anh. Thằng nào nhắc đến cô Hà là anh cứ nhắm ngay cái đít mà sút một phát như Beckham sút phạt, đau thấu trời. Sầu đời, chiều nào anh cũng nhậu. Thấy anh ôm chai rượu ngồi trước mũi xuồng ngửa cổ nuốt ừng ực từng hơi, ông Ba rầy:
- Nhậu cũng không hết buồn đâu, quên đi mày ơi! Người ta là cô giáo mà. Con Thường thương mầy thì ưng phứt nó cho rồi, cứ đòi chê trời không hà.
Cái điệp khúc ''cô giáo mà'' ông Ba đã lặp lại với anh ít nhất cũng đã chục lần rồi. Cô giáo thì sao? Tui mồ côi mồ cút thiệt, tui dốt đặc cán cuốc thiệt, nhưng tui thương cũng rất thiệt. Tình cảm từ trong lồng ngực tui bật ra nè. Tui thương cô Hà vì cổ là cô giáo đâu! Nhưng vì cái gì thì anh cũng mơ hồ lắm, hình như là vì cái răng lòi xỉ cổ hay cười. Mà cổ cười với tất cả mọi người trong xóm chớ riêng gì anh đâu. Tương tư làm chi cho cực vậy không biết. Nhìn lên cái cầu khỉ, hằng ngày nó dễ thương quá chừng sao hôm nay nhìn gân guốc, xấu xí như bộ xương khô của con mẹ phù thủy trong phim hoạt hình. Anh muốn dỡ nó quăng xuống sông cho đám rước dâu không qua được, cho cô Hà không thể sang sông theo chồng về Xóm Cát. Nhưng làm vậy anh lại sợ cô Hà ghét mình. Không thương nhau thì thôi, ghét bỏ nhau làm chi. Liệng chai rượu không còn giọt nào xuống sông cái đùng như trút bỏ khối tình đơn phương, anh cười hặc hặc, mắt nhướng nhướng, miệng lè nhè mấy câu thơ mà anh nghe lóm trong bộ phim Tàu nào đó:
Rút gươm chém nước, nước vẫn chảy
Nâng chén tiêu sầu, càng sầu hơn
Bữa sáng đám cưới rước dâu ngang cầu, dưới rặng mắm già vẫn là chiếc xuồng nhỏ lẻ loi cô độc một mình: Sáng nay, anh Út không ra mũi xuồng ngồi như thường ngày để nhìn cô Hà qua cầu. Anh nằm trên sạp xuồng, thở dài như sắp đến ngày tận thế. Tụi con nít chạy theo đám rước dâu la hét um sùm cả xóm nhỏ. Qua lỗ thủng của cái mui xuồng bằng lá dừa nước, anh thấy cô Hà ngừng lại giữa cầu nhìn về phía chiếc xuồng của mình. Nhưng hôm nay cô không cười, không khoe cái răng lòi xỉ như
mọi bữa. Có chồng thì đi phứt cho rồi. Nhìn chi!
Đến trưa, tự dưng chiếc xuồng nhúc nhích và cái giọng ong óng của Thường vực anh dậy:
- Anh Út Sương Gió ơi, cơm nè! Tui biết anh nhịn đói từ sáng tới giờ.
Đúng là bụng anh như có cả ngàn con kiến bò trong đó. Hồi sáng tới giờ rầu thúi ruột, có nấu nướng gì đâu. Anh chui ra, dụi mắt rồi nhìn lom lom:
- Trời! Cô hả! Bận áo dài trông cũng ngộ quá hén!
Bữa nay Thường cũng đi ăn đám cưới, mặc bộ áo dài màu hồng phấn, sắm tuồng lên coi bộ cũng duyên lắm. Người ta đẹp vậy mà anh cù lần quá nên không thấy đó thôi. Vừa dọn cơm ra sạp xuồng, Thường ''xí'' một cái:
- Tui ngộ lâu rồi mà không biết, mê đâu không hà!
Anh bật cười, cười như để lấy lại thăng bằng. Mấy ngày rồi anh có cười được miếng nào đâu. Anh lại nhìn lên cây cầu, dù sao thì mấy đám bông soi nhái ở hai bên đầu cầu vẫn vàng rực, dù sao anh cũng phải quên một hình ảnh đã xa, dù sao anh vẫn còn nguyên cái xóm nhỏ quê mùa và... Nhìn theo cái eo thon của Thường khuất sau bụi trâm bầu, anh bất chợt nao nao. Chút xíu thôi hà. Ngoài sông Cái, gió chướng về đem theo cái lạnh se lòng. Mùa Xuân tới rồi...
(Kiến thức ngày nay)
tranminh
01-12-2005, 11:55 PM
Sanya trích truyện mà không để tên tác giả, kỳ quá nha :-) Truyện dễ thương lắm :-)
Sanya
02-12-2005, 12:21 PM
Không anh ơi, k phải em cố ý đâu mà bài này em tải từ net của báo Kiến thức ngày nay, mà báo này không đăng tên tác giả nên em k biết tác giả là ai. Một lần nữa thành thậ xin lỗi độc giả, xin lỗi anh Minh nhe.
Sanya
17-12-2005, 04:25 PM
Gời tặng anh Trần Minh
Đường vòng
TTO - Hồi nó 5 tuổi, cái tuổi đã bắt đầu biết ghi lại ký ức, gia đình nó vẫn còn nghèo lắm. Ngày đó, cả nhà 3 người thường đèo nhau trên chiếc xe đạp cũ kỹ, cứ vang lên những tiếng nhạc xe kẽo kẹt mỗi lần thằng nhóc nhí nhảnh là nó lắc lư cùng tiếng huýt sáo của bố.
Chiếc xe đạp tội nghiệp, cuối tuần lại phải đèo cái gia đình hạnh phúc ấy đi “bát phố”. Gọi thế cho oai, chứ thật ra thì bố chỉ chạy vòng vòng thị xã cho hai mẹ con ngắm người, ngắm xe, ngắm những cửa hiệu đủ màu. Theo đúng tuyến đường bát phố thì cả nhà sẽ đi qua công viên thiếu nhi, nơi có những chiếc xe bán bong bóng đủ màu, có bong bóng hình con thỏ với bộ râu bằng giấy, có bong bóng thắt hình con sên dài thượt… đơn giản thôi nhưng gợi lên trong lòng thằng bé 5 tuổi biết bao thèm muốn. Thằng bé đó cứ nằng nặc đòi bố mẹ mua cho bằng được, nó khóc, nó giãy nãy, nó thấy tủi thân với chúng bạn… Nhưng nó nào biết cái thời chạy gạo từng bữa ấy, để có một quả bong bóng rồi sẽ nhanh chóng xì hơi, bố mẹ nó chắc phải cày cả tuần trời…
Vậy là những lần bát phố sau, bố không đi theo tuyến đường của mọi người nữa, xe đạp phải cọc cạch xa hơn, mệt hơn trên một quãng đường khác, mà bây giờ, mỗi lần nhắc lại, bố gọi là “đường vòng”. Ôi con đường vòng tránh những đòi hỏi ngây ngô, tránh những khó xử người lớn nhưng thương quá những lặng thầm, gồng gánh nuôi con!
Bây giờ, nó lớn, đi học, đi làm. Lắm lúc vì đường đời không bằng phẳng, nó phải luồng lách, chạy đầu này, lo lót đầu kia để mọi chuyện êm ấm, công việc trôi chảy. Những ngóc ngách không tên ấy, người ta cũng gọi là đường vòng, con đường vòng mệt nhoài, đi qua rồi xấu hổ không dám nhìn lại. Bất giác, nó nhớ đến bố, đến con đường vòng ngày xưa bố chở nó đi mà lòng nức nở cho những hy sinh…
TRẦN PHẠM LÊ PHAN
Sanya
17-12-2005, 04:30 PM
Bài này rất hay anh Minh ạ, có những người sống bên ấy vẫn có chút gì tha thiết nhớ về quê hương, nhớ về quê nhà và con người của tổ quốc, họ nhớ và họ gởi gấm những món quà đắt tiền, những món quà đơn sơ thậm chí những món quà như thế tuy ấy đằng sau đó là những gì cái đáng quí nhất và đáng trân trọng nhất anh ạ : Tình người. Em mời anh xem truyện nhé.
TTO - Gọi điện chào tạm biệt Hoàng. "Em về à. Nhanh nhỉ, lại sắp tết rồi“. Giọng Hoàng thảng thốt buồn khiến Thúy không thể từ chối khi chị đề nghị gặp nhau lần nữa. Thúy biết Hoàng từ những lần đi phiên dịch cho các bệnh nhân người Việt sống trong trại tỵ nạn ở tiểu bang này.
Chuyện đời chị Thúy nghe hao hao từ hàng trăm người, đến cả trăm lần rồi nhưng chỉ có Hoàng là người Thúy thương hơn cả. Không chỉ vì ở Việt Nam họ sống cùng thành phố mà vì thái độ của chị lúc nào cũng rụt rè, sợ sệt nhưng nói câu nào cũng chân tình, không phân bua, ngụy biện. Sau khi ly dị, chị gửi cô con gái đang tuổi lớn cho bố mẹ, sang Đức tìm cách đổi đời. Chị đặt tất cả niềm tin và số tiền 8.000 USD, gia tài được chia sau 15 năm làm vợ, cộng thêm 50 triệu vay của bố mẹ cho người bạn học cũ chuyên tổ chức đưa người sang châu Âu.
Ba năm rồi chị vẫn là "công dân trại“, giấu biệt các chứng minh là người Việt vì sợ bị trả về, sợ phải đối mặt với cha mẹ, với cô con gái đang khát khao giấc mơ mẹ đón sang du học.
- Em cầm về cho cháu món quà của chị nghe!
Nghĩ đến cái vali chật căng, khóa chặt, Thúy không vui lắm, nhưng không thể từ chối ánh mắt tha thiết ấy. Về nhà, Thúy hì hụi mở vali, tiếc rẻ bỏ ra mấy hộp chocolate. Khi khui hộp cạcton định lấy quà xếp vào, Thúy giận nóng hết cả mặt, với điện thoại muốn hỏi chị quà gì lạ vậy, Thúy không đồng ý, không nhận lời. Chuông đổ hai hồi, Thúy cúp máy xuống: "Có đáng gì đâu mà nỡ để chị tủi thân thêm“.
Sài Gòn giữa đông rồi vẫn nóng hầm hập, chẳng bù cho cái xứ sở lạnh tê tái bên kia. Thúy chạy xe thong thả, ngắm nhìn thỏa thích không khí rộn ràng tấp nập. Đâu cần vội, 20 phút nữa trường mới tan. Lòng Thúy chùng hẳn xuống khi nghĩ đến món quà sắp chuyển. Cô bé chắc là hồi hộp, chắc là sung sướng lắm từ lúc nhận tin báo có quà của mẹ. Gần cổng trường rồi trái tim Thúy vẫn không yên. Cô thấy bất nhẫn vì sẽ trao món quà này. Đột nhiên, Thúy quay xe đến tiệm giày quen, chọn một đôi rất đẹp, cỡ 36, thầm hy vọng nó vừa vặn với chân cô thiếu nữ 17 tuổi.
- Công nhận giày ở bển cũ rồi xem vẫn còn có dáng ghê.
Bà chủ tiệm xởi lởi hỏi thăm khi Thúy nhờ vất đi đôi giầy mùa đông nặng trịch, cũ kỹ.
Cổng trường vắng, chỉ còn mình cô bé đứng ngóng ra đường. Thúy dừng xe, em bật lên: "Em đã sợ chị không đến“.
Ánh mắt rạng ngời hy vọng, nụ cười tươi rói của cô bé đã lẫn vào dòng người, mà tâm trạng Thúy vẫn trĩu nặng nỗi buồn. Câu nói của Loan, người sống cùng phòng với chị Hoàng, văng vẳng trong sâu thẳm trái tim cô: "Bà đó lạ ghê, tháng hai lần người ta vất đồ cũ bả lang thang đủ hai lần, tha lôi về chật phòng. Nói hoài hổng được, cái thân mình còn chưa biết về đâu, ba cái đồ thừa đó biết làm gì giờ“.
THANH LUYẾN
Sanya
17-12-2005, 04:35 PM
Ngày đêm đông Sài Gòn lạnh anh ạ, anh Minh biết không cái đêm hôm qua em đi ngang qua đường 3/2 dừng xe lại cho cụ già thổi sáo tiền anh ạ, bao con mắt ngỡ ngàng nhìn em. Bài này rất hay, tờ 1000 đồng ... rất sâu sắc và ý nghĩa, dôi khi mình thấy cái gì đó nên nhìn hết câu chuyện của nó chứ đừng đánh giá hành động của họ khi họ chưa hoàn thành anh nhỉ. Em mời anh dọc bài này nè hay mê ly á.
TT - Buổi thi cuối. Còn 15 phút nữa mới tới giờ, cả lớp nhộn nhạo trước phòng thi. Kẻ cười người nói, lớp học không đông lắm nhưng cũng đủ làm mảnh sân nhỏ trở nên chật chội.
Bỗng một bạn la lên: “Ủa, ai đánh rơi 1.000 đồng nè”. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía có tiếng la. Chàng lớp phó đứng cạnh gốc phượng hí hửng chỉ tay xuống nền ximăng: “Nè, đây nè”. Lẫn trong lá cây rụng và cát bụi là tờ 1.000 đồng cũ kỹ.
“Trời, tưởng gì có 1.000 đồng”, “Còn cũ xì nữa chớ”, “Hi hi, lớp phó nhặt đi, nhìn tướng ông giống ăn mày lắm đó”... Tờ tiền nằm chỏng chơ vì chẳng ai muốn bị “mang tiếng”. Bỗng một cô bạn nhỏ nhắn len đến gốc phượng nhặt tờ tiền lên, phủi sạch bụi, bỏ vào túi áo.
Không khí ồn ào tự nhiên lắng xuống cho tiếng xì xầm to nhỏ nổi lên. Một nhóm bạn gái tóc duỗi bĩu môi: “Nhìn nhỏ cũng đâu có tệ há, không ngờ...”, “1.000 đồng rách cũng không tha”... Có vài ánh mắt thương hại dõi theo bạn gái nhặt tiền.
Tan buổi thi. Mọi người lục tục ra về. Trời đang chuyển mưa nên bạn nào cũng vội vã. Người bạn gái nhặt tiền dừng xe, lục trong túi áo ra 1.000 đồng ban nãy, vuốt thẳng rồi nhẹ nhàng đặt vào nón bà cụ ăn xin ngồi bên lề đường, mỉm cười với bà rồi vội vã hòa vào dòng người...
UẤT KIM HƯƠNG (Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM)
Sanya
17-12-2005, 04:40 PM
TTO - Gia đình tôi bán văn phòng phẩm. Ba mẹ tôi lại là giáo viên. Mỗi năm cứ đến ngày 20-11, tôi lại chứng kiến cái cảnh những bà mẹ đi mua quà cho con.
Còn ba mẹ tôi chỉ nhìn rồi cười, một nụ cười xót xa cho cho cách người ta chọn những món quà để tôn vinh người thầy, người cô dạy con họ nên người…
Những bà mẹ mua quà cho con. Lựa chọn, tính toán thật kĩ để không phí đồng tiền vô ích. Vì môn học cũng có môn chính, môn phụ… và thế nên thầy cô cũng có người phụ, người chính…
Những bà mẹ lại đi mua quà cho con. Gặp nhau ở cửa hàng và bàn tán với nhau. “Ừ! Nhà cô đó nghèo lắm! Mua như vậy được rồi”, “Trời đất, nhà thầy đó hả? Giàu sụ, lựa cái quà gì cho xứng đáng chứ…”. Họ gục gặc đầu… và bắt đầu lựa chọn quà mừng cho những người dạy con cái họ nên người.
Những bà mẹ lại đi mua quà cho con. Lựa chọn cả ngày trời. Có người bảo cô bán hàng gói đại cái gì mà những người khác hay mua đấy. Có người tiếc tiền, lục lại đống quà mừng sinh nhật hay tân gia, người ta tặng nhiều quá, không xài hết, rồi đem ra tiệm nhờ người bán hàng gói hộ và đính kèm theo tấm thiệp của ngày 20-11.
Lại có những bà mẹ chẳng đi mua quà cho con. Công việc bận bịu quá! Mà thời buổi này là thời buổi kinh tế thị trường mà! Ngày 20-11, bà mẹ mua một cái phong bì rồi mở bóp lấy 200.000 bỏ vào: “Con mang phong bì này đến làm quà tặng cô”. Thằng bé ngơ ngác: “Vậy cũng được hả mẹ?...”.
Lại có những đứa học trò nghèo không có tiền mua quà tặng thầy cô. Tối về cặm cụi vẽ và làm những tấm thiệp ngây ngô. Sáng mai hái ở ven đường những bông hoa dại. Thằng bé ngượng ngùng trước những bông hoa rực rỡ và những món quà sang trọng của các bạn. Nhưng thầy giáo lại mỉm cười: “Đây là món quà mà thầy quý nhất!”...
Vậy mới hay, có những giá trị chỉ có ở tấm lòng…
DƯƠNG THỊ BẢO THỦY
Sanya
17-12-2005, 04:43 PM
TTO - Cái chết đến với cô quá đột ngột. Do một tai nạn giao thông. Riêng em càng suy nghĩ về cô. Nếu cô không đến nhà một đứa học trò nghèo trong xóm lao động để tặng một bộ quần áo thì chưa chắc tai nạn ấy đã xảy ra cho cô.
Cô ra đi để lại đứa con gái nhỏ vốn đã thiếu cha giờ đây lại mất mẹ.
Cô ơi em phải làm sao để ở cõi vĩnh hằng nào đó cô vẫn biết rằng đang có đưá học trò ngày đêm ân hận vì đã có lần vô lễ với cô.
Đã từ lâu em cứ tưởng rằng người tốt mãi mãi vắng mặt trên cuộc đời này. Cô đã giải cho em một bài toán khó về lối sống. “Vẫn còn có nhiều người tốt chung quanh ta”, đó là đáp án của cô .
Viết những dòng này thay cho nén nhang tưởng niệm đến cô. Bộ quần áo cô cho nó sẽ là phần thưởng vô giá theo em suốt cuộc đời. Càng nhìn nó em càng nhớ tiết dạy của cô.
- Các em cứ sống tốt để tâm hồn được thảnh thơi.
Lời cô giảng chưa dứt thì một tiếng suỵt từ đâu đó phát ra. Mọi ánh mắt trong lớp 7A1 đều đổ dồn về cuối lớp để tìm ra tiếng suỵt lạc lõng. Lúc này em mới thấy sợ trước sự im lặng.
Tiết học trôi qua, giờ ra chơi đến. Cô lặng lẽ bước ra khỏi lớp với lưng áo ướt đẫm mồ hôi. Em nhìn theo mà ái ngại.
Mấy đứa bạn gái ùa về phía em tranh nhau trách móc:
- Sao bạn dám vô lễ ngắt lời giảng của cô?
Cái tính tự ái vẫn còn đọng lại ở trong em:
- Tao thấy người nào sống tốt đều bị hàm oan, đều chết sớm. Tao là bằng chứng sống: nhà nghèo, quần áo cũ. Đi học bị coi khinh nhiều lúc tủi thân tao muốn bỏ học.
Mỗi lần đến tiết của cô là em cảm thấy lo lắng bồn chồn. Cứ thế hết ngày này sang ngày khác; hết tuần này sang tuần khác, nỗi lo âu cứ đeo đuổi em. Thà rằng cô quở phạt em một lần cho xong. Chẳng biết tâm hồn cô có thảnh thơi không chứ riêng em mang một tâm trạng khắc khoải hoài thôi.
Bây giờ thì cô không còn nữa nhưng bài học mà em ghi nhớ suốt đời là “Hãy sống tốt để tâm hồn được thảnh thơi”.
TUỆ HẢI
Thôi bây nhiêu đủ rồi, quà tặng anh Trần Minh, sài Gòn chiều ngày 17/12/2005 he he he. Còn quà cho anh TMD, anh RIm nữa hihihihi, chứ quà cho anh Huy có rồi, anh Phiêu thì khỏi nói.
tranminh
17-12-2005, 10:14 PM
Cám ơn Sanya rất nhiều về món quà bé nhỏ này, tác giả Uất Kim Hương hình như anh có đọc đâu đó một hai truyện, viết đơn giản lại hay, chúc em Giáng sinh vui vẻ và năm mới nhiều hạnh phúc :-)
Sanya
19-01-2006, 12:55 AM
Bắc Kinh thương nhớ
Toa tàu của Song Ngư có sáu giường nhưng chứa đến bảy người nằm. Không hiểu hai ông bà già nói cách nào mà nhân viên soát vé đồng ý cho họ nằm chung một giường. Song Ngư nằm giường tầng một, dãy A. Hai ông bà già nằm cùng dãy, tầng hai. Tầng trên cùng của dãy A là cô con gái đi chung với hai người.
Trông cô ta trạc tuổi Song Ngư nhưng xinh hơn, dày dạn phong trần hơn. Toa tàu bé lúc nhúc như cái chuồng cu, bước ngang đúng một bước qua bên kia là dãy B. Người nằm giường tầng một đối diện với giường của Song Ngư là anh chàng có vẻ là triết gia hơn là khách đi tàu. Cặp kính cận dày cộp luôn luôn trễ xuống cánh mũi phập phồng theo nhịp lắc lư của con tàu và tất nhiên, trong tay anh ta bao giờ cũng có sách. Hai tầng phía trên dãy B là một đôi, có vẻ là tình nhân. Song Ngư thấy họ quan tâm, âu yếm nhau lắm. Anh chàng nằm ở tầng hai leo lên leo xuống với cô gái ở tầng ba liên tục, họ hôn nhau và ôm nhau cười dấm dúi. Chẳng buồn sắp xếp hành lý cho gọn gàng, Song Ngư quăng phịch chiếc túi mềm đeo vai xuống mảnh giường bé tẻo teo. Xong, cô ngồi thu lu một góc nghe nhịp tàu. Xình xịch xình xịch... đều đều... đều đều... ngắt quãng... nhưng không buồn ngủ nổi, cô mong hành trình bốn mươi tiếng qua nhanh để được gặp lại Hạo và nhóm bạn ở Bắc Kinh. Song Ngư bị lạc tour ở nhà ga Nam Ninh, thế là cô đành đi sau Hạo và nhóm bạn đúng một chuyến tàu, họ hẹn đón cô ở nhà ga Bắc Kinh. Dù mọi thứ dường như đã được sắp xếp theo một trật tự nhất định nào đó, như là chuyến du lịch Trung Quốc lần này, Song Ngư phải có một lần đi lẻ loi. Nhưng cô vẫn cảm thấy ức Hạo như thế nào. Hạo làm sao mà bỏ cô lạc giữa chốn đông người. Cô chỉ mê ông già nặn tò he ở sân ga Nam Ninh một chút mà Hạo lơ đễnh để dòng người cuốn cô đi. Thôi lỡ rồi thì phải ráng, thâm tâm Song Ngư chẳng còn hào hứng gì với chuyến đi. Cô không có thói quen kêu ca và sợ hãi trước những khó khăn. Nhưng hiềm một nỗi giữa đất khách quê người, cô lại không nói được nhiều tiếng Trung Quốc.
Song Ngư nghe ông già nằm trên tầng hai nói lớn tiếng với bà già một điều gì đó. Chỉ vài giây sau, bà già lập cập leo xuống. Bà lôi dưới gầm giường cô ra bao nhiêu là ly tách và nồi niêu soong chảo. Bà đi lấy thức ăn cho ông già, có lẽ đó là những món ăn được bà nấu sẵn ở nhà. Bà lại lập cập leo lên với hai cổ tay treo lủng lẳng những túi xốp đựng lùng nhùng thức ăn. Một chút ông già lại la, bà lập cập leo xuống rồi lại lập cập leo lên. Cứ thế vài ba lần, Song Ngư thấy tội nghiệp bà già. Cô kéo tay bà, ra dấu bảo đổi chỗ. Hai ông bà lục tục kéo xuống tầng một. Song Ngư nhảy thót lên tầng hai. Ngồi chưa ấm chỗ, cô đã nghe tiếng gõ lóc cóc vào thanh giường bằng sắt. Cô gái ngồi tầng ba gọi bà già chuyển phần thức ăn thừa của cô xuống. Bà già đứng lên đưa tay đón cái đĩa nhựa từ cô gái, rồi run run chuyền lên một ly nước, một trái chuối. Con tàu lắc lư làm ly nước sóng sánh tràn. Ông già la lên bực bội, thô bạo đẩy bà già ngã xuống giường, rồi giật ly nước từ tay bà, thoăn thoắt trèo lên tầng ba như một con sóc. Ông già khỏe như vâm, chẳng thế mà bà già bị ức hiếp đủ điều. Song Ngư nghe giọng ông già đã dịu lại trên tầng ba, còn cô gái nói lí nhí điều gì đấy. Dưới tầng một, bà già ngồi thừ ra một chút rồi sụt sịt khóc. Song Ngư liếc lên tầng ba, cô gái vẫn nằm tư thế cũ, ông già ngồi ở góc giường đàng chân cô gái. Ngư bỗng thấy khó chịu trước cô gái, con cái mà sống bất nhẫn với cha mẹ mình như thế. Cô phải là người đi lấy thức ăn phục vụ cha mẹ mình thì đúng hơn. Nhịp tàu lại đều đều... xình xịch... xình xịch... Trên tầng ba, ông già nghiêng đầu lim dim mắt. Buổi ăn tối của mọi người trên tàu kết thúc. Thảo nguyên bát ngát bên ngoài với bao đồi núi chập chùng lẫn trong màn đêm đen kịt. Tiếng còi tàu giục giã đến nao lòng. Dù chưa ăn, Song Ngư vẫn không thấy đói. Cô nằm nhẹ xuống giường, khẽ nhắm mắt lại, giờ này Hạo đang làm gì ở Bắc Kinh. Đến lúc này, cô vẫn chưa tưởng tượng nổi chuyện Hạo có thể hồn nhiên lên tàu một mình. Điện thoại di động của cô hết pin lúc đó chưa phải là tất cả lý do. Lại không càng là lý do khiến Hạo hoảng hốt khi nghe cô gọi từ một máy công cộng. Chúng ta trễ tàu rồi, book vé lại thôi Hạo ơi. Không, anh đang ở trên tàu, em phải lên với anh nhanh lên, cô hướng dẫn viên đang đi tìm em đấy. Đến lúc này Ngư mới ngớ ra, ừ, chỉ một mình cô trễ tàu, chứ đâu phải là chúng ta, Hạo nói chính xác. Nhưng biết đâu mà tìm, sân ga mênh mông, cửa vào nhà ga thì vô số... Thôi nghĩ làm gì cho thêm đau đầu, tới đâu thì tới, mình đâu phải là trẻ con lạc mẹ. Song Ngư xoay người ra ngoài, cố vỗ về giấc ngủ, bốn mươi tiếng sẽ qua nhanh. Dù không cố tình nhưng Ngư vẫn thấy được chuyện của đôi tình nhân trên tầng hai, dãy B. Ra là vậy, cô gái đã leo xuống tầng hai tự bao giờ. Cố tình làm sao được, ngay tầm mắt Ngư đấy thôi. Họ yêu nhau dữ dội quá. Họ lùng nhùng với nhau trong tấm vải hoa chỉ kéo chưa đến ngực cô gái. Chàng trai rúc đầu vào bầu ngực trắng tinh của người yêu. Những sợi tóc dài lả lơi của cô gái quấn lấy tấm lưng trần của chàng. Nhớ đến triết gia ở tầng một, Ngư ngại ngùng đưa mắt nhìn xuống. Anh ta vẫn bình thản đọc sách dù thỉnh thoảng ba tầng giường bị rung lên ken két, đúng là thánh nhân. Ngư đằng hắng nhẹ, anh ta cũng không nhìn. Dường như anh ta phải đọc sách cho hết đêm nay vì ngày mai thế giới sẽ bị hủy diệt. Lại bắt đầu lùng nhùng ba tầng giường phía bên đây. Ngư nhìn lên tầng trên. Tim cô muốn thót lại. Ông già với cô gái đang đắp chung một tấm chăn. Ba tầng giường cũng rung lên nhưng nhẹ hơn bên kia. Ngư không thấy gì cả vì họ quấn chăn rất kín. Bỗng dưng Ngư cảm thấy sợ, sợ một điều gì đó rất bâng quơ. Cô ngồi dậy nhìn qua cửa sổ toa tàu, vẫn chỉ là bóng đêm đen kịt, gió thảo nguyên lùa qua rát ràn rạt. Cô hít một hơi thật sâu để tìm hương vị cỏ thảo nguyên - ngọt ngào mà cô đã được đọc trong mấy quyển tiểu thuyết Nga thời sinh viên mà chẳng thấy gì cả. Cảm giác lạ lùng đã lấn át tất cả... Tự trấn an mình, Song Ngư đưa mắt nhìn xuống tầng một. Bà già không ngủ, ngồi bó gối nhìn ra màn đêm. Cô đằng hắng một cái nữa, cũng như thánh nhân phía bên kia giường, bà già không thèm nhìn lên. Cô phải làm gì cho hết đêm nay trên tàu? Hạo phải làm gì cho hết đêm nay ở Bắc Kinh? Không có cô bên cạnh, hẳn đời Hạo phải buồn tẻ lắm. Cũng như cô vậy, không có Hạo, cô thấy đời mình nhạt như nước ốc. Xình xịch, xình xịch, xình xịch... Tàu tăng tốc lao nhanh trong màn đêm... Bà già ôm ngực ho, tiếng một, tiếng một... đến khô khan và ngạt thở. Tầng ba phía trên vẫn lùng nhùng, Ngư nghe tiếng thở gấp của cả ông già và cô gái. Ngư rùng mình, cảm thấy thật sự bất an. Cô vịn vào hai thanh sắt của chiếc thang hẹp nối ba giường và leo xuống.
Sanya
19-01-2006, 12:55 AM
- Nỉ hảo!
Nghe tiếng chào làm quen, bà già ngước lên:
- Nỉ hảo!
Bà nhích ra một chút để nhường chỗ cho Ngư ngồi, rồi lại đăm đắm nhìn ra màn đêm. Ngư hỏi sao bà không ngủ. Có lẽ câu cú của cô sắp xếp buồn cười lắm nên bà không nhìn ra màn đêm nữa mà lại nhìn Ngư nghệch ngạc. Bà hỏi cô là người Việt Nam phải không. Rồi bảo, chồng của cô có nhiều vợ không. Ngư bảo cô chưa có chồng nhưng đã có người yêu, định nói thêm người yêu đã bỏ ra Bắc Kinh trước rồi nhưng thôi vì không muốn kể lể chuyện mình. Bà im lặng một chút rồi buông tiếng thở dài:
- Tôi là người vợ thứ năm của ông chủ tôi, ông già đang ở trên tầng ba đấy.
Ngư xòe năm ngón tay ra:
- Bà có đến năm người yêu trước khi lấy chồng?
- Không phải, tôi chỉ là đầy tớ, cô có hiểu không?
- Làm đầy tớ... thế sao bà có nhiều người yêu vậy?
Thánh nhân bên kia giường chịu không nổi cách nói một đàng, hiểu một nẻo của hai người phụ nữ nên mới chèn ngang bằng tiếng Việt:
- Bà ấy bảo bà là người vợ thứ năm của ông chủ, cái ông đang lùng nhùng trên kia đấy!
Ra vậy là biết hết chứ nào phải không, còn biết cả chuyện ông già đang lùng nhùng trên kia. Phiên dịch được một câu đầy, biểu cảm như thế nhưng mắt hắn vẫn dán chặt vào sách, đầu hắn gối hờ hững trên chiếc áo khoác gấp làm tư và cứ lắc lư, lắc lư theo nhịp tàu, chiếc kính trễ xuống đến chóp mũi nhưng vẫn không chịu rời chủ nhân đáng kính của nó. Ngư không thèm quan tâm đến hắn:
- Còn cô gái trên kia là cái gì của bà?
Bà già hỏi lại:
- Nỉ shuo sởn ma, wỏ pu tủng?
Thánh nhân phiên dịch lại. Nị nói cái gì mà tui không hiểu vậy. Bà già gật đầu ra chiều thoải mái, cũng chẳng cần cảm ơn nghĩa cử làm cầu nối ngôn ngữ của hắn, chuyện góp nhặt trên tàu là quà chung để mọi người qua nhanh chuyến hành trình, cảm ơn làm gì. Bà bảo cô gái đó là vợ thứ sáu của ông chủ, bà mới cưới cô cho ông cách đây một tuần, cô dâu chỉ hai mươi lăm tuổi. Thánh nhân lại phiên dịch mà chẳng mảy may nhìn lấy hai người phụ nữ đang trông chờ vào những lời vàng ý ngọc của mình phía trên đây giường. Thế thì tốt, cảm ơn. Ngư thích thú với ý nghĩ đó và tiếp tục trò chuyện cùng bà lão. Bà bảo ngày trước ông chủ nhiều tiền lắm nên muốn cưới bao nhiêu vợ mà chẳng được. Ông là chủ trang trại, vợ của ông toàn những cô làm công xinh xắn. Mỗi cô về làm vợ ông đều được một chiếc trâm cài đầu bằng vàng. Đến lượt bà, tuy là vợ thứ năm nhưng lại lớn tuổi nhất trong số các cô, bà chỉ kém ông năm tuổi. Khi đó, bà nấu bếp cho trang trại của ông được gần hai mươi năm, ông quyết định gá nghĩa cùng bà vì chán cô vợ thứ tư õng ẹo, suốt ngày chỉ biết moi tiền của ông để đi đánh bạc. Thêm nữa, ông mê tài làm vằn thắn và sủi cảo tuyệt hảo của bà. Gần hai mươi năm sống đàng hoàng với nhau bằng tình nghĩa vợ chồng, bà nghĩ ông không còn mê ai nữa vì tuổi già bóng xế. Nhưng trời xui đất khiến thế nào... Bà ngưng lại một chút rồi nhìn lên tầng ba hạ giọng như sợ hai người trên kia nghe thấy. Nhưng bà chỉ khéo lo, tàu vẫn lao đi xình xịch, xình xịch... tiếng đều đều lấn hết giọng của mọi người. Bà thở dài, chép miệng kể tiếp, cách đây vài tháng, ông đi uống rượu ở quán và vớ được cô hầu rượu xinh xắn mang về. Dù đã đến hồi khánh kiệt nhưng ông vẫn bảo bà gom góp tiền bạc để cưới cô làm vợ. Ông không còn chiếc trâm vàng nào nên bắt bà lấy chiếc trâm bằng ngà - sính lễ của ông cho bà ngày hai người quyết định về sống chung với nhau - để làm món cầu hôn cô hầu rượu. Bà bảo nhất định không. Cô dâu mới bảo, vậy thì phải thay bằng một số tiền. Dưới áp lực của một ông chủ, một người chồng mà bà phải sống nương nhờ gần bốn mươi năm, bà bán rẻo đất hồi môn bé xíu của cha mẹ bà để lại để có tiền đưa cho cô. Bà yêu ông lắm sao, Song Ngư tròn mắt ra hỏi. Bà lắc đầu, không đâu, nhưng thưa cô nương, sẽ là sự sỉ nhục nếu tôi trao sính lễ ngày cưới của mình cho con hầu rượu đang lùng nhùng phía trên đầu chúng ta đây. Nhưng sao bà đồng ý cưới cô ấy cho chồng bà, Ngư hỏi. Bà lão nhún vai, người giàu ở quê có quyền lực vô biên cô ạ, thì cũng như bà vợ thứ tư bị buộc phải cầm chiếc trâm ngà này đi cưới tôi cho ông chồng của bả vậy. Lúc này Ngư mới nhìn thấy hai tay bà lão đang vân vê chiếc trâm ngà. Chiếc trâm có lỗ nhỏ ở một đầu được bà xỏ vào đấy một sợi chỉ đỏ, rồi đeo vào cổ như dây chuyền, như bùa hộ mệnh. Bà ấp chiếc trâm ngà vào ngực, cô này, nó giúp tôi nhiều điều may mắn lắm đấy nhé. Trong đêm tân hôn của ông lão với con hầu rượu, khi tôi nằm một mình trong phòng, có một con rắn xanh lè trườn qua người tôi, tôi sợ quá, co cứng cả người lại, nhưng con rắn không làm gì tôi cả. Nó chỉ bò qua như là tiện đường thôi mà. Nhà nó là những bụi ngải cứu ở ngoài bờ kênh kia. Lúc đó, tôi đang mang chiếc trâm trên ngực này. Cũng chính nó đã giúp tôi thuần phục được con dê đầu đàn. Cái con dê già chết tiệt ấy đã đến hồi trở chứng. Lúc nào cũng phát rồ lên vì động đực. Nó lùng sục khắp các ngõ ngách trên đồi để tìm dê cái. Có một chiều nhập nhoạng phát hiện cu cậu đang nấp trong khe núi, tôi nắm cổ nó lôi ra, nó chống lại bằng cách giương sừng lên. Tôi sợ hãi co người lại và chạm vào đầu nhọn của chiếc trâm đang mang trên người. Có thế thôi mà tôi bình tĩnh lại, tôi đã đứng thẳng người lên, nhìn sâu vào mắt nó. Nhưng mọi thứ lại được hóa giải ngay sau đó bởi một bầy dê cái. Thấy bầy dê cái đi qua, con dê già không hung hãn nữa, nó kêu lên một tràng dài be be... Bà già kể hào hứng và tin tưởng đến vô chừng. Trên kia, ông chủ trang trại và cô hầu rượu vẫn làm chiếc giường ba tầng rung lên từng chập. Đôi uyên ương bên dãy giường B đã quấn nhau ngủ say. Thánh nhân vẫn nằm với sách và làm công tác phiên dịch giúp hai người. Đến lúc này, dù được ''cung cấp chùa'' những thông tin về cuộc sống gia đình bà lão nhưng hắn vẫn làm như chẳng liên can gì. Đảo mắt nhìn khắp một lượt như Song Ngư rồi bà lão kể tiếp, sau ngày cưới, cô hầu rượu đổi ý đòi về sống ở Bắc Kinh. Chiều cô vợ ra đời sau mình nửa thế kỷ, ông chủ trang trại gom góp của cải bán hết, kể cả bầy dê hơn trăm con do bà tích góp trong gần hai mươi năm về làm vợ ông. Ông ôm một đống tiền cùng hai bà vợ lên tàu... Chưa biết sẽ làm gì, ở đâu với số tiền này ở Bắc Kinh - bà lão chép miệng - nhưng ông phải chiều cô vợ trẻ trước đã, nếu không, cô ấy sẽ khóc và ủ rũ suốt ngày. Bà có năn nỉ ông để lại cái chái bếp và hai con dê cho bà sống một mình trên đất trang trại cũ. Nhưng ông đã quát tháo và bán tất tần tật. Ông bảo, ngày nào còn sống, ông còn cần món vằn thắn và sủi cảo của bà... Cuối cùng, bà phải ngồi chờ sáng một mình như đêm nay đây... Tàu lắc lư đều đều từng nhịp, từng nhịp... Chừng như đã mỏi mệt, bà lão tựa đầu vào thanh giường nhắm mắt lại. Ngủ đi bà ơi, đêm sẽ qua, ngày mai sẽ mang lại cho bà những điều mới... Biết đâu đó sẽ là những điều mới diệu kỳ, sẽ làm cuộc đời bà đỡ buồn hơn, đỡ khổ hơn... Phía bên kia giường, thánh nhân cũng đã ngủ, quyển sách rơi xuống hững hờ trên vầng ngực rộng đang thở phập phồng...
Sanya
19-01-2006, 12:57 AM
Bà lão sục sạo soạn hành lý làm Song Ngư thức giấc. Ra thế, nằm trên giường của bà, cô cũng đã chợp mắt được một chút sau những chuyện đời bể dâu. Ngư đứng dậy, đến bên cửa sổ toa tàu vươn vai, nhìn ra ngoài. Ngày mới đã mang đến cho mọi người những vạt nắng trong veo và thanh khiết. Làng mạc, núi đồi thảo nguyên lùi xa dần, tàu bắt đầu vào ngoại vi thành phố Bắc Kinh. Những chung cư cao tầng, những chuyến xe điện leng keng... Cả tiếng rao tào phớ, lục tào xá của những người bán hàng rong... đã nhanh chóng làm nên một diện mạo Bắc Kinh trong Ngư. Bắc Kinh hiện đại, ồn ào, sôi động nhưng vẫn man mác một chút gì đó của thềm hoang chốn cũ. Ít phút nữa, gặp nhau ở sân ga, Ngư sẽ nói điều này với Hạo trước tiên. Sau đó, Hạo phải kể cho cô nghe, anh đã qua đêm đầu tiên ở Bắc Kinh như thế nào. Có trằn trọc khó ngủ, để rồi phải thiếp đi trong cơn mộng mị về cuộc sống hiện đại xô bồ xô bộn như cô không. Vâng, cô và Hạo sẽ có bao nhiêu điều để nói sau bốn mươi tiếng dài lạc nhau trên xứ người. Ngư cúi xuống nhìn lại mình từ đầu đến chân, còn nguyên vẹn cả, không có Hạo, cô vẫn giữ được mình suốt hành trình hàng ngàn cây số, Hạo ơi, chờ đấy!
Tàu giảm tốc độ chuẩn bị vào sân ga. Mọi người đã nai nịt hành lý đâu đó gọn gàng. Bà lão lúi húi nhét những vật dụng nhỏ xíu vào túi áo. Thánh nhân xếp những quyển sách vào chiếc túi to đùng. Cặp tình nhân hạnh phúc đã dắt nhau xuống ngồi ké ở giường thánh nhân tự bao giờ. Cô gái mặc chiếc áo hoa xanh sặc sỡ, chàng trai không xấu trai đi vì vết sẹo trên má trái. Họ ngồi sát vào nhau, tay vẫn trong tay, mắt sáng ngời mãn nguyện. Ngư chưa kịp đảo mắt lên để tìm đôi vợ chồng một già - một trẻ có hạnh phúc là nỗi oan cừu của bà lão tội nghiệp dưới đây thì từ phía cuối tàu, ông chồng già đang xuân chuồi đến như một cơn gió lốc, rồi ngã người sóng soài trên chiếc giường bé xíu của bà lão và gào lên:
- Tôi không thấy nó trong tất cả các nhà vệ sinh, nó đi đâu mất rồi, nó đã cuỗm hết gia tài của tôi!
Mặt mày bà lão xanh như tàu lá, môi bà run lập cập:
- Thế... thế sao bảo ông và cô ấy đi... đi vệ sinh?
Ông chủ trang trại ôm đầu, nói gằn từng tiếng một, có lẽ nhờ vậy mà Ngư hiểu được không khó khăn lắm:
- Ai mà ngờ, nó bắt tôi đợi nó bên ngoài nhà vệ sinh. Hút đến ba điếu thuốc mà chẳng thấy nó đâu, tôi mới xô cửa xông vào, chẳng thấy gì cả, chỉ có một mụ xẩm ngồi đái tồ tồ...
Rồi ông hung hăng ngồi dậy, thộp lấy cổ áo mỏng mảnh của người vợ- đầy tớ già nua:
- Mày phải đi tìm cái con hầu rượu đó ngay cho tao, tất cả bọn bay là một lũ dê cái chết tiệt! Xéo ngay!
Ông xô bà lão té lăn ra sàn tàu. Thánh nhân lách người bước sang, hắn túm ngực áo, nhấc bổng lão già độc ác lên:
- Không được đối xử tàn tệ với phụ nữ như thế, ông mới là người cút đi đấy, hãy để cho bà ấy yên!
Hắn đẩy lão già ngã dúi dụi trên giường. Lão ngơ ngác một chút rồi chồm dậy, xòe hai bàn tay định thần, chợt hiểu không ai ủng hộ mình, lão vội vã quơ quào hành lý khoác lên vai rồi loạng choạng bước đi, miệng không thôi gào:
- Cái con hầu rượu kia, mày đừng hòng trốn ở đâu, tao thề sẽ xẻ thịt mày ra nếu tao tóm được mày!
Bà lão hộc tốc khoác túi chạy theo, Ngư kéo bà lại, nhét vội vào túi bà hai trăm tệ. Bà cúi đầu nói cảm ơn, rồi mặc cho nước mắt nước mũi kèm nhèm, bà chạy theo lão già độc ác như một con chó trung thành.
* *
*
Ngư đứng lớ ngớ trước rất nhiều cửa ra của nhà ga. Cô nghĩ Hạo phải mua vé, vào tận nơi tàu đỗ để đón cô. Nỗi nhớ thương của những người yêu nhau mà lại để lạc mất nhau ở xứ người thật là dữ dội. Cô tưởng tượng Hạo sẽ dang rộng vòng tay vạm vỡ đón cô vào lòng, cô sẽ vùi mặt vào ngực Hạo để nghe mùi đàn ông quen thuộc của anh. Ngư giành chỗ đứng cao nhất trong đám đông để có thể nhìn thấy Hạo, cổ cô ngóng dài ra như cổ cò. Cô thấy chiếc áo hoa xanh sặc sỡ lướt qua, đó là cô gái đã làm tình với chàng trai trên tầng hai của dãy giường B tối hôm qua. Một chàng trai khác - không phải chàng trai có vết sẹo trên má trái đã nằm trên giường với cô - đón cô ở cửa số năm. Chàng trai đi đón dang rộng tay ôm áo hoa xanh sặc sỡ vào lòng, họ hôn nhau say đắm như đã từng lạc nhau bốn nghìn tiếng chứ không phải chỉ có bốn mươi tiếng đồng hồ như Ngư và Hạo. Ngư ngại ngùng quay đi, chuyện gì đang xảy ra vậy, sao Hạo không đến ngay cho cô khỏi phải chết ngợp trước tình huống này. Nhưng cũng không cần phải chết ngợp, chỉ dăm phút sau, Ngư lại thấy chàng trai có vết sẹo trên má trái được đón ở cửa ra số sáu. Một phụ nữ bế con đang chờ anh ta. Anh ta chuyển ba lô sang tay trái, rồi bế thốc thằng bé hoảng hai tuổi lên, hôn đánh chụt vào má nó, xong, khoác vai người phụ nữ hân hoan sánh bước. Họ đã làm thành một đôi hạnh phúc như bao đôi uyên ương khác, cứ thế, dòng người cuốn họ đi... Ngư bị đám đông đẩy về phía cửa ra số hai, cô sốt ruột đưa tay xem đồng hồ. Điện thoại di động đã được sạc pin của cô kêu píp píp. Hạo nhắn: ''Em ra cửa số ba, tắc-xi số... chờ đưa em về tận khách sạn, chỉ cần giới thiệu tên của em và nói đúng tên anh là được. Anh đã trả tiền trước rồi, em không phải lo gì cả. Anh bận đi công chuyện gấp với mấy người bạn, chịu khó chờ anh về nhé!''. Ngư ra cửa số ba, tìm đúng xe tắc-xi mang số..., nhưng chẳng muốn bước lên. Cô tắt điện thoại và ngồi trên ghế đá đặt dưới một bóng cây to đùng giữa sân ga. Ngắm dòng người qua lại, bỗng dưng Ngư thấy đầu óc mình kỳ lạ quá, sao mà trống rỗng. Người tài xế đội mũ cát-két, mang kính râm sốt ruột đưa tay xem đồng hồ mấy lượt, sau đó lấy điện thoại ra bấm, đưa lên tai nghe, rồi lại thất vọng bỏ xuống. Điện thoại di động của Ngư tắt nguồn, gọi chi mà gọi, chẳng có ma nào chờ ông ta đón đâu. Nửa tiếng, một tiếng đồng hồ trôi qua. Phát ngôn viên của nhà ga mời hành khách xuôi tàu Bắc Kinh - Nam Ninh đến quầy làm thủ tục. Người tài xế tắc-xi nhún vai bất cần, ông mở cửa xe bước lên và rú ga lao đi. Sao thế, ừ, cảm ơn, Ngư nghĩ cũng không cần thiết phải thấy anh ta sốt ruột vì chờ đón một điều gì đó, kể cả chuyện chờ đón cô theo hợp đồng với Hạo. Nhưng cô cũng nghe lòng mình dịu đi một chút vì sự đúng giờ và kiên nhẫn của anh ta. Ngư bần thần đứng dậy, cô quay vào quầy với chiếc vé khứ hồi Nam Ninh - Bắc Kinh - Nam Ninh trong tay. Đang không biết là nên buồn hay không nên buồn trước quyết định quay về của mình thì thánh nhân bất ngờ xuất hiện. Hắn ta nói bằng tiếng Việt:
- May quá, tôi tìm mãi mới gặp được cô.
Ngư cau có không lý do:
- Để làm gì?
- Tôi nghĩ, bây giờ chỉ có cô mới đủ tư cách giữ kỷ vật này. Nó sẽ giúp cô tránh được rắn cắn hoặc cô sẽ được một con dê cái nào đó cứu thoát khỏi móng vuốt của một con dê già...
Đồ tỉnh táo đáng ghét, đồ lừa phỉnh thiên hạ bằng hàng vạn lý do. Ngư lướt mắt nhìn hắn từ đầu đến chân. Không hề gì, hắn đưa tay móc túi, chìa ra chiếc trâm ngà lòng thòng sợi chỉ đỏ đứt ngang rồi giải thích:
- Của bà lão đánh rơi lúc vội vã chạy theo lão già độc ác kia đấy!
Ngư im lặng. Dường như mọi cảm xúc trong cô bây giờ đều không đáng kể. Tất cả đều bềnh bồng, bềnh bồng như mây. Cô hất nhẹ cằm:
- Tư cách gì mà anh trao tôi giữ kỷ vật này...
Ngư điên tiết, định hét vào tai hắn: “Hay ho gì cái đồ nghe lén trên tàu''. Nhưng cái bản mặt hắn vẫn cơng cơng lên cực kỳ đáng ghét:
- Tư cách phiên dịch, được không?
Nói rồi hắn cho chiếc trâm ngà vào lại túi áo và bỏ đi một nước như sợ Ngư chạy theo năn nỉ. Đúng rồi, đang buồn đến độ nghe lùng bùng cả hai lỗ tai nên Ngư quên, hắn đã làm phiên dịch không lấy tiền tối hôm qua. Hơn thế nữa, cô còn phải cảm ơn hắn. Chính những câu dịch qua lại của hắn đã giúp Ngư nhớ lại rất nhiều từ, nhiều mẫu câu mà cô đã quên từ lâu. Bằng chứng là sau đó, Ngư đã nghe khá dễ dàng những lời nói của lão già độc ác. Cô dợm chân, định chạy theo hắn để nói một điều gì đó. Nhưng chợt nghĩ, có cần thiết phải như vậy không. Không cần. Với bộ mặt thuần châu Á mà nói tiếng Việt, tiếng Trung Quốc đều dễ nghe như nhau của hắn thì Ngư cũng đâu cần biết hắn là người Việt Nam hay người Trung Quốc, miễn sao bước một bước qua dãy giường bên kia trong toa tàu được thấy người tốt như hắn cũng là hảo hảo rồi. Ý nghĩ này đã làm Ngư cảm thấy tự tin và bớt buồn khi chìa cái vé khứ hồi cho cô nhân viên đóng dấu lượt về...
Theo Kiến thức Ngày nay Xuân 2006
Sanya
19-01-2006, 01:01 AM
Không ai ra biển mùa này
Người đàn ông chậm rãi cởi chiếc áo mưa đã rách toạc cả hai bên cánh tay máng lên cái chạc phơi lưới rồi cúi xuống cầm cây cào ruốc vác lên vai, bước về phía biển. Mặt trời vẫn còn khuất lấp đâu đó sau màn sương mù dày đặc, mọi thứ xung quanh hiện ra trong ánh sáng nhờ nhờ của buổi ban mai muộn.
Biển - trời hòa làm một trong cái màu xám đục không thấy cả đường chân trời, chỉ có những dải bọt trắng xóa mải miết ùa ra liên tiếp làm nên những giai điệu rì rào bất tận của sóng. Vài chiếc thuyền thúng nằm rải rác trên cát ướt đang nở hoa bởi triệu triệu con dã tràng đang làm tổ. Những viên cát tròn đủ cỡ từ dưới những cái lỗ bé tí lặng lẽ đùn lên, đẩy ra xung quanh thành những đường cong uốn lượn ngẫu nhiên rất giống nhau theo một thứ tự xoay vòng. Nhìn từ xa bãi cát ướt như một bức tranh khổng lồ được làm nên bởi vạn vạn đóa hoa nhiều kích cỡ. Mưa bụi li ti trải đều khắp không gian rộng lớn như một tấn màn hoa lấm chấm, độ ẩm của không khí được tăng thêm và nhiệt độ hình như giảm xuống hơn so với bản tin dự báo thời tiết tối hôm qua!
Cả bãi biển mênh mông chỉ mình cô ngồi bó gối nhìn mông lung. Vẻ hoang vắng của bờ biển được tô dậm thêm bởi vô số vỏ sò bị sóng đánh dạt vào bờ đêm qua tạo thành một dải màu trắng chạy ngoằn ngoèo trên cát ướt, đây đó rải rác những cành cây khô, những tán lá dừa và vài ba cái chạc phơi lưới đang im ìm nhỏ bé như khẳng định sự tồn tại của một làng nghề ven biển chưa nuốt chửng bởi ngành công nghiệp không khói. Đã qua mùa du lịch nên hàng loạt khách sạn dọc theo bờ biển vắng tanh vắng ngắt. Cả dãy quán bán hàng ăn uống, hàng đặc sản, quà lưu niệm... cũng cửa đóng then cài. Cái hồ bơi thật lớn trong công viên khi nãy cô đi vòng qua cũng đổi màu bởi rêu xanh bên dưới, còn bên trên đầy những chiếc bịch ny lông vương vãi.
Xuống đến mép nước, người đàn ông khựng lại một chút như để đo lường sự chênh lệch nhiệt độ rồi cứ thế để nguyên quần áo bước tiếp đi vào những con sóng. Đến một độ sâu nhất định, người đàn ông chuyển hướng để đi dọc theo bờ biển, đi mãi. Bóng dáng người đàn ông càng lúc càng nhỏ đi, xa dần tầm nhìn của cô rồi chìm hút sau những dải bọt trắng. Ánh mắt cô lúc này thôi không dõi theo bóng người đàn ông nữa mà chuyển hướng về phía trước mặt. Sương mù vẫn còn đậm đặc chẳng thể thấy được gì ngoài một chấm nhỏ di động ở phía xa tít tắp ngoài kia. Thế nhưng, trời cũng bắt đầu quang dần, lộ ra đường chân trời thẳng tắp chạy dài trước mặt. Cái chấm hiện ra lờ mờ thành một vòng tròn di động càng lúc càng nét. Cuối cùng cô nhận ra đó là một chiếc thúng đang lắc lư trở vào. Tuy nhiên, nó vẫn còn ở xa lắm. Đồng thời cô cũng nhận ra được lờ mờ trong cái màn trắng đục trước mặt có hình dáng một hòn đảo như một đường cong parabol vẽ xiên xẹo trên nền giấy nhạt. Hôm qua có người nói với cô rằng từ đất liền muốn đến đó chỉ mất khoảng mười phút đi ghe máy. Bầu trời cao lên từ từ, cái màn trắng đục dần biến đổi màu sắc bởi những quầng sáng màu đỏ cam mờ nhạt lẫn trong mây. Sóng vẫn rì rào không có khoảng lặng. Chiếc thuyền thúng lắc lư càng lúc càng gần bờ hơn đủ để cô thấy rõ có một người đàn ông đang cố quạt cây chèo xoay trở nó về đúng hướng.
Trong dải sóng chạy dài trắng xóa phía kia, người đàn ông cào ruốc đang quay trở lại. Bỏ quần áo ka ki màu xanh đen dính chặt vào người làm cho dáng đi của ông ta như bị xiên xẹo. Khi ông ta lội vào đến bờ, cô thấy vẻ thất vọng hiện rõ trên gương mặt già nua, gầy xương, khắc khổ. Thầy cô chăm chú nhìn mình, người đàn ông nóái bâng quơ một lời giải thích với một âm điệu khàn đục và hơi nhanh:
- Đi mãi mà chẳng thấy ruốc, biển hôm ni lạnh quá!
Cô hỏi lại ông ta như một lời chia sẻ:
- Mọi hôm có cào được không?
- Hôm qua còn cào cả rổ đem về cho mụ ấy đi chợ kiếm được mấy chục.
Cô chẳng biết nói gì hơn nữa với người đàn ông bởi ở đây, cào ruốc là nghề chính làm kế sinh nhai của những người không có vốn liếng. Thêm nữa, đặc sản của vùng biển này là món mắm ruốc chua. Hôm qua đi xuống làng chài cô đã thấy người ta làm mắm ruốc. Những rổ tép biển còn rươi xanh cho vào vại sành trộn với muối ép chặt và được làm chua bởi thính hay bột bắp, riềng, ớt và một số gia vị khác, rồi đem phơi nắng. “Khoảng hai tuần mắm sẽ chín”, bà bán mắm nói với cô như vậy. Cô cũng đã được ăn món thịt luộc chấm với mắm ruốc chua và bún lọn cùng rau sống, thêm món cá trích nướng ở khách sạn. Nghĩ đến đây vị giác cô vẫn như đang bị kích thích. Nghề cào ruốc còn giải quyết được thời gian rỗi việc đồng áng của nhiều hộ nông dân nghèo. Tuy nhiên, vẫn có những ngày như hôm nay, cả một dọc biển dài chẳng thấy đàn ruốc nào kéo qua!
Người đàn ông đứng lại một chút nhì chiếc thúng lắc lư sắp về đến đích rồi bước đến cây chạc phơi lưới lấy chiếc áo mới khoác lên vai lầm lũi đi về hướng công viên. Một người đàn ông và một người đàn bà xuất hiện đột ngột bên cạnh cô cứ như thế họ vừa từ dưới cát chui lên. Cô nhìn thấy trên tay người đàn bà vẫn còn đốm lửa ở một điếu thuốc đang cháy dở, tay bên kia cầm một cái đai có gắn miếng gỗ. Người đàn bà có đôi mắt to và trũng sâu trên gương mặt gầy, sạm lại bởi nắng, gió; và người như nhỏ hơn gói trong chiếc áo kaki rộng thùng thình. Chiếc quần đen xắn cao đến đầu gối lộ rõ đôi bắp chân gầy và hai bàn chân to bè bám chặt trên cát. Người đàn ông cũng có trên tay một cái đai như vậy. Trung tâm chú ý của họ bây giờ là chiếc thuyền thúng lắc lư. Khi chiếc thúng tiến vào dải sóng tung bọt trắng xóa, người đàn ông bên trong leo ra khỏi thúng hai tay đẩy đưa nương chiếc thúng theo chiều sóng. Người đàn ông và người đàn bà nhanh chóng lội ra cùng phụ đẩy chiếc thúng vào bờ cát, sau đó họ gắn cái đai vào sợi thúng đang được kéo lùi bởi người đàn ông vừa bủa lưới trở về. Chẳng có tín hiệu nhưng bước đi của ba người rất nhịp nhàng và đều đặn với một bước đi, một nhịp nghỉ... lùi dần. Kéo đến một độ dài nào đó người sau lại tháo đai ra, tiến về phía trước gắn đai vào sợi dây thừng. Chỉ cần một người bước chệch là không thể kéo được, nghĩ như vậy khi nhìn họ đang chơi trò kéo co với sóng.
Sanya
19-01-2006, 01:02 AM
Thời gian trôi thật chậm trên từng bước chân đang từ từ giẫm nát bức tranh hoa dã tràng. Nhìn họ tự dưng cô chợt nhớ đến những mùa tuyết rơi dày kín đường đi làm từ bang nọ sang bang kia mỗi ngày, những chiếc xe chạy dài nối đuôi nhau nhích từng chút; cô đã có đúng 10 mùa tuyết rơi đi và về như thế khi đứa con còn nhỏ và chưa chuyển được nhà về gần chỗ làm hơn! Hơn hai mươi năm lưu lạc xứ người cô đã phải làm lại từ đầu ở tuổi hai mươi tại một trường trung học. Cuộc sống là một chuỗi cố gắng không ngừng, không được phép thối lui; cô quyết định có những bước nhảy để rút ngắn thời gian học tập. Sau đó một người đàn ông và một đứa con đã lấy mất đi của cô mười năm sau khi cô tốt nghiệp trường đại học. Trong mười năm đó, cô như vắt kiệt cả sức lực mình để làm thủ tục bảo lãnh cho mười lăm người trong gia đình chồng. Tất cả như bức tranh dã tràng xe cát mà cô đang nhìn ngắm - nó sẽ bị tan biến khi mặt trời hiện ra. Trong mười lăm người của gia đình chồng ấy, có một người không phải là họ hàng đã lấy đi người đàn ông của cô. Mọi việc sau đó diễn ra như trong một giấc mơ mà cô chẳng thể nào tưởng tượng được. Cô bị mất việc làm ở thời điểm nền kinh tế bị đe dọa vì bởi ảnh hưởng từ những biến cố chính trị và tiếp theo đó là lá đơn ly dị. Trong thời gian chờ hòa giải, ở tuổi 35 cô quyết tâm trở lại trường học với một chương trình hoàn toàn mới mẻ. Con gà mẹ cần phải xù lông để bảo vệ gà con - muốn giành quyền nuôi con, cô không còn cách chọn lựa nào khác là phải có việc làm ổn định với đầy đủ chế độ một khi cô đến tuổi nghỉ hưu. Cô đã giải một bài toán quá khó bằng một nỗ lực không biết mệt mỏi. Hai mươi bốn giờ trong một ngày đối với cô đêm cũng như ngày, gần như không hề có giấc ngủ. Cuối cùng mọi việc được đền bù xứng đáng khi cô được tuyển vào làm việc trong một cơ quan chính phủ, đồng thời phán quyết của tòa án dành cho cô quyền nuôi con và quyền sở hữu ngôi nhà vẫn còn đang trả nợ hằng tháng; đổi lại, tất cả các tài khoản trong ngân hàng thuộc về người chồng. Trước mắt cô, tương lai nằm trọn vẹn trong đôi bàn tay với một công việc mà cô gần như phải bắt đầu lại từ đầu. Tâm trạng con chim bị ná ám ảnh cô một thời gian khá dài khi cô đối diện với những lời tỏ tình. Gần đây cô gặp được một người có đầy đủ điều kiện cho cô nương tựa. Để có thời gian suy nghĩ về một lời cầu hôn, cô đã làm một chuyến du lịch trở về; cô đã đi qua nhiều tỉnh thành và trên con đường lang thang đó, cô đã ghé đến thị xã này vào thời điểm chẳng ai tìm ra biển; cô muốn tận hưởng cảm giác một mình trên bãi cát nguyên sơ và hoang vắng, không gặp phiền toái bởi những lời chào mời quấy nhiễu khách du lịch.
Người đàn bà đang kéo lưới đáp trả lại cái nhìn của cô bằng một nụ cười. Cô đứng lên và đi gần đến họ. Thời gian vấn nhích từng bước, biển mênh mông chẳng có tín hiệu nào cho biết là sẽ trồi lên một mẻ lưới ngoài sợi dây thừng dài khẳng định mục đích của nhịp điệu trên cát. Trông họ rất bình thản và tự tin với những bước đi lùi. Tuổi 40 là đỉnh cao của con dốc đời người, đứng ở đây chỉ có con đường đi xuống, một ý nghĩ bi quan bỗng ập đến trong đầu cô, nhưng ngay sau đó liền bị xóa sạch khi cô nghĩ đến đứa con trai giờ có lẽ đang trở về từ trường đại học và tự chuẩn bị bữa tối. Hạnh phúc của ba người chài lưới vẫn còn chìm khuất dưới làn nước mênh mông kia, muốn bắt được phải níu dây kéo vào. Đã lâu rồi tình yêu đối với cô là một sự xa xỉ mà cô chẳng dám hào phóng vung tay. Tất cả mọi thứ đều phải tự một mình giải quyết lấy và cô đang e ngại khi phải chia sẻ với ai đó - nếu bước đi lỡ nhịp nữa thì sao? Bỗng dưng cô thèm muốn sự giản dị dưới mức bình thường của ba người đang kéo lưới. Tất cả đều diễn ra trong một sự im lặng nhưng có định hướng rõ ràng. Người ta hiểu nhau đâu cần nhiều lời nói? Biển mênh mông là thế nhưng sao con người có thể an tâm gửi gắm vào đấy những nỗi niềm. Và còn cả sự cô đơn nữa, nó luôn như một cái vung khổng lồ chỉ chực cô lập con người vào đó. Đường đi xuống con dốc luôn thuận lợi và sẽ mau hơn đường đi lên đồng thời sẽ được an ủi rất nhiều nếu có một người bạn cùng đi. Cuối con dốc sẽ là gì nhỉ? Tự dưng cô muốn bật cười khi nhìn thấy có một cánh đồng vàng óng đang vào mùa bội thu. Thế nhưng, ý nghĩ của cô bị khựng lại một chút khi cô nhớ đến những ngày tháng vô tư lầm lũi đi bên cạnh một người đồng hành có nhiều mưu mô gây ra những xáo trộn. Con chim nào đã một lần bị ná lại không sợ cành cong? Sự tỉnh toán, đắn đo của cô cũng là điều hợp lẽ thường tình. Nếu biết trước được kết cục thì cuộc sống có ý nghĩa gì đâu?
Thời gian vẫn nhích lùi từng bước. Trong cái màn xám đục mênh mông kia bỗng hiện ra lờ mờ một vật thế nhấp nhô ẩn hiện. Chẳng có sự thay đổi nào trên gương mặt của cả ba người đang kéo lưới. Kinh nghiệm dạy cho họ biết còn phải kéo bao lâu nữa và điều quan trọng là việc kéo lưới hôm nay của họ liệu có biến thành công dã tràng? Chỉ có cô là hồi hộp theo dõi. Được mất trong cuộc đời có ý nghĩa gì với những người luôn hằng ngày đối diện với thiếu thốn? Họ đã quen với cảnh đi không về không như người đàn ông cào ruốc sáng nay. Nhưng, chỉ có giấc mơ mới làm nên con người và cũng chỉ có con người mới làm nên giấc mơ - dù biết có thể là sẽ về không, nhưng họ vẫn cứ đi và hy vọng. Đột nhiên cảm giác mỏi mệt chợt ùa đến làm cô muốn quay trở về khách sạn mà không cần phải chờ xem mẻ lưới kéo về có đầy những con cá lúng túng tươi xanh hay không. Biển khai thác nhiều cũng cạn kiệt huống chi con người chỉ là một sinh linh nhỏ bé. Có ích gì đâu nếu một lần nữa cô lại chứng kiến sự thất vọng.
Trong cái màn xám đục trên cao bỗng hiện ra một vòng tròn màu đỏ cam. Thế nhưng nó cũng chỉ thoáng hiện trong chốc lát rồi chìm mất trả lại một màu xám bạc mênh mông trời nước. ''Mùa này trời chỉ như thế, phải mùa kia cô sẽ nhìn thấy biển xanh và đẹp lắm''. Có ai đó đã nói với cô như vậy! Biển xanh sẽ hẹn mùa sau, cô nghĩ thầm trong đầu rồi bước đi lên về hướng đường cái, bỏ lại sau lưng trò chơi kéo co với sóng đang hồi kết thúc. Những bông hoa trên cát rộp nát dưới chân cô. Thế là quá đủ, cô không muốn chứng kiến cảnh những bông hoa rã dần cũng như cô e sợ nhìn những gương mặt thất vọng khi kéo về một mẻ lưới trống không. Mặt trời khó mà chui ra khỏi lớp mây dày đặc kia để làm xanh màu nước biển. Không ai ra biển mùa này. Bài toán mà cô đang giải vẫn còn mông lung lắm, rất khó để tìm ra đáp số...
Doanh nhân SGCT
tranminh
20-01-2006, 06:32 AM
truyện lạ mà hay ghê :-)
Sanya
22-01-2006, 10:21 AM
Về đi, cún con ơi!
Bác Lê ơi! Con Cún nhà cháu có đến đây không? Nhìn đôi mắt to ngấn nước mắt và khuôn mặt gầy gò, hốc hác của đứa cháu gái mới hơn mười tuổi, người đàn ông thảng thốt đáp lại:
- Không, mà sao nó đến đây được?
Chưa nghe hết câu trả lời của người bác ruột, đứa bé đã khóc òa lên, thảm thiết. Người đàn ông trạc độ ngũ tuần vòng một tay ôm lấy đứa cháu gái và kéo nó vào nhà, đặt nó ngồi lọt thỏm vào chiếc sa lông mây, rồi vội vã đi lấy cho nó một cốc nước trắng. Đứa bé gái vẫn khóc thảm thiết khiến người đàn ông rất đau lòng mà chưa biết giải quyết thế nào? Mẹ nó là em gái ông, chết vì một cơn đau tim đột ngột cách đây hơn ba năm. Từ ngày mẹ nó qua đời, nó thường xuyên lui tới nhà ông và ông cũng thường xuyên tới chăm sóc đứa cháu gái tội nghiệp. Hôm đó, cách đây chừng hai năm, ông cũng ở đó - nhà cháu gái - một căn hộ ba phòng rưỡi khá rộng rãi và thoáng đãng trên tầng hai, một khu tập thể nội đô. Ông đang chuẩn bị ra về thì chợt thấy một con chó con lông trắng, có đốm vàng rất to ở lưng như một chú bò khoang chạy tọt vào nhà. Người cha thấy vậy vội vàng đi tìm gậy để xua con chó ra khỏi nhà. Nó quấn lấy chân đứa bé và ngước đôi mắt rất to tròn và gần như là toàn lòng đen màu nâu nhạt lên cầu cứu. Toàn thân run rẩy, nó có vẻ rất mệt nhọc và hoảng sợ vì bị truy đuổi. Người cha đã vớ được một chiếc gậy gỗ tròn và vùng lên, đứa bé vội ôm lấy đùi ông ta và hốt hoảng thốt lên: “Đừng! Bố!...”. Người bác thấy vậy vội can: “Ồ, mèo đến nhà thì khó. Chó đến nhà thì giàu. Đừng đuổi nó đi!”. Người cha lưỡng lự một phút rồi quẳng chiếc gậy vào phòng trong.
Đứa bé khom lưng cúi mặt làm quen với chú chó. Đôi mắt to màu nâu nhạt ươn ướt ngước mắt nhìn lên như vẻ cầu cứu và chiếc đuôi bông nhỏ vẫy nhè nhẹ. “Ồ, mày tên là gì hả? Tao gọi mày là cún con nhé! Cún cun cun...”. Đứa bé gái nựng con chó nhỏ. Đuôi nó ve vẩy nhanh hơn. Người bác bảo đứa cháu gái lấy cho nó một bát nước. Nó chạy vào phòng trong. Và thay vì một bát nước, nó bưng ra một bát sữa trắng. Con bé đặt trước mõm chú chó nhỏ. Nó đánh hơi và liếm mép, nhưng mắt vẫn nhìn lên và đuôi không ngừng phe phẩy, chưa dám ăn. Đứa bé gái phải nựng: “Nào cún con! Uống đi. Sữa Vinamilk đấy! Đừng sợ!...”. Đầu tiên chú chó thè lưỡi ra liếm vòng quanh chiếc bát. Không thấy ai có phản ứng gì, nó bắt đầu tăng tốc và loáng một cái bát sữa đã sạch trơn. Nó vẫn ra sức liếm khiến cái bát lăn tròn kêu lốc cốc trên sàn đá hoa. Người bác bảo: “Cứ để nó ở đây vài hôm. Nếu có ai đến nhận thì trả cho người ta”. Đứa cháu gái đáp vâng một tiếng rất khẽ.
http://i8.photobucket.com/albums/a35/thuongmai27a/cuncon1.jpg
Sanya
22-01-2006, 10:22 AM
Từ khi có cún con lạc vào nhà, đời sống tinh thần của đứa bé gái như được bù đắp một phần bởi nỗi trống trải mênh mông mà mẹ cô bé ra đi đã để lại. Ba căn phòng rưỡi trống trải đơn côi giờ nhiều lúc đã có tiếng cười đùa. Sau màn khởi đầu làm quen chỉ mất vài ngày, chú chó đã bện hơi cô chủ mới. Những lúc cô bé đi học, nó nằm thu lu ở một góc phòng, thở dài não nề. Nhưng đánh hơi được cô bé xuất hiện từ đầu cầu thang, nó đã vùng ngay dậy, đuôi ngoáy tít thò lò từ lúc cô bé còn chưa kịp mở cửa. Đầu tiên, cô bé cùng cún con chơi trò trốn tìm. Ba căn phòng rưỡi dù ngoắt ngoéo đến đâu chỉ chưa đầy nửa phút nó đã mò ra chỗ cô chủ trốn. Cô bé chui vào khoang tủ treo quần áo, nó đứng ngoài cào cào vào cánh cửa và sủa nhặng xì ngậu. “À, tao biết rồi! Mày có cái mũi, cái mũi thính như... chó ấy mà!”. Cô bé vừa nựng nó vừa lấy chiếc khăn quàng đỏ buộc chặt mõm nó lại. Cuộc chơi lần này có vẻ công bằng hơn. Và có lúc để dành ưu thế cho mình, cô bé còn ranh mãnh xức một ít nước hoa vào chiếc khăn quàng đỏ. Những lúc như thế, cún con phải dựng đứng đôi tai làm rađa định hướng, đợi từng tiếng động nhỏ phát ra từ chỗ cô chủ nấp để tìm đến. Rất nhiều trò huấn luyện chó trong phim ảnh và trong sách dần dà cô gái đã đem ra áp dụng. Nó đã biết tha dép ra khi ông chủ về. Và biết khẽ khàng dùng mõm nhấc từng chiếc giày hoặc dép da của ông chủ đặt lên giá. Duy chỉ có trò dạy nó làm toán cộng trừ đơn giản là nó bập bõm khi nhớ, khi quên. Những lần bạn bè của cô bé đến chơi, cô bé đều không quên giới thiệu về các trò “làm xiếc” của cún con. Tuy nhiên cứ đến giờ làm toán là thất bại. “Mẹ mày! Đúng là ngu như... chó”. Cô bé lấy tay đánh yêu vào đầu nó để chống chế với bạn bè. Lũ bạn thích chí cười ngặt nghẽo. Còn cún con chạy thẳng vào toalét, giơ một chân sau lên “tè” một bãi. Lũ trẻ lại một phen cười thích thú.
Mới hơn một tháng mà cún con lớn lên trông thấy. Nó “trổ mã” rất đẹp. Ngực nở, bụng thon. Đám lông trắng thì trắng tinh ra, các mảng lông vàng ở lưng, ở mông thì vàng rộm lên như một chú bê khoang. Và cùng với cái mõm dài ra với hàm răng trắng ởn có bốn cái nanh nhọn hoắt, nó bắt đầu tham ăn cực kỳ. Các loại xương to nhỏ, cứng hay mềm, nó đều nhai rau ráu. Song, nó lại tỏ ra rất “lịch sự”, luôn luôn khẽ khàng đón nhận các loại thức ăn mà cô chủ tận tay ban phát cho nó, từ cái kẹo bi tròn xoe, nhỏ xíu đến cái bánh quy vuông hay chiếc xương lợn to tướng. Dường như nó sợ bốn chiếc răng nanh nhọn hoắt có thể làm “tổn thương” đến bàn tay “thân thương” của cô chủ.
Mặc dù vậy, nó vẫn tự xác định nghĩa vụ của mình. Nghĩa vụ của loài chó. Đang vục cái mõm dài và to vào đĩa thức ăn, nhưng đôi tai lúc nào cũng dựng đứng, cảnh giác, không bỏ qua một tiếng động lạ, dù là rất nhỏ. Và khi đã xác định được “mục tiêu” thì dù trong đĩa là thức ăn gì, nó cũng bỏ mặc đấy, lao thẳng ra cửa. Nó còn có tài bắt chuột chẳng kém gì mèo. Hễ trong nhà có chuột lọt vào, đầu tiên, nó dùng mũi đánh hơi, bước tiếp theo là phục kích. Rồi nhanh như chớp, khi chuột di chuyển, có được khoảng trống tối thiểu là đã thấy “chóe” lên một tiếng. Con chuột đã bị tiêu diệt bởi hàm răng nhọn hoắt cắn vào giữa cơ thể. Nhưng không bao giờ nó ăn thịt con mồi đã săn được. Cô chủ đôi khi cũng tự hào khoe với các bạn: “Cún con cũng là dũng sĩ diệt chuột đấy”.
Mặc dù luôn xuất sắc “hoàn thành nghĩa vụ của loài chó”, nhưng đôi lúc nó vẫn bị ông chủ lớn - cha của cô bé – cho những trận đòn nhừ tử một cách vô cớ. Chẳng rõ ông ta bực bõ chuyện gì ở cơ quan, mà khi về nhà, thấy cún con ra mừng, vẫn đi cả giày, ông thẳng chân cho nó một cú đá vào giữa ức. Nó quay lộn mấy vòng, rên ư ử rồi cúp đuôi chui vào gầm giường. Sợ oai của ông chủ lớn, nên dù bị đánh rất đau, nó cũng không dám kêu to mà chỉ rên trong cuống họng. Nhưng sau những trận đòn thừa sống - thiếu chết, nó lại cảm thấy rất sung sướng được nằm trong vòng tay khẳng khiu của cô chủ nhỏ với những cái vuốt ve và những lời nựng ngọt ngào.
Cứ khoảng dăm bữa nửa tháng tại căn hộ có ba phòng rưỡi, ông chủ lớn lại rủ rê bạn bè đến uống rượu - bia và bàn mưu tính kế để “chơi” một ai đó. Việc này như đã thành thông lệ, cô bé chúi vào phòng học của mình. Còn cún con ngồi chầu hẫu quanh chiếu rượu với chiếc bát nhựa màu vàng cắn trong mõm chờ được ném cho những khúc xương thừa. Đôi lúc thấy đôi mắt thèm khát của nó, có người bạn của ông chủ lớn đã “thương hại” vứt vào bát cho nó mấy cục đá lạnh. Song, nó vẫn vọc mõm vào nhấc cục đá lên và ngửa cổ lên trần nhà, trợn mắt nhai cục đá rau ráu giữa tiếng cười khoái chí của các vị khách quý. Nhưng vốn là một chú chó tinh ranh, nó cũng biết cách “chơi” lại chính cái người đã “xỏ” nó. Nó lỉnh ra ngoài hành lang, đánh hơi đúng đôi giày của người “cao thượng”, giơ một chân sau và khẽ tia một vài giọt nước vào từng chiếc giày. Nó khôn ngoan tới mức, chỉ “tè” để chủ nhân cảm thấy ướt chân khi đã ra khỏi nhà...
Thời gian thấm thoát thoi đưa. Chả mấy chốc đã sang mùa xuân thứ hai của chú cún con (bây giờ đã là một con chó gộc nặng gần hai chục ký) đến làm “đệ tử” tại nhà cô bé. Năm nay là năm Bính Tuất 2006. Cuộc sống ở nhà cô bé vẫn chưa có gì thay đổi. Ông chủ lớn vẫn cùng đám tay chân bày ra các cuộc nhậu nhẹt để xọc gậy vào những bánh xe trong guồng máy của cơ quan.
Sắp tới đơn vị ông chuẩn bị đề bạt một phó tổng nữa. Tay sắp được lên chức vốn chẳng có thù oán, thậm chí là xích mích nhỏ với ông. Nhưng từ lúc nghe tin hắn sắp “bằng vai - phải lứa” với mình, bỗng dưng ông thấy ghét cay – ghét đắng cái thằng mà theo ông “miệng vẫn còn hơi sữa” ấy (mặc dù tuổi đã độ bốn mươi). Thế là ông bàn với lũ đàn em tổ chức một bữa nhậu có hát karaoke, mời tay “miệng còn hơi sữa ấy đi “rửa ghế”. Cũng đã cảm thấy chờn chợn, nhưng rượu vào, lời hát tuôn ra, tay “miệng còn hơi sữa” đã “sập bẫy” ông ta. Một pô ảnh được kín đáo chụp từ chiếc điện thoại di động Nokia đời mới nhất khi tay “miệng vẫn còn hơi sữa” đang được một nữ tiếp viên ăn mặc hớ hênh bá vai, bá cổ. Rồi pô ảnh đó được phát lên mạng của tổng công ty và tới cả màn hình di động của vợ hắn ta. Thế là chiếc ghế “phó tổng tương lai” được rút lại. Gã “miệng còn hơi sữa” đau điếng người, biết kẻ chủ mưu là ai, nhưng đành phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”.
Sau chiến tích đó, ông ta rủ đám đệ tử đi ăn mừng. Cuối năm đi nhậu thịt chó bảy món là hợp nhất. Sau khi đã đánh chén no say, hứng chí, ông ta mua nguyên một chiếc đùi sau mang về nhà. Khi đứa con gái vừa ra mở cửa, ông đã mở catáp lôi ra chiếc đùi chó thơm phức dứ dứ trước mõm cún con. Cún con nhăn mặt lùi dần rồi chui tọt vào gầm ghế sa lông. Giọng nửa say nửa tỉnh, ông ta quát: “Mày hỗn láo thật! Dám chê lộc của chủ hả?”. Đứa con gái vội đỡ lời: “Cún không biết ăn thịt chó bố ạ!”.
“À, không biết ăn phải không? Để đói rã họng ra là phải ăn tất!”. Vẫn giọng lè nhè, ông ta nói tiếp, rồi trở về phòng của mình thay quần áo ngủ. Dường như bây giờ có phần rảnh rang hơn, ông ta xắn tay áo, cầm chiếc đùi chó béo ngậy quay trở lại tìm cún con. Cún con vẫn rúc trong gầm ghế sa lông. Ông ta cười lớn một tiếng: “Mày dám thi gan với tao à?”. Rồi kéo tung bộ sa lông ra giữa nhà, ông ta dứ chiếc đùi chó vào mõm của cún con. Hai mắt xanh lè, toàn thân run cầm cập, cún nép sát vào góc tường. Đứa con gái khóc trong nước mắt xin bố đừng làm thế. Nhưng những lời năn nỉ của con gái càng kích thích tính hiếu thắng trong lòng ông ta: “Hừm! Mày là con chó tham ăn lắm cơ mà? Bây giờ lại lên mặt sĩ không ăn thịt chó hả?”. Ông ta vừa nói, vừa cười hả hê. “Thôi được rồi. Hôm nay mày không ăn thì mai mày phải ăn! Đời tao chưa chịu thua ai, chả lẽ lại chịu thua mày!”. Nói rồi, ông ta quăng chiếc đùi chó vào trong tủ lạnh khóa trái lại, bỏ chìa khóa vào catáp! Rồi ông gọi đứa con gái nhỏ lại đe dọa: “Từ giờ này, tao cấm mày cho con cún ăn thứ gì! Đến bữa, tao mua cơm hộp mang về cho mày; ăn không hết, tao tống vào toalét, giật nước là xong. Để cho đói xem nó có thi gan được với tao không?”. Và ông ta đã hành động đúng như thế. Đứa con gái mỗi bữa chỉ ăn mấy hạt cơm, khóc sưng mọng cả mắt, ông ta cũng không chạnh lòng.
Sanya
22-01-2006, 10:23 AM
Mặc dù bụng đói cồn cào, nhưng mỗi lần thấy chiếc đùi chó được dúi vào mõm, trong đầu cún con lại hiện về cái cảnh vô cùng hãi hùng cách đây hơn hai năm. Đó là một buổi sáng mùa hè. Cún đang chạy nhảy tung tăng chợt nghe thấy tiếng xe máy áp sát. Gã ngồi sau lăm lăm một chiếc cần câu có dây thòng lọng. Nó sợ quá chạy thục mạng. Tiếng xe máy vẫn rít bên tai và chiếc thòng lọng bằng loại dây thép nhỏ đã ba lần trượt qua cổ nó. Giữa lúc cuộc săn đuổi sắp đi vào hồi kết thì mẹ nó xuất hiện, chạy xen vào giữa xe máy và nó. Rồi chỉ nghe thấy “oẳng” một tiếng, quay lại thì đã thấy mẹ nó bị nhấc bổng lên không. Và hết sức lành nghề, gã ngồi sau đã ôm gọn mẹ nó trong lòng và chiếc xe máy vọt đi như biến. Nó thất thần không tìm được lối về nhà. Sau hơn một ngày lang thang chui lủi, nó lọt vào căn hộ có ba phòng rưỡi này.
Cuộc chiến giữa ông chủ và chú cún con sang ngày thứ ba thì trở nên hết sức quyết liệt. Lần này một tay cầm gậy gỗ tròn, tay kia lăm lăm chiếc đùi chó được ướp lạnh, ông ta ra khẩu lệnh cuối cùng: “Nào cún con, ăn đi thì tao tha!”. Phản ứng của cún con cũng đã đến hồi quyết liệt, hai mắt xanh lè, đám lông suốt từ gáy đến khấu đuôi dựng đứng và ghê sợ nhất là hai hàm răng trắng ởn, nhọn hoắt nhe ra. “À, mày dám cắn lại chủ hả? Hả? Hả?”. Mỗi một câu “hả”, ông ta lại thẳng tay vụt vào mình cún con một đòn trí mạng.
Không một tiếng kêu, cún con mở đường máu chồm lên ngực ông ta khiến ông phải lùi lại. Có được khoảng trống, cún lao ra cửa. May mà cánh cửa chỉ khép hờ, cún dùng một chân trước đẩy cánh cửa rộng ra và phóng ngay xuống cầu thang xuống chiếc sân rộng. Khi cô bé đi học về thì mọi việc đã kết thúc. Cô bé bỏ ăn, bỏ học đi tìm cún con. Rồi nó chợt nhớ đến nhà người bác của nó. Nhìn đứa cháu gái đã rạc đi, cổ khản đặc và mắt dường như hết nước mắt, lòng người bác ruột quặn đau. Sau khi bắt cháu uống một vài ngụm nước nhỏ, bác dỗ dành: “Rồi cún sẽ về thôi cháu ạ!”. “Không, nó sợ bố cháu lắm, nó không dám về đâu!” - đáứa cháu mếu máo.
- Nếu cún không về, bác sẽ mua cho cháu một con cún khác!... Người bác lựa lời khuyên giải.
- Nhưng, bố cháu lại mang thịt chó về thì làm thế nào?
Cô cháu vẫn mếu máo hỏi lại.
- Ờ, phải rồi, bác sẽ mua cho cháu một con cún... biết ăn thịt chó!
- Không! Cháu vẫn nghe người lớn bảo chó mà ăn thịt chó là con má! Cháu không nuôi con má đâu!...
Nói xong, cô bé gào lên thảm thiết, chạy ra khỏi nhà người bác ruột. Vừa khóc, vừa chạy, nó vừa gọi bằng giọng khản đặc: “Về đi, cún con ơi!...”.
Theo Lao Động Xuân 2006
tranminh
23-01-2006, 11:41 AM
tác giả là ai thế Sanya? :-)
Sanya
25-01-2006, 10:23 AM
anh ơi em up đánh máy từ Báo lao Động Xuân nên trong báo để sao em đnáh lên như thế đó anh ạ.
polopikipuku
25-01-2006, 10:27 AM
bài này của ai sáng tác vậy. Khá hay đấy chứ
Sanya
25-01-2006, 10:35 AM
Không biết, trong báo nó không có để ai sáng tác hết á huhuhuhuhhuhuhuu.
tranminh
25-01-2006, 11:13 AM
kỳ lạ nhỉ? viết kiện đi cơ :-)
Phieu
25-01-2006, 03:39 PM
Hoàn toàn có, anh để ý thấy các bài của San không có ghi tên tác giả. Em đã cố công post lên thì có tìm kĩ tên tác giả nghen em
Sanya
28-01-2006, 01:36 AM
á không có à nha, bài nào em sưu tầm trước năm 2004 thì không có tên tác giả, bài này tìm trong báo nó đăng trên nét mà có thấy nó đề tên tác giả đâu mà đưa, không có bắt em đề tên giả vào sao được, chắc bài này do tập thể của báo sáng tác quá.
Sanya
28-01-2006, 01:40 AM
Đàn chim bay qua
Một đêm trăng khi đàn chim bay qua và gọi nhau ríu rít trên không, thì ở bên kia tường, bỗng nổi tên tiếng nói ấm áp:
- Em ơi! Anh nhớ em quá!
Cố lấy hết hơi, cô gọi lớn:
- Anh ơi! Em nhớ anh quá.
Bản tình ca nồng nàn và bi ai ấy lại vang lên trong đêm tĩnh mịch quạnh hiu. Vầng trăng trên cao kia dường như cũng đang lắng nghe chăm chú. "Đúng tiếng anh ấy rồi" cô gái tự nhủ - tuy âm sắc có vẻ già hơn trước. Nhưng ở tù người ta mau già cũng là lẽ bình thường.
Rồi tự nhiên cô gái lành bệnh. Cô lại ăn được, ngủ được, lại đi làm việc, học hành, ca hát véo von. Hy vọng quả là liều thuốc thần, liều thuốc cải tử hoàn sinh.
Cách đây hơn 6 năm người ta đưa vào trại giam - nơi chị tôi làm giám thị - một cô gái trẻ xinh đẹp, tươi tắn. Cô họ Hà mới 21 tuổi. Ánh mắt cô lóe lên nỗi lo sợ, buồn rầu pha lẫn nét ngây thơ non dại của gái quê chân chất, thật thà. Có vẻ như cô đã đến lầm địa chỉ. Chỗ của cô lẽ ra phải ở giảng đường đại học, ở sân khấu của các người mẫu, hoặc ít nhất cũng ở quầy tiếp tân của một khách sạn sang trọng. Thế mà cô lại ở đây, cái chỗ chẳng ai mơ ước này với mức án rất nặng: tù chung thân!
Theo hồ sơ và lời kể của cô thì cô mồ côi cả cha lẫn mẹ và sống với bà ngoại đã ngoài 70 tuổi. Họ ở vùng sát biên giới, sinh nhai bằng nghề buôn bán lặt vặt ở chợ.
Cô yêu một chàng trai họ Đỗ lớn hơn cô 5 tuổi, cùng hoàn cảnh như cô: mồ côi cha mẹ, sống bằng nghề khuân vác mướn.
Hai bên đã tính chuyện hôn nhân. Nhưng một hôm, chàng họ Đỗ nói lên điều suy nghĩ sâu lắng của mình:
- Đôi ta cùng nghèo, quá nghèo. Kết hôn rồi tất dẫn đến việc có con cái. Làm sao mà nuôi chúng đây? Hay chúng ta hoãn đám cưới lại độ hai năm để cùng nhau đi kiếm tiền đã.
Chàng sôi nổi:
- Như bà Ba béo kia. Mấy năm trước còn ngồi bán thuốc lá lẻ ở chợ biên giới, mà nay đã làm chủ một tiệm vàng lớn trong thành phố, lại còn có tiền cho thương lái vay. Hay như gã Năm gù bạn anh mấy năm trước còn còng lưng đi thồ hàng, mà nay đã cất được nhà lầu, sắm được xe hơi đi đó đây vi vút. Chúng ta còn trẻ, khỏe hơn họ và cũng có thể khôn hơn họ nữa, sao cứ chịu nghèo mãi? Nghèo luôn đi đôi với hèn. Anh không thể để người ta khinh khi mãi.
Rồi anh đề xuất:
- Giờ đây, anh với em mỗi đứa đi một phương tìm cách kiếm tiền. Hai năm sau chúng ta gặp lại làm đám cưới.
Và anh ra đi.
Đối với bà Ba béo, cô có chút quan hệ ân nghĩa. Cách đây hơn một năm, một buổi chiều mưa lâm râm, bà cưỡi xe máy từ bên kia biên giới về theo đường mòn. Đến đèo Cổ Ngỗng dốc quanh đường trơn trợt, bà té một cú rất nặng. May lúc ấy cô tình cờ đi tới. Cô chở bà đi bệnh viện kịp thời, nhờ đó bà mới tai qua nạn khỏi.
Muốn mau giàu ư? Sao không nhờ người quen đã có kinh nghiệm dẫn lối đưa đường?
Bà Ba tiếp người ơn cũ rất niềm nở và chân tình. Nghe cô trình bày ý muốn, bà chủ tiệm vàng kéo cô tên phòng riêng ở trên lầu đóng cửa lại rồi tâm tình:
- Có phúc làm quan, có gan làm giàu. Chỉ sợ em thiếu can đảm thôi.
Cô gái bày tỏ quyết tâm cao của mình. Bà chủ tiệm vàng ngần ngừ đôi chút rồi cho một địa chỉ bên kia bên giới, một mật khẩu, lại cho cô mượn một số vốn kha khá và dặn:
- Mà phải kín đáo đấy, dù có chết cũng không được tiết lộ với ai.
Cô rành tiếng nói của người bên kia biên giới, lại thông thuộc các đường ngang ngõ tắt giữa hai nước.
Cô đem về một giỏ đào tiên - đặc sản của địa phương bên ấy Bên trên giỏ là đào thật, còn bên dưới là những quả bị moi ruột, thế vào bằng thứ bột trắng gói khéo léo trong những bịch ni lông và đậy lại một cách tài tình.
Chuyến đi trót lọt, cô họ Hà được lời một số tiền lớn. Lòng tham vốn không đáy. Cô đi chuyến thứ hai, thứ ba, thứ tư, rồi thứ năm và... bị bắt.
Cô ở trong trại giam được 6 tháng thì một hôm người yêu của cô đến thăm. Anh gầy gò đen đúa và có vẻ căng thẳng. Thừa lúc không ai để ý, anh nói nhỏ với người bạn lòng:
- Yên chí đi. Anh sắp có một số tiền lớn, đủ sức đưa em ra khỏi chốn này. Cô chợt thấy trong mắt người yêu tóe lên những tia sáng kỳ lạ, lạnh và sắc như ánh thép.
Rồi người yêu của cô ra đi, đi mãi.
Cô gái mỏi mòn chờ đợi. Một năm đã trôi qua...
Mỗi đêm trăng sáng, cô đứng vịn song sắt trại giam nhìn đàn chim trời bay qua. Chúng gọi nhau, nghe sao mà trìu mến, thống thiết. Một hôm, bỗng cô cất tiếng kêu với theo đàn chim:
- Anh ơi! Em nhớ anh quá!
Tiếng cô trong trẻo, vượt qua các song sắt, đuổi theo đám mây trắng đang lững lờ trôi.
Chợt điều kỳ lạ xảy ra.
Cô nghe rõ ràng tiếng người yêu của cô đáp lại:
- Em ơi! Anh nhớ em quá!
Tiếng nói ấy xuất phát từ bên kia bức tường cao.
Nguyên nhà tù này chia làm hai phần, một bên nhốt phạm nhân nữ, bên kia dành cho nam. Người hai bên không thấy mặt nhau, nhưng người bên này nói lớn thì người bên kia nghe được và ngược lại.
Cô nghĩ thầm:
- Vậy là anh ấy còn sống. Điều cốt yếu là anh ấy còn sống! Ở tù thế nào cũng có ngày được ra. Án chung thân đi nữa mà hạnh kiểm tốt thì cũng chỉ phải ở độ 10, 12 năm là nhiều. Chúng ta còn nhiều thời gian để làm lại cuộc đời.
Từ ấy cô chờ đợi những đêm trăng sáng, khi đàn chim bay qua và gọi nhau, cô lại ra vịn song sắt phòng giam, nhìn lên trời và kêu lớn:
- Anh ơi! Em nhớ anh quá!
Tức thì từ bên kia bức tường chàng họ Đỗ đáp tại:
- Em ơi! Anh cũng nhớ em quá!
Bản tình ca kỳ lạ, có một không hai ấy vang lên trong đêm tĩnh mịch, nghe mà nhói lòng.
Một đêm tháng 8 (âm lịch) trăng sáng vằng vặc cô lại cất tiếng:
- Anh ơi! Em nhớ anh quá!
Và cô hồi hộp chờ đợi tiếng trả tời. Chờ mãi. Chờ mãi mà không nghe người yêu từ bên kia tường đáp lại.
Cô hốt hoảng:
- Hay là... hay là anh ấy làm sao rồi?
Linh tính báo cho cô dường như có sự gì rất tệ. Cô suy sụp dần.
Nhưng rồi phép lạ đã xảy ra.
Một đêm trăng khi đàn chim bay qua và gọi nhau ríu rít trên không, thì ở bên kia tường, bỗng nổi tên tiếng nói ấm áp:
- Em ơi! Anh nhớ em quá!
Cố lấy hết hơi, cô gọi lớn:
- Anh ơi! Em nhớ anh quá.
Bản tình ca nồng nàn và bi ai ấy lại vang lên trong đêm tĩnh mịch quạnh hiu. Vầng trăng trên cao kia dường như cũng đang lắng nghe chăm chú. "Đúng tiếng anh ấy rồi" cô gái tự nhủ - tuy âm sắc có vẻ già hơn trước. Nhưng ở tù người ta mau già cũng là lẽ bình thường.
Rồi tự nhiên cô gái lành bệnh. Cô lại ăn được, ngủ được, lại đi làm việc, học hành, ca hát véo von. Hy vọng quả là liều thuốc thần, liều thuốc cải tử hoàn sinh.
Trong trại giam có bà giám thị già, vẫn gọi tà bà Tám, chồng con đều chết cả trong chiến tranh. Bà thương cô lắm, coi cô như con mình, hết lòng dạy cô nghề may. Cô học hành chuyên cần và xem ra rất có năng khiếu.
Vì cô phạm nhân họ Hà có hạnh kiểm tốt, nên được phép ra ngoài làm việc.
Một hôm, phạm nhân đang làm việc thì trời đổ một cơn mưa lớn và kéo dài. Sấm sét ì ầm như trời long đất lở. Con suối hằng ngày hiền hòa bỗng biến thành dòng thác lũ nước đổ ì ầm.
Mấy đứa học trò người Thượng đi học về phải qua cây cầu tre bắc ngang suối. Thình hình cầu gãy, bọn trẻ té xuống dòng nước chảy xiết, mấy đứa còn trên bờ la thét inh ỏi. Lúc ấy tốp phạm nhân đi làm về cũng tình cờ vừa đến đấy. Cô không chần chừ, nhảy ngay xuống dòng nước lũ...
Tin người nữ tù nhân can đảm cứu được 3 đứa trẻ được các phương tiện thông tin đại chúng truyền đi khắp nơi.
Để biểu dương tinh thần dũng cảm quên mình cứu trẻ của cô gái, một lệnh đặc xá được ban hành. Tính ra, cô chỉ phải ở tù có 6 năm 3 tháng 13 ngày, thay vì án chung thân.
Việc đầu tiên của cô khi được mặc trở tại bộ quần áo của thường dân tự do là chạy ngay qua trại tù nam và nói với viên sĩ quan trực:
- Xin vui lòng cho tôi gặp anh Đỗ Văn X.
- Hôm nay mới là thứ hai - thứ sáu mới đến ngày thăm nuôi.
Cô gái khẩn khoản:
- Xin cho tôi thấy mặt anh ấy một chút thôi cũng được. Xin mở lòng thông cảm, chúng tôi xa nhau đã hơn 6 năm rồi.
Anh này nhìn cô gái hồi lâu rồi hỏi:
- Đỗ Văn X. nào nhỉ? Có phải anh cao cao, có cái bớt đỏ dưới tai trái và cái thẹo to ở cánh tay phải không?
Cô Hà mừng rỡ reo to:
- Đúng rồi! Đúng anh ấy đấy!
Người sĩ quan trực không giấu được vẻ ái ngại:
- Mà... cô là thế nào với anh ấy?
- Tôi là vợ chưa cưới của Đỗ Văn X.
Ông thở dài lục chồng hồ sơ lấy ra một tờ báo cũ đưa cho cô.
Cô đọc đến đâu chân tay bủn rủn đến đó.
Anh Đỗ Văn X. (có cả ảnh) cách đây 4 năm đã tổ chức đánh cướp một tiệm vàng lớn. Anh ta rút súng ra uy hiếp cô bán hàng, ném cho cô một cái bao lớn, ra lệnh gom tất cả nữ trang bỏ vào đấy. Kẻ bị uy hiếp tay gom vàng dưới mũi súng nhưng chân lại đạp vào nút báo động bí mật. Bảo vệ chạy tới rần rần. Tên cướp nổi điên bắn gục ngay cô bán hàng (là mẹ của một đứa trẻ 5 tuổi và đang mang thai 7 tháng) rồi quay ra nổ súng vào hai bảo vệ và sau đó quay họng súng vào đầu mình bóp cò nhưng đạn lép. Anh ta đã bị bắt sau khi giết 4 mạng người vô tội.
Tòa xử tên cướp án tử hình - và anh đã thọ án cách đây 2 năm.
Đọc xong bài báo, cô hét to:
- Không đúng! Không đúng! Suốt hơn một năm qua đêm trăng nào tôi cũng nghe anh ấy gọi. Cách đây hơn một tháng, tôi còn nghe tiếng anh ấy. “Em ơi! Anh nhớ em quá!", nhiều người trong trại nữ đều nghe rõ, chứ có phải mình tôi đâu!
Viên sĩ quan trực nhún vai:
- Vậy thì tôi không biết. Còn bài báo này đăng đúng sự thật đấy.
- Hay là ma?
Câu: "Em ơi! Anh nhớ em quá'" thì chỉ có người mới nói được mà thôi! Đúng. Chỉ có con người mới nói được câu ấy mà thôi.
Một phút yên lặng nặng nề trôi qua. Chợt viên sĩ quan vỗ tay tên trán:
- Á à! Có thể, có thể như vầy lắm. Sát xà lim anh tử tù họ Đỗ là phòng giam một tay bị nhốt vào đây vì tội say rượu đánh nhau gây ngộ sát. Ông đã ngoài 40 tuổi, ở đây cũng mấy năm. Ông ấy có tài nhái tiếng chim, tiếng thú, tiếng người. Có thể suốt hơn năm trời ông ấy đã nhái tiếng anh họ Đỗ mỗi khi trăng lên. Và ông ấy mới được thả đầu tháng này.
Cô họ Hà nghe xong liền ngất xỉu.
Khi ra khỏi bệnh viện cô đứng ngơ ngác nhìn cuộc sống nhộn nhịp ngoài đường. Về đâu bây giờ. Bà ngoại mất rồi, nhà cửa cũng chẳng còn. Cô ngồi bệt xuống trước cổng nhà thương, sự tuyệt vọng tràn ngập trong lòng.
Chợt cô thấy... bà Tám giám thị. Bà cười xởi lởi:
- Mẹ đi đón con đây! Mẹ cũng cô đơn lắm, mà cũng sắp nghỉ hưu rồi. Hãy về ở với mẹ, mẹ có căn nhà ở hẻm lớn. Con có thể mở tiệm may ở đó được mẹ con ta sống hủ hỉ với nhau. Con mới 27 tuổi. Cuộc đời tươi đẹp đang mở rộng trước mắt, cái gì đã qua, ta không thể níu kéo nó lại được. Điều cốt yếu là con đã được tự do. Rồi mẹ sẽ kiếm cho con một tấm chồng tử tế.
Người đàn bà phúc hậu thuyết phục cô bằng tấm tòng thương yêu chân thật, và dắt cô lên chuyến xe buýt đi về hướng nhà mình.
Theo Phụ nữ chủ nhật ( Báo Người Lao Động đăng tin lại không đề tác giả là ai)
Sanya
28-01-2006, 01:41 AM
Đồng xu vĩnh cửu
Thật đấy! Trên ấy có đồng xu thật đấy! Cháu lên xem giúp bà đi!
- Lâu thế rồi liệu nó còn không hả bà?
- Nhất định có mà!
- Thế thì bữa nào cháu sẽ lên!...”.
... Hoàng hôn dần buông xuống. Lèn đá bốc hơi ngùn ngụt. Con đường dẫn vào Tháp Định không nhìn rõ nữa. Chỉ nghe tiếng suối chảy róc rách phía trước mặt. Vài chú trâu về muộn, tiếng mõ khua lóc cóc xa dần.
Bãi Hẹn là triền cỏ dài nằm men theo chân núi, nơi người dân quê tôi dừng bước sửa lại lễ vật trước lúc lên tháp. Nơi những đôi trai gái làng thường đến tình tự trong những đêm trăng.
Mây chiều và khói núi lãng đãng. Cảnh vật trở nên huyễn hoặc trước lúc chìm vào đêm. Tôi ngửa lòng bàn tay ra hứng cái vị se lạnh rồi buột miệng “hèn gì...”.
Giữa khoảng không mờ ảo, ánh mắt reo vui của bà tôi như thấp thoáng đâu đó và giọng nói ấm áp vọng lại: “Trên ấy có đồng xu thật đấy!”.
... “Anh không yêu em nữa chứ gì? Tại sao? Tại sao? Tại sao...?
- Đừng khóc nữa em! Đêm nay trăng đẹp quá! Buổi tối thật tuyệt vời! Em có nhìn thấy Tháp Định không? Ngày mai lên đấy, trong đoạn cuối, lỗ đầu tiên của viên gạch thứ mười bốn, bậc tháp thứ hai ba, em nhớ nhón nhẹ ngón tay vào sâu. Nếu đồng xu sấp: Xin em đừng buồn! Nếu đồng xu ngửa: Anh đã lên đường!
- Không có đồng xu nào cả! Sẽ không có đồng xu nào cả! Em cần có anh thôi!...”.
- Hôm sau, bà có lên Tháp Định tìm đồng xu không?
- Chiến tranh mà! Cả nhà đi tản cư ngay trong đêm ấy - Ánh mắt bà bỗng trở nên xa xăm.
Bà đưa tay vào túi áo lấy ra những tờ tiền lẻ. Những tờ tiền mỗi lần cô tôi về thăm nhà dúi cho bà mua quà vặt. Bà chẳng tiêu gì nhưng vẫn cầm. Bà nhận để vui lòng cô tôi.
- Cho mày mua kẹo! Tiện đường lên đó xem giúp bà nhé!
- Bà ơi! Nếu có, bà cho cháu mang về chơi trò đánh đáo với thằng Tùng, thằng Chiến. Bọn chúng cũng được bà chúng cho vô số đồng xu đấy!
- Cha tổ mày! Miệng bà vẫn bỏm bẻm nhai trầu. Tôi hăm hở lao vụt ra đường, chạy băng băng về hướng Tháp Định. Một, hai, ba, bốn,... hai ba, tôi cố vươn người lên. Nhưng bàn tay thằng bé mười tuổi không làm sao với tới viên gạch thứ mười bốn. Tiếc nuối quay về. Tôi tin đồng xu nằm ở trên ấy!
- Trên ấy có đồng xu thật mà!
- Làm sao bà biết? Lỡ ông ấy không bỏ vào thì sao?
- Có thật mà! - Bà tôi phản ứng một cách yếu ớt rồi gắng gượng ngồi dậy. Đôi mắt đã mờ đục hướng ra con đường chạy vào núi. Sờ vào đôi chân từ lâu không còn cảm giác, bà quay sang tôi nài nỉ:
- Cháu lên xem giúp bà đi!
- Không có đâu bà ạ!
Bà tôi thừ người ra như vừa đánh rơi thứ gì quan trọng lắm. Từ ngày bị bệnh, quanh đi quẩn lại trong bốn góc giường, bà hay kể về cái thuở xa xưa với hình bóng một ông cụ nào đó. Nhiều lần tôi bắt gặp bà thì thầm một mình như trò chuyện với ai. Bố tôi lắc đầu (ở nơi bà không nghe được) và bảo: Bà bị bệnh già!
Tôi đã đi qua thời niên thiếu. Những đồng xu của trò chơi thuở bé để quên lăn lóc ngoài sân từ hồi nào. Những trận banh, những chuyến dã ngoại, những cuộc hội hè kéo tôi vào. Thành thử tôi cứ khất lần khất lữa bà mãi.
Bà phập phồng chờ đợi mỗi tối chủ nhật tôi trở về nhà. Ánh mắt bà bừng lên những tia hy vọng sau câu hỏi quen thuộc “Cháu có lên đấy không?” - rồi cụp xuống lặng lẽ.
Lần đầu tiên phát hiện ra, tôi giật mình, tự nhủ: “Đồng xu trên Tháp Định quan trọng với bà thế sao?”. Biết đâu nó là tia sáng lay lắt cuối cùng, là nỗi day dứt duy nhất còn sót lại trong cuộc đời bà tôi. Tám tư tuổi, mọi lo toan, vướng bận không còn! Mà khi đã thanh thản, người ta dễ dàng ra đi! Tôi chợt rùng mình trước ý nghĩ ấy. Phải níu bà lại bằng những lời hứa!
- Cháu lên xem giúp bà đi!
- Không có đâu bà ạ!
- Nhất định có mà! - Giọng bà nghèn nghẹn như sắp khóc.
- Sao bà biết có?
“... Mẹ chỉ còn duy nhất một mình anh. Suốt chừng ấy năm trời, mẹ mỏi mòn chờ đợi. Chiến tranh, ôi chiến tranh!
- Em!... Em!... Nàng ngước đôi mắt đẫm nước nhìn lên. Chàng bỏ dở câu nhưng nàng thừa biết chàng định nói gì. Chàng không muốn nàng giống mẹ! Biết bao trai làng ra đi đã không về. Cha rồi đến lượt các anh trai chàng cũng vậy!
Nàng run rẩy tựa đầu vào lòng chàng. Lồng ngực vững chãi, hối hả nhịp đập con tim. Nàng nghe rõ nỗi đau chia cắt cận kề!
- Sương nhiều, ướt cả tóc em rồi! Giọng chàng thảng thốt. Nàng biết những giọt sương nước mắt của chàng đang thấm qua kẽ tóc mình...
- Trăng đã xế, em về đi! Anh còn phải lên tháp. Gương mặt cương nghị nhìn sâu vào mắt nàng. Gương mặt loang loáng nước dưới ánh trăng khuya.
Nàng gạt nước mắt, định nói những lời từ trong sâu thẳm tim mình, rằng “em sẽ đợi anh về!”. Nhưng bàn tay chàng đã chặn nàng lại. Hít một hơi thật sâu, chàng lạnh lùng đẩy nàng ra và bước vội vào con đường dẫn lên Tháp Định.
Nàng đứng chôn chân như tượng đá. Những giọt sương trên thảm cỏ vương vào lạnh cóng. Lần đầu tiên từ ngày gặp nhau nơi Bãi Hẹn, một mình nàng thất thểu trở về!”.
- Nhất định đồng xu trên tháp nằm ngửa cháu ạ! Ông ấy yêu bà lắm!
- Hồi trẻ, bà có đi tìm đồng xu không?
- Có chứ! Tìm người nữa chứ!
Tôi đã lên bậc tháp thứ hai ba. Lỗ đầu tiên của viên gạch thứ mười bốn hiện rõ. Tôi đứng tần ngần nhưng không dám sờ tay vào - bàn tay của thằng đàn ông hai tám tuổi từng chao đảo trên con thuyền tình. Tôi chợt mỉm cười với ý nghĩ “giá tôi được làm thằng bé lên mười năm xưa!”.
Ngồi bệt xuống bậc tháp, tôi bắt đầu đếm những đôi trai gái dìu nhau đi lên. Mấy chục năm trôi qua, Tháp Định già theo thời gian. Những bậc tam cấp cũ kỹ đầy rêu. Những viên gạch đã ngả màu nâu đất. Tôi thầm hỏi: “Trong những dãy lỗ bé tí kia, liệu có thêm đồng xu của đôi lứa nào nữa hay không?”.
Thấp thoáng đằng xa phía chân tháp là cả làng quê trù phú. Những ngôi nhà cổ kính nằm ẩn mình dưới bóng cây cổ thụ. Bãi Hẹn dường như bị thu hẹp lại. Nhưng triền cỏ vẫn xanh um, uốn lượn, nằm khép mình lặng lẽ. Tôi ngồi như thế cho đến khi người cuối cùng rời tháp.
- Đồng xu sấp hay ngửa thế? - Mới nghe tiếng cửa mở lách cách bà tôi đã cất lời. Vẫn ánh mắt tràn ngập tia hy vọng và cánh tay yếu ớt gắng gượng nhoài ra. Lòng tôi chùn xuống.
- Có đồng xu bà ạ! Nhưng tay con to quá không thò vào được!
- Đã bảo rồi mà! Có thật mà!
- Ngày xưa lên tháp, bà cũng thấy đồng xu phải không?
Bà cười và im lặng! Lần đầu tiên từ ngày ngã bệnh, tôi thấy bà cười. Nụ cười viên mãn! Tất cả những nếp nhăn ở khóe miệng đùa vào nhau như reo vui để lộ hàm lợi không còn chiếc răng nào.
... Cụ cố gả bà cho ông mày đấy! Phải rồi! Đời người đàn bà, ai có thể ở vậy một mình kia chứ! Bà nói với tôi mà như độc thoại.
- Lấy chồng rồi sao bà vẫn nhớ người yêu cũ?
- Cha tổ mày! Lại kết tội bà! Tình yêu và đạo nghĩa vợ chồng khó nói hết lắm cháu ạ! Ừ! Mà bà lo cho ông mày trước sau chu tất cả...
Làng tôi ai cũng bảo bà ăn ở phúc đức nên sống thọ. Tôi không tin vào quy luật nhân quả. Nhưng tôi biết bà dành trọn vẹn cho chồng và cho các con.
Ông tôi khỏe mạnh, sống với bà được bảy năm, có ba mặt con. Trong một chuyến lên rừng làm ăn, ông tôi lâm nạn rồi nằm liệt giường suốt hai mươi năm.
- Người yêu của bà có trở về không? Tôi tò mò hỏi.
- Bà không gặp lại ông ấy! Nhưng bà thường lên tháp mỗi khi cảm thấy đuối sức trước lo toan của cuộc sống gia đình. Sau mỗi lần trở về, bà như có thêm một sức mạnh vô hình nào đấy cháu ạ!
- Thế bà có nhìn thấy đồng xu không?
Bà tôi ngập ngừng:
- Cháu thấy rồi còn gì! Kỷ vật đẹp nhất bà có trong cuộc đời này đấy!
- Đồng xu sấp hay ngửa bà nhỉ? - Tôi buột miệng.
- Có đồng xu trên ấy! Sấp ngửa cũng không sao! Đó là đồng xu của bà!
Như linh cảm, đêm đó bà tôi đã ra đi trong giấc ngủ dài thanh thản!
Vẫn bậc tháp thứ hai ba, vẫn cái lỗ be bé, vẫn điệu ngồi bệt như mọi hôm lên đây. Nhưng tôi biết, ngay chỗ tôi ngồi đã từng có một người con gái hàng trăm lần dừng lại. Nàng thủ thỉ và dốc hết những u uất trong lòng như một con chiên ngoan đạo.
Nàng cũng như tôi, không ai dám sờ tay vào. “Trên ấy có đồng xu thật đấy!”.
Truyện ngắn của Sông Biếc
Sanya
28-01-2006, 01:42 AM
Hoang đường
Một ngày tháng Mười buồn tẻ. Gió lao rao lạnh, mưa lay phay, buông xuống giữa trời chiếc rèm mỏng tang, ướt sũng. Thêm những tiếng gà eo óc xa xa... Bữa đó, Chín gặp ma. Những người đang sống bên mình, đang cười đang nói đang đẹp đang yêu, có thể họ là ma, phát hiện đó không đáng thảng thốt, hết hồn sao? Mắc cười, lúc đầu Chín còn tưởng con nhỏ Viên vừa đến trọ cùng phòng là người.
Bởi cô ta giống hệt như những đứa con gái Chín thường hay gặp trên đường. Tóc nhuộm vàng pha nâu, từng lọn uốn loăn quăn như sợi mì ăn liền, gương mặt xinh đẹp được trang điểm tỉ mỉ, chiếc áo mỏng tang, hai dây gá hờ lên đôi vai trần, hở nhiều chỗ thịt da tái xanh vì lạnh.
Mùi nước hoa cũng ướt đẫm thành vệt khi cô gái đi qua chỗ Chín ngồi lặt rau lang. Bà chủ nhà đon đả đi trước vẹt đường cho mớ hành lý kềnh càng. Con nhỏ lướt ánh mắt giễu cợt, phủi lên những vật dụng đơn sơ trong phòng, rồi dừng lại chỗ cái áo sơ mi Sở treo trên móc, cô ta ngó Chín, bĩu môi cười.
Chín thấy tuyệt vọng. Chỗ trú thân của Chín, thế giới riêng của Chín đã bị chia sẻ, kể từ bây giờ. Ngay lúc này, Chín ước gì mình có một món tiền, vừa đủ trả cho bà chủ khu nhà trọ, để đá con nhỏ đó văng ra đường.
Tưởng tượng cái cảnh cô ta lếch thếch ngoi ngóp ngoài sân Chín thấy hể hả. Nhưng cảm giác ấy kéo dài không được bao lâu, thực tế là con nhỏ đang đứng đây, và tối nay sẽ nằm ngủ trên giường của Chín.
Phải, cả chiếc giường cũng không của riêng Chín nữa. Đứa con gái xa lạ mà Chín còn chưa biết tên đã chiếm giữ nó từ chạng vạng, cô ta nằm xoãi tay, dạng chân dồn Chín ở rìa giường. Phờ phạc nghe cô ta thở đều, Chín trằn trọc, cứ nhắm mắt lại thấy mình phập phều như sắp rớt xuống đất. Nửa đêm, Chín lấn vô, vừa chạm vào con nhỏ thì bỗng nghe một cảm giác lạnh buốt nhói thấu tận chân tóc. Dường như cô ta trong suốt, đến nỗi Chín có thể nằm chồng lên.
Chín vọt khỏi giường, Chín bỏ chạy. Không, chính xác là Chín lết đi. Một nỗi sợ hãi nghẹn ứ trong cổ họng. Ra đến sàn nước, chỗ tắm giặt chung của khu trọ, Chín ngoái lại thấy căn nhà mình như lung linh trong sương, muốn khóc, buột miệng kêu: Sở ơi, Sở!
Không ai đón đỡ nên tiếng gọi giãy đành đạch giữa thinh không, vọng lại lòng. Tình yêu làm Chín bình tĩnh lại. Trời ơi, mình đâu có thể bỏ nhà mà đi được, mình phải trở về để chờ Sở, lạc nhau giữa biển người, giờ chỉ còn chút giềng mối này. Sống chung với ma hả, chơi luôn.
So với nỗi đau phải trốn chạy, từ bỏ gia đình, thì những biến cố còn lại, Chín coi thường. Cứ nhìn cái vẻ ngoài rất - người của con nhỏ thì biết, còn nhiều con ma khác đang long rong giữa đời này, lâu rày, có ai hay gì đâu. Thí dụ mình cũng chẳng biết gì đi.
*
Viên giả đò ngủ say khi chị ta trở vào nhà. Nghe hơi thở ngập ngừng, lâu lâu lại có một quãng lặng, đờ đẫn, Viên đoán chị ta cũng đang sợ hãi, giống như mình. Khi chị đặt thân mình trong suốt bên người Viên, lưng chị ta chạm chiếu, Viên giật mình thức giấc vì cảm giác như mình nằm cạnh tảng đá đầy rêu, nhão nhớt. Rồi chị ta bỏ chạy ngay lúc Viên định thét lên. Buồn cười, chắc là chị ta tưởng Viên là ma.
Ha ha ha, ta là ma.
* *
*
Những ngày sau đó là những ngày rất dài, phần vì phải dòm chừng con nhỏ ma, phần vì cuộc chờ đợi đã bước sang tháng thứ ba, ngày thứ sáu mươi mốt. Mỗi tối, nhìn áo khăn của Sở treo trên vách, Chín luôn hy vọng, ngày mai kết thúc. Sở bước qua cửa, và Chín ngấu nghiến ôm lấy anh. Chị Ba ve chai sát bên nhà chì chiết,"Ngu vừa thôi, rõ ràng là thằng Sở bỏ mày rồi, chờ chi nữa, mắc công''... Chín không tin, hôm cuối cùng bên nhau, Sở còn hứa tháng 10 này, ngay dịp ở nhà có đám giỗ, Sở sẽ theo Chín về chịu tội với má, với họ hàng. Sở đã thề năm bảy bận, là sẽ yêu thương Chín suốt đời. Chị Ba tức quá hỏi lại:
- Con mèo chạy qua, thằng Sở nói con chó, mày nhắm tin hôn?
Chín cười:
- Tin. Miễn ảnh vui...
Chị kêu trời. Tánh Chín vậy, yêu hết, tin hết, rút ruột ra để yêu, quăng nguyên con vào yêu, chắt cạn cả mình. Biết là lửa, nhưng con thiêu thân vẫn muốn lao vào cháy hết một lần.Yêu mà để dành, dè chừng phòng hờ thì vui gì, Chín thường hay nói vậy.
Mỗi ngày qua, Chín lại thấy mình xanh xao thêm một chút. Chín mất việc ở công trường, vì có bữa, Chín không nâng nổi cây sắt hay cục gạch chút xíu. Hàng xóm thắc mắc, ''Có bầu sao mà ốm nhom xanh ẻo vậy, mậy?". Chín giãy, ''Trời, bây giờ mà có em bé anh Sở giận chết, ảnh nói, hai đứa còn nghèo...''. Nhưng sâu thẳm trong lòng, Chín thèm khát trẻ con, có nó, chắc Chín không đến nỗi thắt thẻo vì thương nhớ Sở như vầy.
May, có con nhỏ ma, nhịp sống của Chín thay đổi chút ít. Nó đi cả đêm, có bữa về tới nhà đã rựng sáng, say mèm, son phấn chảy xuống mặt, coi xinh đẹp não nề. Suốt ngày sau nó nằm ngủ vùi, mặc kệ điện thoại di động reo như bị ai cắt cổ. Nhiều lúc nghĩ nó đói, Chín kêu dậy ăn cơm. Nó không mở mắt, lắc đầu, nói cảm ơn rồi lại thở đều.
Có vẻ như con nhỏ vẫn tưởng mình là người. Mà Chín không đành, nói "nhỏ ơi, mày chết ngắc rồi" không phải phũ phàng lắm sao? Sở hay bảo, yêu nhất là tánh Chín thương người. Bây giờ mới biết, ma Chín cũng thương. Dù nhiều khi, con nhỏ làm Chín giận run. Một bữa, ngủ dậy, bỗng dưng con nhỏ ma đùng đùng lôi áo của Sở xuống, dẫm giày lên rồi đá thốc về phía Chín, ''tui không thích dấu vết của tụi đàn ông ở trong nhà này". Chín chạy lại ôm cái áo lấm lem vào lòng, chực khóc. Con nhỏ ma dịu giọng:
- Của bồ hả?
Chín ngoay ngoắt bỏ ra sàn giặt. Nó hỏi với theo:
- Thằng đó đâu rồi?
Ôi! Ước gì Chín biết Sở đang ở đâu.
Một bữa, hai đứa đi coi hội chợ về, lúc qua đường, Chín bị xe máy tông vào Chín ngất đi, lúc tỉnh, lồm cồm bò dậy chiếc xe gây tai nạn mất tiêu. Cũng không thấy Sở. Tưởng anh chạy đâu đó để mua bông băng cho mình, Chín ngồi bên vệ đường chờ đến khuya xa xắc. Tưởng Sở về nhà, nhưng ở nhà trống hoác. Tưởng Sở đi đâu một chút thôi, ai dè biền biệt đến giờ. Sở nghĩ Chín chết nên không quay lại nơi đau thương này? Hay Sở không thể chịu được khi nhìn thấy Chín đau? Hoặc Sở tự giằn vặt, không mặt mũi nào mà gặp lại người yêu, vì anh mà tai nạn đến với Chín (lẽ ra anh lên đi trước, lẽ ra anh nên nắm tay để kéo Chín lại với mình)? Chín loay hoay, mê mải với những giả thuyết rối mù, không manh mối.
Nhưng có một giả thuyết mà chị ta chưa nghĩ tới, là chị thật sự chết rồi.
Sanya
28-01-2006, 01:43 AM
Con nhỏ ma dựng quanh nó đầy những bức tường nghi hoặc. Những câu hỏi bỏ lửng... Nó mở tivi, nhăn nhở chỉ một ông sang trọng nói "ba tui kìa'' rồi im lặng khi Chín nhổm lên hỏi thiệt hôn. Bữa khác nó thản nhiên bảo cái nhà ba, bốn tầng (cũng trong tivi) là nhà mình trong khi nó đang ở trọ. Nhiều tiền mà ở trọ. Ở trọ mà chạy Dylan, chiếc xe trăm triệu chớ giỡn sao. Cứ vậy, ở con nhỏ ma, không có gì là hợp lý. Coi bộ nó ghét đàn ông, lại có vẻ như đang yêu, đang hẹn hò dù không biết với người nào, vì mới ngọt ngào cùng một người tên Dũng nào đó, cú điện thoại sau lại ngoay ngoắt bảo nhớ Hùng quá, anh ơi.
Khó hiểu, nhưng không ghê rợn như những gì người già hay kể. Nào là ma biết bay, ma lưỡi dài, xõa tóc, ma xanh lét hay ma rút ruột. Rốt cuộc người ta dựng chuyện khơi khơi vậy thôi có ai tới được chỗ đó đâu, có đến cũng không trở lại, để kể.
Những buổi chiều nhìn người con gái gội đầu bên hồ nước đầy rêu, những tia nắng cuối cùng nhảy nhót trên cổ trên áo chị, Viên thường thảng thốt. Không thể phân biệt được chị ta với người, bằng mắt thường, đến nỗi lúc ra đường, Viên nhìn ai cũng gợn lên ý nghĩ, không biết người hay ma đây.
Chất người trong người con gái ấy vẫn lung linh, những lần chị thức giấc kéo mền lại cho Viên, những khi chờ Viên dậy để cùng ăn cơm. Rau luộc chấm chao thôi, Viên cầm đũa, mà cảm giác mắt mình ướt như vừa khóc.
Một bữa nắng nhiều, con nhỏ ma nhờ Chín khui mấy thùng đồ ra chơi cho đỡ mốc. Thùng Một, có vài con búp bê đắt tiền, vài lọ nước hoa còn mới nguyên, mấy cái áo len. Và những khung hình đã cũ. Chín tần ngần trải chúng ra dưới nắng, thấy long lanh những nụ cười.
- Mẹ tôi nè, đẹp hen - Con nhỏ ma chìa tấm ảnh một người phụ nữ trước mặt Chín, rồi lạnh lùng cụp lại - Lấy chồng rồi, đẻ một bầy con bên Mỹ.
Chín ngộp thở, chưng hửng... Con nhỏ cưới, cái cười kêu lóc cóc, khô như những hòn đá lăn vào nhau, ''Thấy ngộ lắm hả? Nhằm gì, cha tôi cũng vừa mới đám cưới tưng bừng...''.
Chín cảm giác con nhỏ đang chết thêm lần nữa khi nhắc lại một hai đám cưới đã dự trong đời. Thế giới của ma, cũng đầy đau xót, thiệt ngộ, tưởng chết là khỏe trân chớ (về điều này, mấy bà già lại lừa mị, ai nói chết là hết đâu).
Thùng Hai, đầy nhóc sách vở, có cả thẻ sinh viên. Trời, vậy là con ma này lê la tận trường học. Chín hói ''Ủa, sinh viên, sao không thấy đi học gì hết vậy?''. Con nhỏ cố gắng nắn miệng mình thành nụ cười trên khuôn mặt bất cần, rắn câng, ''Không học cũng đậu, cũng có chỗ làm ngon lành, học chi cho mệt...''.
Thùng Ba, lổn ngổn những gói quà nhỏ chưa từng được mở ra. Phía trên cùng là quyển sổ dày, bìa có '''Ghi tình'' cùng hình mấy con bướm chết tả tơi vẽ bằng bút bi trên nền xanh lam, đã quăn mép. Thấy Chín tần ngần, con nhỏ ma biểu cứ lật coi đi. Mỗi trang là tên một người tình, với vài chi tiết như nơi gặp lần đầu, đặc điểm (thí dụ như ''ngày mai cưới vợ" hay "buồn chán cuộc sống hôn nhân''...). Còn có mục ''nơi ngủ cùng nhau" (chữ ngủ này bao gồm nhiều hành động khác chứ không đơn thuần chỉ nhắm mắt và ngáy khò khò), cuối cùng là thời gian kết thúc, có khi gọn lỏn trong một ngày đêm.
- Sổ của tụi bạn tôi còn dày hơn nhiều.
Chín ngó sững vào khuôn mặt đẹp như được đúc bằng men sứ, lại ngộp thở. Con nhỏ chưa từng biết yêu thứ tình-yêu-của-người. Nếu có quyển sổ cho mình, Chín sẽ ghi dày đặc tên Sở, và dằng dặc những chữ ''em yêu anh''.
Những tờ lịch cuối cùng của tháng 10 nặng nề rụng xuống, người đàn ông tên Sở vẫn chưa về. Viên nổi quạu thấy người con gái ra cửa ngó mong, và buông đũa nghe ngóng mỗi khi bước chân ai đó loẹt xoẹt qua nhà.
Một bữa, chị thở dài, Viên càu nhàu, sao không ngủ. Chị bảo, sớm mai là gói bánh đám giỗ nội. Phải ở nhà, giấc này chị đang ngồi lau lá, xắt khoai môn thật mịn để làm gân bánh ít mình ngọt, rồi nạo mấy chục trái dừa. Giọng chị nghe đượm nồng mùi khói bếp ung.
Viên trợn trạo nuốt cục nghẹn, tình yêu không đáng đánh đổi với cái mùi khói đó.
Một bữa dọn dẹp nhà, Chín thấy cuốn “ghi tình” hôm trước rơi hớ hênh dưới bàn. Gió vô tình lật những trang gần cuối. Tên Sở ở đó. Chín hơi sững sờ, thấy cuốn sổ lọt tuốt qua tay mình. Như những trang khác, con nhỏ ma không quên mục ''đặc điểm": Người yêu vừa qua đời hai ngày. Anh ta vẫn mạnh mẽ, không có gì khác lạ...
Mắc cười, con nhỏ định dùng cách này để Chín không chờ Sở nữa. Vô lý ở chỗ, nó ám chỉ Chín chết rồi. Nhiều khi con nhỏ cũng vô duyên hết sức nói...
Viên điên cuồng tìm cách chứng minh với chị ta không có thứ gọi là tình yêu. Chị ta thì không làm gì, cứ chờ đợi một mối tình thăm thẳm.
Cho đến một ngày, Viên thật sự tin chị ta đang sống, vì vẫn cuống cuồng tin yêu.
Còn mình thì chết rồ.
Theo Xuân Phụ nữ 2006 - ( Báo Lao Động đăng tin lại không đề tác giả).
tranminh
28-01-2006, 10:32 AM
truyện này lạ ghê, đọc hay, cám ơn Sanya nhiều nhé :-p
tranminh
28-01-2006, 10:39 AM
cách viết truyện khá lạ :-)
ốc con_9x
28-01-2006, 11:25 AM
chuyện này hơi khó hiểu...rất thú vị
tranminh
28-01-2006, 01:33 PM
có gì mà khó hiểu? dễ hiểu quá mà, hehehhehehê.........
Sanya
30-01-2006, 10:48 AM
Rừng trúc năm xưa (chùm truyện cực ngắn)
Hoàng Long
RỪNG TRÚC NĂM XƯA
Có một ngôi nhà khiêm nhường trên núi cao. Gia đình tôi sống ở đó. Tôi trồng một khóm trúc phía sau nhà, kê một cái bàn đá, đôi lúc tôi ra đó uống trà bên một người vợ hiền thục và một lũ con vây quanh. Hay vào những đêm trăng sáng, tôi độc ẩm và ngắm khóm trúc sau nhà rì rào trong gió. Đó là những phút giây thảnh thơi nhất đời tôi. Nhưng đời này không phải lúc nào cũng được như thế.
Con cái tôi lớn dần đến tuổi đi học. Tôi phải xuống núi tìm mua nhà trong thành phố cho chúng tiện đường đến trường đến lớp. Người vợ tảo tần của tôi cũng buôn bán như con cò lặn lội bờ sông nuôi một lũ con và một thằng chồng làm thơ. Nhà nơi thành phố chật hẹp, không có đủ chỗ ở, còn nói gì đến chuyện trồng cây. Tôi nhớ bụi trúc sau nhà đến mức phải tìm mua một bức tranh thủy mặc vẽ trúc và đá núi treo lên vách để đôi khi uống trà hay nhâm nhi ly rượu thì còn có cái mà nhìn mà tưởng tượng. Dòng đời cứ thế mà trôi đi.
Các con tôi đã lập gia đình hết cả rồi. Tôi mới nuôi ý định cùng vợ mình đi về ẩn dật tại ngôi nhà trên núi xưa kia. Nàng đồng ý. Nhưng ý định chưa kịp thực hiện thì nàng ngã bệnh rồi qua đời. Những tháng năm lam lũ đã rút hết sinh lực của nàng. Tôi khóc hết nước mắt, đem nàng đi hỏa thiêu rồi mang tro bụi của nàng về ngôi nhà xưa kia trên núi.
Ngôi nhà năm xưa vẫn còn đó, nhỏ bé, thanh bình và được phủ một lớp bụi thời gian. Khóm trúc xưa kia giờ đã thành rừng. Những dãy trúc mọc dài ngút mắt, như dẫn lối tôi vào miền tiêu dao. Tôi đem tro tàn của vợ mình vùi xuống một khóm trúc. Chắc ở nơi này nàng sẽ bình yên, không phải còn lo lắng gì nữa.
Tôi quét dọn lại nhà cửa rồi vui thú những tháng ngày còn lại của đời mình. Khi chén rượu khi cuộc cờ (tự mình đánh với mình), khi nhìn hoa nở khi chờ trăng lên. Khi nào rừng núi gọi tên, ngủ yên thân xác cho triền miên quên?
Một buổi chiều tàn, tôi ngồi độc ẩm nơi chiếc bàn đá và ngắm đất trời cùng rừng trúc hoang vu. Rượu đã ngà say, tôi chợt thấy một vật sắc nhọn đâm thấu tim gan mình nhức buốt không sao ngăn lại được. Vật đó dâng cao dần cao dần lên khiến người tôi càng lúc càng dài ra. Mười ngón chân tôi cũng dài ra mãi và cắm sâu xuống đất. Tay tôi thon nhỏ dần thành những chiếc lá. Tôi chẳng hiểu chuyện gì xảy ra, người tôi cứ dâng cao lên mãi, hơn cả nóc nhà tranh. Cho đến khi tôi kịp hoàn hồn thì thấy thân hình mình đã khẳng khiu, thả một cái bóng đen dài xuống vùng đất đỏ. Tôi đã thành một cây trúc từ lúc nào không hay.
Đứng ở đây, xa lánh và bình thản, cũng có thể tự hiển lộ mình qua tiếng rì rào của lá trúc. Nhân gian không biết tới nhưng chỉ mình ta biết ta là được rồi. Cứ như thế, tôi lặng đứng từ bao năm qua, hài lòng với hiện tại ở cảnh giới này.
THỜI TRÂN
Mỗi lần gần gũi, tôi thường vuốt ve bàn chân ngà ngọc của nàng, rồi cắn nhẹ vào gót sen đó. Nhưng sao hôm nay gót chân nàng lại dịu mềm và mát rượi thế nhỉ. Khi tôi đưa miệng cắn nhẹ vào chân nàng, miếng thịt ấy chợt mềm mại như đông sương, ngọt thanh như một miếng thạch dừa, ngon không thể tả. Tôi phải ăn hết hai bàn chân nàng mới đủ no. Nhưng liệu vì tôi mà nàng có thể trở thành tàn phế không? Dù sao, nàng cũng không cảm thấy đau đớn gì và tôi cũng không thấy máu chảy ra, da thịt nàng mau chóng lên da non và liền lại. Từ chỗ đó, một bàn chân nhỏ xíu như của em bé nhú dần và nở ra. Đúng ba tháng sau thì bàn chân nàng phục hồi như cũ. Từ đó, tôi mới biết thêm một món thời trân. Nhưng mỗi năm tôi chỉ dùng có hai lần thôi để nàng chỉ phải nằm nhà nuôi chân sáu tháng. Còn lại sáu tháng kia nàng phải đi làm. Trong khoảng thời gian chờ đợi đó, tôi ngồi viết sách về những món thời trân.
BẠN BÈ
“Cử bôi yêu minh nguyệt
Đối ảnh thành tam nhân”
(Lý Bạch)
Hoang vu mãi cũng chán. Hắn bèn tìm kiếm người để tâm sự hàn huyên. Nhưng làm sao có thể tin ai được ở thời buổi này? Hắn mới lấy cái bóng của mình làm bạn. Nhưng để chắc ăn, mỗi khi ra chốn đông người, hắn thu nhỏ cái bóng của mình lại nhét vào trong túi quần. Và như thế không ai biết hắn có một người bạn thân cả. Chỉ khi về đến hang ổ của mình, hắn mới lấy cái bóng của mình ra từ trong túi rồi trải dài trên mặt đất để cùng nói chuyện với hắn hay cùng uống với hắn một lon bia.
Lúc đó hắn thấy mình cất lên một câu nói của Thanh Tâm Tuyền “Tôi không còn cô độc”.
Sanya
30-01-2006, 10:50 AM
NGƯỜI ĐÁY GIẾNG
Tôi đã tìm ra một cái giếng cạn bỏ hoang không người ở. Tôi cũng chẳng có nhà. Vì thế, khi nhìn thấy một cái giếng hoang, tôi vui mừng dọn dẹp cỏ dại, chất rơm xuống làm thành một chỗ trú ẩn ấm áp và an toàn. Cái chính là phải an toàn. Giếng được xây bằng đá tảng, sâu ba mét, thành cao nửa mét. Tôi kiếm được một tấm ván dày và nặng dùng để đậy nắp giếng, tránh mưa gió. Rồi tôi thắp đèn, xem xét hang ổ của mình. Nói chung là hơi tối và hơi chật nhưng cũng vừa vặn với thân hình lép kẹp của tôi. Rồi tôi đục mấy cái lỗ ở thành giếng để quan sát tình hình. Phải đề phòng mới được. Nếu có kẻ thù vây khốn, tôi có thể nhìn thấy, chờ nó đến lật nắp ván tôi sẽ đâm nó một nhát chí mạng chết tươi. Nhưng tôi cũng chuẩn bị thêm được một ít đá để ném, một ít chai lọ vỡ để cào, và chút ít cỏ dại trái cây để ăn. Dần dần tôi yêu thích chốn trú ẩn của mình và nghĩ đến việc đào rộng thêm ra. Dùng một cái xẻng mà tôi vừa ăn cắp được (chứ bản thân tôi thì có gì đâu), tôi đào sâu vào thành giếng, mở ra một ngách thoát. Rồi từ ngách này, tôi đào thành một căn phòng nhỏ. Cứ như thế, tôi đào được ba phòng. Một phòng khách, một phòng ngủ và một phòng vệ sinh. Hợp lý quá rồi còn gì. Vì tôi không có bạn bè gì cả (ai dám có bạn bè gì ở thời khốn nạn này. Mấy lần tôi lầm lỡ trút bầu tâm sự với mấy kẻ giả danh tình bạn, tôi đều bị tố với công an và nhận vài trận đòn chí tử. Trên người tôi, những vết sẹo của trận đòn thù không bao giờ lành. Cứ rướm máu mãi. Từ đó, tôi trốn chạy con người. Dù thế, đôi lúc nhìn thấy mấy em gái dễ thương, tôi cũng thèm nhỏ dãi nhưng ai chịu làm bạn với một con người bệnh tật và máu me đầy người như tôi?), nên phòng khách cũng đồng thời là phòng ăn. Cỏ dại trái cây tôi chất ở đó. Nước uống thì có sẵn. Tôi đào một lỗ nhỏ ở đáy giếng xuống sâu nửa mét là có nước uống rồi. Thế là ta đã có một giang sơn. Tôi mỉm cười khoan khoái. Không có một thằng người khốn nạn nào có thể đến đây được. Ơû đây, lũ chuột rất nhiều, rúc rích suốt ngày đêm. Tôi làm bạn với lũ chuột và giảng kinh Phật cho chúng nó nghe. Thế là lũ chuột chuyển hướng ăn chay, sang làm loài chuột ăn cỏ. Có mấy con siêng năng tu tập nên đã đắc quả A la Hán nữa chứ. Tự nhiên tôi là giáo chủ của lũ chuột ngô nghê.
Ở giếng sâu, điều tôi thích nhất là quan sát được hết động tĩnh của lũ người trần gian qua những khe ở thành giếng. Nhưng loài người lại không biết đến sự hiện diện của tôi. Thế mới hay chứ.
Tôi vẫn sống ở đáy giếng từ đó đến giờ. Nếu bạn đi ngang qua một cái giếng bỏ hoang, hãy biết rằng có tôi ở trong đó nhé. Nhưng đừng có ghé vào thăm tôi làm gì. Tôi sống một mình đã quen. Hơn thế, tôi đã chán loài người lắm rồi.
KIẾM TÌM
A đang kiếm tìm phòng học. Hôm nay, nó đi trễ có mười phút mà phòng học đã biến mất nơi đâu. A chạy lên chạy xuống chạy qua chạy lại suốt năm tầng lầu mệt bở hơi tai. Thoáng thấy mấy đứa bạn nói cười nơi ghế đá sân trường, A chạy hộc tốc xuống hỏi chúng nó phòng học. Nhưng khi đến nơi, chúng nó lại đi đâu mất. Một cách vô tình mà ai cũng rời bỏ ta. Chỉ trễ vài phút thôi, ta không bao giờ còn nhập cuộc được nữa.
Sanya
30-01-2006, 10:54 AM
Cái kén đỏ
Lời người dịch: “Cái kén đỏ” gồm có 4 truyện ngắn. Abe Kobo cho in 3 truyện đầu (truyện thứ 4 được viết thêm về sau) trong tạp chí Con người (Ningen) số tháng 12 năm 1950. Tác phẩm đã nhận được Giải thưởng Văn học Hậu chiến (Sengo Bungaku Sho) của Nhật Bản.
Abe Kobo (1924-1993), nhà văn có tiếng tăm trên thế giới, là một trong những nhà văn ở đỉnh cao nhất trong văn chương Nhật Bản hiện đại. Ngoài viết văn, ông còn là kịch tác gia, đạo diễn phim và nhà ngôn ngữ học. Sinh ra ở Tokyo, lớn lên ở Mãn Châu, sau đó về Nhật theo học và tốt nghiệp y khoa, đại học Tokyo.
Abe Kobo bắt đầu nghiệp văn với tác phẩm Bảng hướng dẫn của con đường cùng (Owarishi michi no shirube ni, 1948). Năm 1951, Abe Kobo nhận giải thưởng Akutagawa (giải thưởng văn chương có giá trị nhất ở Nhật Bản) với tác phẩm Bức tường - Tội của S. Karuma (Kabe S. Karuma shi no hanzai). Năm 1962 với tác phẩm Người đàn bà trong lũng cát (Suna no onna) ông lại nhận được giải thưởng “văn học ngoại quốc ưu tú nhất” ở Pháp. Tác phẩm này đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng (Anh, Pháp, Nga... ể cả tiếng Việt) và đã làm Abe Kobo nổi danh trên thế giới.
Văn của Abe Kobo độc đáo, không nằm trong dòng chảy văn học truyền thống nên đôi lúc có vẻ khó hiểu nhưng lại có giá trị cao về mặt nghệ thuật. Những tác phẩm kiểu Abe có lẽ còn lạ đối với Việt Nam ta. Vì thế lâu nay, dịch giả vẫn hằng mong ước có dịp giới thiệu cùng bạn đọc VN dòng nghệ thuật này.
Tác phẩm được dịch dưới đây là một trong những tác phẩm đầu tay của Abe, thường được giới thiệu trong sách giáo khoa ở trung học phổ thông Nhật Bản.
Cái kén đỏ
Abe, Kobo
Sanya
30-01-2006, 10:55 AM
Trời sắp tối. Tuy đây là lúc người ta nhanh chân về tổ ngủ, nhưng lại không có nhà để cho tôi đi về. Tôi tiếp tục chầm chậm bước đi trong những kẽ hở hẹp giữa nhà này với nhà kia. Giữa thành phố, nhà cửa san sát như thế này nhưng tại sao không có một ngôi nhà nào là nhà của tôi?.. Tôi cứ lặp đi lặp lại cái nghi vấn này cả vạn lần.
Đứng dựa cột điện đái, thấy ở đó lâu lâu lại có đầu đứt của sợi dây thừng rớt xuống, tôi muốn quấn nó vào cổ tôi cho rồi. Dây thừng liếc nhìn chòng chọc vào cổ tôi, thôi anh bạn ơi, đi nghỉ đi. Tôi cũng muốn nghỉ, hoàn toàn muốn nghỉ. Nhưng không thể nào nghỉ được. Tôi không phải là anh bạn của dây thừng, đã vậy tôi lại không thể biết được lý do thỏa đáng của việc tại sao không có cái nhà nào là nhà của tôi.
Tối mỗi ngày mỗi đến. Tối đến thì phải nghỉ chớ. Để nghỉ, cần phải có nhà. Thế thì không có một lý do nào không có cái nhà nào là nhà của tôi.
Bất chợt tôi thoáng nghĩ: Có lẽ tôi đã nhầm lẫn một điều gì đó thật quan trọng. Không phải là không có nhà mà chỉ vì quên mất đi rồi. Ừ. Có thể có chuyện đó chứ. Tỉ dụ như là… Bỗng tôi dừng chân trước một căn nhà vừa mới đi qua, đây là ngôi nhà của tôi cũng chẳng biết chừng. Dĩ nhiên so với những ngôi nhà khác thì không có một đặc điểm nào cho thấy có thể như vậy, nhưng điều đó cũng có thể đúng cho bất cứ ngôi nhà nào, vả lại đó cũng không phải là bằng chứng để phủ định ngôi nhà đó là của tôi. Lấy hết can đảm, ờ, gõ cửa đi.
May mắn quá, nụ cười có vẻ tử tế của một người đàn bà ló ra từ cánh cửa sổ nửa mở nửa khép. Làn gió hi vọng thổi sát trái tim, cho nên tim tôi dãn rộng bằng phẳng ra thành lá cờ bay phất phới. Tôi cũng cười rồi nhẹ chào như một người lịch thiệp.
- Xin lỗi cho tôi hỏi thăm. Có phải đây là nhà của tôi không?
Gương mặt của người đàn bà bỗng đanh lại.
- Hả. Ông là ai vậy?
Tôi định cắt nghĩa nhưng bỗng nhiên nghẹn lời. Không biết phải cắt nghĩa như thế nào đây. Tôi là ai chuyện đó không thành vấn đề ở đây, nhưng làm sao cho bà ta hiểu được. Tôi hơi gắt.
- Sao cũng được. Nếu bà nghĩ đây không phải là nhà của tôi, xin chứng minh điều đó cho tôi.
- Hư…ừ.
Mặt của người đàn bà tỏ vẻ sợ sệt. Điều đó làm cho tôi bực mình.
- Nếu không có bằng chứng, tôi nghĩ đây là nhà của tôi cũng được chứ.
- Nhưng đây là nhà của tôi.
- Sao lại nói như vậy. Nó là nhà của bà, nhưng không nhất thiết không phải là nhà của tôi. Đúng không?
Thay vì trả lời, gương mặt của người đàn bà biến ra thành bức tường, chận kín cửa lại. Ô...i, đây là thực thể của cái gọi là nụ cười của đàn bà đấy à. Là đồ của ai đó sẽ là lý do không phải là đồ của tôi. Cái biến hình hằng ngày này đã giúp cho cái lý luận chẳng ra gì đó trở thành một thực thể.
Nhưng , tại sao… tất cả đều là đồ của ai đó, mà không phải là đồ của tôi? Không, dẫu không phải là đồ của tôi đi nữa, ít nhất cũng có một cái không phải là đồ của bất cứ ai, chuyện này cũng có được chứ. Đôi lúc tôi có ảo tưởng. Tưởng rằng ống cống ở chỗ thi công hoặc ở nhà kho là nhà của tôi. Nhưng những vật này dần dần trở thành đồ vật của ai đó rồi, cuối cùng để trở thành đồ vật của người ta, những thứ này biến mất đi từ những nơi đó, như không có liên quan gì đến ý chí và quan tâm của tôi. Hoặc là, rõ ràng nó đã biến thành thứ không phải là nhà của tôi mất rồi.
Vậy, băng ghế ở công viên thì sao? Dĩ nhiên được lắm chứ. Nếu nó thật sự là nhà của tôi, chỉ cần không có cái thằng đem gậy đến đuổi tôi đi… đúng ở đây là chỗ của mọi người, không phải là chỗ của riêng ai. Nhưng thằng đó sẽ nói.
- Nè. Thức dậy. Đây là chỗ của mọi người, không phải là chỗ của riêng ai. Tỉ dụ như đây là chỗ của ai đó đi nữa, nhất định cũng không phải là chỗ của mày. Nè, mau đi chỗ khác đi. Nếu mày không chịu, tao sẽ bắt mày chui qua cửa pháp luật đến cái phòng dưới hầm kia. Nếu mày dừng chân ở bất cứ chỗ nào ngoài chỗ đó, mày sẽ bị coi là phạm tội.
Chuyện người Do Thái phiêu bạt, biết đâu chẳng là chuyện của tôi?
Chiều tối dần. Tôi vẫn tiếp tục đi.
Căn nhà… không biến mất, không biến hình, những ngôi nhà im lìm dựng trên mặt đất. Kẽ hở ở giữa tiếp tục thay đổi, không một cái nào có một gương mặt nhất định… con đường. Con đường lượn như dây thắt lưng trong những ngày có gió, con đường chỉ còn bề ngang của lằn xe mòn trong những ngày có tuyết, con đường sổ lông như bút chữ tàu trong những ngày có mưa. Tôi tiếp tục đi. Không hiểu được lý do tại sao không có cái nhà nào là nhà của tôi, cho nên con đường cũng thờ ơ lãnh đạm.
Hả, ai vậy. Ai quấn lấy chân tôi vậy? Nếu là vòng dây thắt cổ, sao mà hấp tấp quá vậy, sao mà thúc giục quá vậy. Không, không phải vậy. Đây là sợi chỉ lụa dễ dính. Bốc lên, kéo ra, đầu chỉ ở trong chỗ lủng của chiếc giày, dãn dài ra bao nhiêu cũng được. Cái này kỳ thật. Vì lòng hiếu kỳ, hai tay tôi cứ tiếp tục luân phiên kéo sợi chỉ, một chuyện kỳ dị hơn nữa đã xảy ra. Lần lần thân thể tôi nghiêng ra, tôi không thể giữ thân mình thẳng góc với mặt đất được nữa. Trục của trái đất bị nghiêng, hướng của sức hút bị thay đổi rồi sao?
Sợi chỉ và chiếc giày rời khỏi chân tôi, rớt xuống đất, tôi hiểu được sự thể. Không phải trục của trái đất bị cong quẹo, chân của tôi bị ngắn lại kia mà. Hai tay càng kéo sợi chỉ, chân tôi càng ngắn dần đi. Giống như góc áo nịt bị rách cứ sút chỉ dần ra, chân tôi cũng bị sút chỉ. Những sợi chỉ đó là đồ phân tán của bàn chân tôi, giống như những sợi chỉ mướp.
Thôi, không còn bước thêm được một bước nào nữa. Đứng một hồi lâu không biết phải làm sao, giống như vậy, trong bàn tay cũng không biết phải làm sao của tôi, cái chân đã biến thành chỉ lụa, một mình nó bắt đầu rục rịch. Nó bò ra trơn tuột, rồi từ đó nó không cần mượn lấy tay tôi, tự nó tháo ra, nó bắt đầu quấn chung quanh thân tôi như con rắn. Tháo hết chân trái, sợi chỉ tự nhiên đổi sang chân phải. Sau cùng sợi chỉ đã bọc toàn thân tôi như một cái bao, nhưng dẫu vậy nó cũng vẫn không ngừng tháo, từ lưng đến ngực, từ ngực lên vai và cứ tiếp tục tháo, tháo rồi đắp lên bên trong cái bao. Như thế, rốt cuộc tôi đã biến mất.
Sau đó chỉ còn lại một cái kén to lớn trống không.
Ờ, như vầy, mãi mới được nghỉ ngơi. Mặt trời chiều nhuộm đỏ cái kén. Đây đúng nó là cái nhà của tôi, không còn ai ngăn cản tôi được nữa. Có được cái nhà, nhưng lần này không còn có tôi để đi về nhà.
Trong cái kén, thời gian không còn nữa. Ngoài trời tối nhưng trong cái kén lúc nào cũng là hoàng hôn, màu hoàng hôn từ bên trong chiếu lên đỏ rực. Đặc điểm nổi bật này chắc chắn đã đập vào mắt ai đó. Hắn sẽ tìm thấy tôi, bây giờ đã trở thành cái kén, ở kẽ hở giữa cổng xe lửa và đường rầy. Ban đầu hắn thấy bực mình nhưng liền nghĩ lại rằng đã lượm được một đồ lạ, hắn bỏ vô túi. Lục xục trong túi một hồi lâu, hắn về nhà bỏ vô hộp đồ chơi của con mình.
Lê Ngọc Thảo dịch từ nguyên tác tiếng Nhật
Nguồn: Tạp chí Ningen tháng 12 năm 1950 (năm Shôwa 25)
tranminh
01-02-2006, 10:44 AM
tuy là truyện rất ngắn, nhưng hay lắm, có một số truyện, anh chưa hiểu hết, chắc phải nghiền ngẫm thêm vài lần, cám ơn Sanya nhiều nhé :-)
Powered by vBulletin® Version 4.1.8 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.